Vinh Quang của sự Phi Lý (32)

Chương 13

Khúc dạo đầu cho Tết Mậu Thân

Tết Mậu Thân 1968 sẽ được yên ổn, các nguồn tin ở Sài Gòn đã trấn an tôi khi liên lạc với họ trong thời gian nghỉ lễ Giáng Sinh ở căn nhà mới của tôi tại Hồng Kông. Họ nói rằng cả hai bên sẽ cam kết một lệnh ngừng bắn bảy ngày từ 27 tháng 1  đến ngày 3 tháng 2 để dân chúng Việt Nam ăn mừng ngày lễ đầu năm Mậu Thân. Thật là hay! Điều này cho phép tôi được vắng mặt nghỉ ngơi một chút ngoài Việt Nam và chuyển sự chú ý qua một vùng khác thuộc lãnh thổ tôi được phân nhiệm theo dõi. Nói cho cùng, các ông sếp cắt cử tôi là “phóng viên của vùng Viễn Đông,” có nghĩa là trên lý thuyết tôi phụ trách tường thuật hầu hết vùng châu Á, mặc dù những sự thay đổi thường xuyên về tình hình Việt Nam đã khiến tôi phải bỏ bê ngay cả những nước láng giềng của Việt Nam. Nay tôi đã có cơ hội để sửa chữa khiếm khuyết này.

Tôi quyết định đi Lào.

Tôi trông đợi kỳ đi này vì hy vọng sẽ chỉ là một chuyến đi thăm một địa bàn cách sôi động hơn. Không phải là đất “Vạn Tượng” không có cuộc chiến khó chịu của nó để mà làm ngơ không ngó ngàng gì đến. Tuy nhiên Lào là một chốn êm dịu, dễ chịu mặc