Vinh Quang của sự Phi Lý (33)

Khởi đầu của tình bạn lạ lùng giữa chúng tôi có lẽ cần phải được kể lại từ một buổi chiều thứ năm trong mùa mưa nhiệt đới và những ngày điên cuồng sau đó. Tôi đang ngồi trong phòng đợi của khách sạn Constellation sắp xếp lại giấy tờ. Để tránh mưa hắt vào, Maurice đã đóng chặt cánh cửa sổ trông ra phía đường Samsenthai. Bỗng nhiên, xoảng … đùng … đoàng … một khối lạ phóng qua cửa ra vào làm vỡ tan cửa kính và khung cửa sổ. Té ra là cả một chiếc Harley Davidson bay vào phòng, trên yên là một phụ nữ mặc đồ da trông giống như một khúc dồi huyết tròn trịa boudin noir.

Cô ta đạp thắng ngay trước quầy rượu và hét lên, “Maurice, đưa tôi ly Patis! Nào!” Hoàn toàn dửng dưng với điếu thuốc Gitane vẫn lủng lẳng trên môi dưới, Maurice đưa cho cô ly rượu mạnh khai vị. Trong lúc cô đang uống, tôi nhận thấy một hình xăm kỳ lạ trên phần đỉnh tay trái của cô. Sau đó thì cô đạp số de, một tính năng duy nhất chỉ có ở xe mô tô Harley Davidson, lùi xe ra khỏi quầy rượu, cán các mảnh kính vỡ dưới bánh xe và chiếc xe gầm lên phóng vào cơn mưa nhiệt đới.

“Trời đất ơi, Maurice, chuyện gì xảy ra vậy?” Tôi hỏi.

“Mee đó mà,” anh nhún vai trả lời, “cô ta đến đây mỗi chiều thứ năm để uống Patis khi ở trong vùng. Tôi quên mất hôm nay là thứ năm.”

“Thế còn?”

“Còn cái gì?”

“Cái cửa vỡ thì sao?” Tôi muốn biết.

“Ồ, cái vụ đó! Cô ta sẽ cho người đến sửa chữa và dọn dẹp ngay sáng mai mà. Chắc tôi hạ cánh cửa sắt xuống bây giờ và đóng cửa tiệm thôi. Trời mưa như thế này sẽ không còn khách đâu. Đi vào phòng bên trong ăn cơm tối với tôi đi.”

“Mee là ai vậy?” Tôi hỏi Maurice lúc chúng tôi đang dùng bữa cơm tối.

“Một phụ nữ lạ lùng, thật là giàu, giàu lắm mà mới chỉ hơn 30 tuổi. Cô ta trước kia làm nghề giao thuốc phiện, nay đã thôi rồi! Cho tới năm ngoái cô có một chiếc xe vận tải lớn và thường xuyên từ chợ thuốc phiện từ Tam Giác Vàng (vùng trồng cây thuốc phiện trong khu vực ba biên giới Thái Lào Miến Điện) vượt qua Lào và đường mòn Hồ Chí Minh đến Nam Việt Nam và ngược lại.”

“Cô ta không bao giờ bị bắt sao?” Tôi truy hỏi.

“Chắc là có bị rồi nhưng biết cách hối lộ các quan chức. Cô mời họ lên trên xe tải và thuyết phục họ cái mùi đó không phải là thuốc phiện,” Maurice nói với vẻ mặt lạnh như tiền.

“Nhưng thuốc phiện bốc mùi hôi lắm, làm sao mà họ không nhận ra?”

“Anh bạn tôi ơi, anh không thấy cô ta rất đẹp à?”

“Thấy chứ, Maurice, vậy tôi sẽ có mặt tại đây thứ năm tuần sau nhé.”

“Tôi sẽ để cửa mở, dù mưa hay nắng.”

“Một điều nữa, Maurice,” Tôi tiếp. “Cái hình xăm lạ lùng bên tay trái của cô ta là hình gì vậy?”

“À đó là dấu hiệu của bộ lạc Akha. Cô ta thuộc bộ lạc hung dữ đó, một dân tộc miền núi sống trong khu Tam Giác Vàng, mặc dù mẹ cô là người Mèo, còn gọi là H’mông nữa. Hầu hết người Akha mù chữ, Mee cũng vậy.”

“Nhưng Maurice, Tôi thấy cô ta nói tiếng Pháp với anh mà!”

“Đúng vậy, cô ta nói được tiếng Pháp và một tác ngôn ngữ khác, kể cả tiếng Đức. Cô thích người Đức lắm và đã từng nằm trong vòng tay một vài anh lính lê dương thời trước. Tuy nhiên cô không biết đọc hay viết một ngôn ngữ nào cả, đó không phải là cách giáo dục của người Akha. Dù vậy cô ấy rất thông minh. Như anh thấy đó, cô ta khá cao lớn đối với một phụ nữ bộ lạc miền núi.”

“Giống như vua Charlemagne. Ông ta biết nhiều thứ tiếng nhưng thất học, có chí lớn, thông minh và rất cao lớn” tôi châm thêm.

Maurice phá lên cười: “Chúc mừng! Charlemagne! Anh mới đặt một biệt danh chính xác cho cái cô kiêu ngạo này! Vừa nói, Maurice vừa mở thêm một chai Beaujolais. Ông chủ khách sạn người Pháp Hoa tại Lào và vị khách người Đức kết thúc buổi tối bằng cách nâng cao ly rượu để vinh danh vị hoàng đế Pháp của thế kỷ thứ 9.

Thứ năm tuần sau đó, cửa để mở. Tôi ngồi tại quầy vào giờ uống rượu. Mee lái xe Harley vào thẳng phòng đậu bên cạnh tôi, để máy nổ và gọi rượu: “Maurice, đưa tôi ly Pastis! Nào!” M  Nhận thấy tôi, cô hỏi bằng tiếng Pháp:

“Anh là ai vậy?”

“Một ký giả Đức,” tôi trả lời cũng bằng tiếng Pháp.

“Warum sitzen Sie dann hier herum statt sich auf dem Lande um zu sehen, wo viel passiert?” Cô nói với tôi bằng tiếng Đức, có nghĩa là: Tại sao anh lại ngồi đây thay vì đi dạo quanh vùng đồng quê, nơi có nhiều chuyện xảy ra hơn?

“Để gặp cô, Mee. Tôi thấy cô làm sập cả cánh cửa tuần trước.”

“À ra thế, đàn áp. Khá hung bạo, phải không. Sáng mai 7 giờ sẵn sàng tại đây. Tôi sẽ đón đi chơi một vòng.”

Nói xong, Mee de xe và rời khỏi quán.

Đúng giờ như người Phổ, Mee có mặt tại quán Constellation vào lúc 7 giờ sáng và bảo tôi ngồi lên đằng sau. Lúc chúng tôi rồ xe về hướng Đông Bắc, tôi bám chặt vào thắt lưng áo da của cô, thưởng thức mùi tóc đuôi ngựa đập vào mặt tôi. Rõ ràng là nàng đã gội mái tóc dài sáng hôm đó bằng một loại dầu gội đầu rất mắc tiền của Pháp.

Chuyện gì xảy ra trong chuyến đi hoang dã hai ngày sau đó là một câu chuyện khác cho một lần sau, ngoại trừ tôi có thể nói là chúng tôi đã đi thăm các khu vực miền Đông nước Lào bị kiểm soát bởi ba đạo quân kình địch lẫn nhau: phe hoàng gia, phe trung lập và cộng sản Pathet Lào. Cả ba nhóm đều hoan ngênh Mee, người mà họ biết tường tận, và cũng chấp nhận tôi bởi vì nàng giới thiệu tôi không phải là một phóng viên mà là người tình của nàng từ châu Âu qua. Sự thật tôi không phải và cũng không bao giờ là như vậy. Tuy nhiên đó là một điều nói dối có lý. Đến chốt của Pathet Lào, chúng tôi được cảnh báo không nên đi sâu thêm vì sợ có thể rơi vào tay Bắc Việt. “Bọn Bắc Việt chẳng tử tế đâu,” tay sĩ quan Pathet Lào nói với Mee, vừa liếc mắt đưa tình vào những đường cong bên trong bộ đồ da của nàng.

“Trời tối rồi, Mee ơi,” tôi nói trên đường về.

“Anh nói đúng. Về lại Vientiane tối nay khá nguy hiểm,” nàng đáp lại.

“Vậy thì chúng ta ngủ ở ở đâu bây giờ?”

“Ngoài máy hiên căn nhà sàn kia kìa.”

“Cô có quen chủ nhà không?” Tôi hỏi.

“Không. Chúng ta cứ việc đến đó và mở túi ngủ ra. Các máy hiên để dùng vào chuyện đó. Lòng hiếu khách đối với khách lạ là một truyền thống ở Lào.”

Do đó chúng tôi dừng lại tại trang trại. Mee yêu cầu tôi giúp mang cái túi vải thô, hai cái túi ngủ, chăn mỏng và mùng. Một cụ bà ra đó và mang cho chúng tôi hai bát cơm gà và một bình nước trà, cũng để dùng súc miệng sau khi ăn xong.

Mee có mang theo hai hộp thiếc Beaujolais để uống kèm theo bữa ăn. Trước khi cởi bộ đồ da để chui vào tấm chăn, nàng lục túi vải thô lần nữa lấy ra hai khẩu súng lục Colt 0,45 và đưa cho tôi một khẩu. “Có một cái này bên cạnh lúc ngủ luôn luôn là điều tốt, trong mọi trường hợp mình phải đón khách bất chợt đêm nay,” nàng nói, ném về phía tôi một cái hôn gió và thiếp đi luôn.

Chúng tôi đến khu trại có tường bao quanh của Mee trong trung tâm Vientiane khoảng giữa trưa hôm sau. Trong sân tôi thấy một chiếc Jaguar loại E và một chiếc Mercedes 280 màu đen mới tinh. Mee dắt tôi đến một căn phòng tắm thật sang trọng để đi tắm, một người hầu mang lại cho tôi một cái áo sơ mi và quần lót mới.

Khi tôi trở ra, nàng đã thay vào một cái áo và quần Jeans giản dị. “Anh ở lại dùng cơm trưa nhé,” nàng vừa nói vừa đưa tôi đến một phòng ăn rộng nhưng trang trí đơn sơ và điều đặc biệt đáng nhớ nhất là cái sàn lót gạch màu đen. Trong bữa ăn trưa ngon kiểu Pháp được dọn lên bởi một người quản gia mặc đồng phục, nàng hỏi tôi thẳng thừng:

“Anh nghĩ sao về một đứa bé mang các dòng máu Akha-Mèo-Đức?”

“Chắc là xinh xắn lắm,” tôi đáp lại.

“Chúng ta có thể có một đứa, em mới ba mươi lăm tuổi và rất muốn có con. Anh có muốn cưới em không?”

“Nhưng Mee, anh đã có vợ, hạnh phúc và anh thương vợ anh rất nhiều.”

“Điều ấy có thể được giải quyết bằng một hay hai cái thứ kia,” nàng lạnh lùng nói, tay chỉ vào những miếng gạch lót sàn nhà.

“Trời đất, bộ xúi anh giết vợ bằng gạch lót nhà hả?”

“Không,không, không bao giờ! Mua đứt cô ấy! Những miếng gạch lót sàn này là bằng vàng ròng đấy. Em từng buôn vàng mà, anh biết đấy. Đây là kho tiết kiệm của em,” nàng trả lời, chỉ tay vòng tròn ra dấu là cả cái sàn nhà được bao phủ bởi loài quý kim đó.

Tôi tự nhủ, tại Á châu nói không ngay lập tức không những là một điều xấu mà còn có thể nguy hiểm nữa, nhất là đối với một con người có bản chất hung dữ như Mee. Vì vậy tôi tìm cách lãng tránh: “Anh phải bàn chuyện này với Gillian đã.”

“Ừ anh làm vậy đi, anh bạn thân mến của em,” nàng mỉm cười trả lời tôi. “Tài xế em sẽ đưa anh về khách sạn Constelltion ngay bây giờ.”

Khi tôi kể lại với Gillian biến cố này, vợ tôi tuyên bố một câu mà tôi hy vọng là câu nói đùa: “Đáng lẽ anh phải nhận lời mới phải. Thử nghĩ xem, hai cục vàng khối! Bọn mình có thể li dị nhưng vẫn làm tình nhân thì đã sao.”

Rốt cuộc thì chúng tôi vẫn ở với nhau và tôi thì có thêm một người bạn tốt ở Lào. Chúng tôi gặp nhau mỗi lần tôi ghé Vientiane, nhưng vụ một đứa bé mang ba dòng máu Akha, Mèo và Đức không bao giờ được nhắc lại nữa. Tôi nghĩ đến giai đoạn kỳ thú đó trong cuộc đời với một nụ cười thú vị lúc đang sửa soạn cho một buổi tiệc có món bồ câu với Mee trong ngày 27 tháng 1 năm 1968, cái ngày mà lệnh đừng bắn tại Sài Gòn bắt đầu có hiệu lực. Bây giờ hồi tưởng lại, đó chính là cái ngày mà sự nghiệp phóng viên của tôi được cứu vãn.

Mee đến khách sạn Constellation trong chiếc Jaguar loại E, lộng lẫy trong chiếc váy trắng có chấm polka màu xanh mà nàng mới mua trong một chuyến “làm ăn” tại Bangkok, điều mà nàng kể với tôi lúc đang thưởng thức ly Pastis.

“Em không ngờ anh lại ở đây trong lúc này trong năm,” nàng nói, “anh là phóng viên, đáng lẽ anh phải ở Sài Gòn ăn tết chứ?”

Tôi kể với nàng những gì tin tình báo Mỹ đã nói với tôi. Nàng thở dài, thật là đáng sợ khi biết người Mỹ sẽ bị bối rối như thế nào. Điều này cũng đáng lo cho những ai trong chúng ta không muốn sống dưới chế độ cộng sản. Tin tình báo của em cho biết sắp có chuyện kinh hoàng xảy ra tại Việt Nam vào dịp Tết. Em có ý kiến này: Anh kiểm tra với người Pháp ở Pakson đi. Đi ngay ngày mai đi. Em sẽ báo trước để giới thiệu anh với tay sĩ quan chỉ huy.

Pakson là thủ đô cà phê của Lào trên cao nguyên Bolaven của “cán chảo” Lào. Nhờ khí hậu mát mẻ, phái bộ quân sự Pháp cố vấn cho Quân đội Hoàng gia Lào đã thành lập một khu nghỉ phép và phục hồi sức khỏe cho các sĩ quan của họ tại đây. Sau này tôi khám phá ra đây cũng là một trạm nghe ngóng quan trọng của Pháp vì nó nằm cạnh đường mòn Hồ Chí Minh, và các nhánh phía tây xa nhất chỉ cách trung tâm nghỉ mát của người Pháp có 40 dặm.

Sau bữa cơm chiều, Mee gọi lên Pakson và bảo tôi, “ông thiếu tá chờ anh ngày mai để ăn trưa với ông ấy. Sáng sớm mai em sẽ lại đưa anh đến phi trường Vientiane. Anh bay đến Paksé, thuê một chiếc xe tại phi trường và lái khoảng năm mươi cây số về hướng đông. Đường đi dễ thôi.”

Buổi sáng tại phi trường Vientiane, nàng ôm tôi từ giã nói, “em nghĩ anh phải có mặt tại Sài Gòn ngay bây giờ. Đến Pakson gọi em ngay khi biết thêm tin tức gì.”

Tôi không nhớ tên ông thiếu tá người Pháp. Ông trình bày cho tôi rất chi tiết về đường mòn Hồ Chí Minh và cho tôi một căn phòng nằm trên cổng của trung tâm. Giữa đêm tôi tỉnh dậy nghe thấy có người nói chuyện bằng tiếng Việt dưới cửa sổ phòng tôi. Một giọng nói là của chị quản gia trung tâm và giọng kia là của một người đàn ông nghe ghê tai và hết sức khó chịu.

Tôi nghe thấy hắn nói “Mỹ Mỹ” nhiều lần và chị quản gia thì trả lời “báo chí Đức”. Cả hai cải vã một hồi, rõ ràng là nói về tôi và tôi lại ngủ thiếp đi.

Hôm sau lúc ăn sáng, viên thiếu tá nói với tôi: “Đêm qua chúng ta có khách.”

“Tôi biết, tôi có nghe hắn nói. Có vẻ như hắn là một tên Bắc Việt nói chuyện với chị quản gia về tôi”, tôi đáp.

“Đúng vậy, nói về anh và một số vấn đề khác tôi không tiện kể ra. Dĩ nhiên là tôi hoan nghênh anh muốn ở lại đây bao lâu cũng được nhưng nếu tôi là ký giả thì tôi phải bay ngay về Sài Gòn lập tức. Sắp có chuyện lớn rồi.”

Vào thời kỳ đó tôi đã ở chung quanh với quân sự và tình báo Pháp đủ lâu để hiểu ngay lời khuyên của viên thiếu tá mà không cần phải thắc mắc gì thêm nữa. Họ am tường xứ Đông Dương thuộc Pháp cũ này hơn ai hết.

Tôi gọi Mee để báo là tôi sẽ trở về Viên Chăn chiều hôm đó. “Em có quen ai tại tòa đại sứ Việt Nam không?”

“Quen tất cả mọi người. Anh cần gì?”

“Anh cần gia hạn chiếu kháng nhập cảnh mà anh sợ ngày mai tòa đại sứ đóng cửa nghỉ tết,” tôi nói.

“Đúng vậy. Họ sẽ đóng cửa nhưng không có vấn đề nào mà một tờ 100 đô la trong phong bì lì xì lại không giải quyết được. Em sẽ giúp anh. Anh chỉ cần đóng góp tờ 100 đô la mới thôi.”

Nàng đón tôi tại phi trường Vientiane, lái xe đưa tôi đến khách sạn Constellation, bảo tài xế sáng hôm sau đánh xe đến tư gia viên phó đại sứ để đưa ông đến văn phòng mà chúng tôi đã đợi sẵn trong chiếc Jaguar E với giấy thông hành của tôi và một phong bì có sẵn tờ 100 đô la trong đó.

Viên phó đại sứ thị thực chiếu kháng nhập cảnh cho tôi. Tôi chúc anh ta “chúc mừng năm mới”.

“Nhanh lên,” Mee nói, “chuyến máy bay Royal Air Lao đến Bangkok của anh sẽ rời phi trường khoảng hơn một tiếng đồng hồ nữa. Em đã mua sẵn vé Air Vietnam chuyến chót từ Bangkok đến Sài Gòn rồi. Vé đây này.”

Đến phi trường tôi gửi trả nàng tiền vé máy bay và ôm nàng vào lòng.

“Có lẽ em không nên làm điều này. Anh đang bay vào vùng địa ngục. Em không muốn anh bị mất mạng,” nàng nói với tôi trong một cơn xúc động bất thường.

Tôi hôn nàng và lên máy bay. Đến Bangkok tôi chạm trán một đồng nghiệp cùng toán là Friedhelm Kemna, đặc phái viên cho Die Welt nhưng không làm cho những tờ khác của nhóm Axel Springer, mặc dù chúng tôi thỉnh thoảng thay thế nhau khi một người trong chúng tôi đang làm công tác khác.

“Mày làm cái gì ở đây? Mày đáng lẽ phải ở Lào mà?” Anh hỏi.

“Bạn Pháp và Lào báo cho tao là sắp có chuyện lớn xảy ra ở Việt Nam. Còn mày thì sao? Tao tưởng mày phải thủ trại ở Hồng Kông chứ?”

Kemna là một gã độc thân khoảng 40 tuổi đã từng phục vụ với cấp bậc thiếu úy kỵ binh trong Thế chiến Thứ Hai. Hắn cười bẽn lẽn thú thật với tôi, “thỉnh thoảng tao nhớ đàn bà Âu quá. Pan America có mấy cô tiếp viên người Đức tuyệt đẹp và họ thường ở khách sạn Siam Intercontinental. Do đó tao đi chơi Banhkok một chuyến.”

“Và mày cũng đã được báo là sẽ có khủng hoảng lớn ở Sài Gòn?”

“Đúng vậy, tòa đại sứ Đức cho tao biết,” anh trả lời. “Vì vậy tao đã lấy vé máy bay đi Tân Sơn Nhứt vào chuyển cho hôm nay.”

Khi chúng tôi đến, hàng trăm ngàn người Việt đang ở ngoài đường phố. Chúng tôi được kể là khoảng nửa triệu người đã đổ ra đường để chào mừng buổi tối đầu tiên không có giới nghiêm. Tiếng pháo nổ đì đùng khi taxi đưa chúng tôi về khách sạn Continental.

Tôi quá mệt để đi ra ngoài ăn tối. Trong tiếng ồn của pháo nổ bên tai, tôi ngủ thiếp đi. Khi tôi thức dậy vài tiếng đồng hồ sau đó lúc nửa đêm, rõ ràng là các nguồn tin Mỹ đã tiên đoán trật lất còn Maurice, Mee và tay Thiếu tá người Pháp ở Pakson hoàn toàn đúng: không yên ổn chút nào trong dịp Tết 1968 tại Sài Gòn. Nhờ Maurice, Mee và tay thiếu tá Pháp mà tôi đã không phạm điều sai lầm lớn nhất là hụt mất cái biến cố Tổng Công Kích Tết Mậu Thân đang bắt đầu lúc tôi còn nằm trên giường đêm hôm đó tại Sài Gòn.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (32)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (34)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

 

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (33)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s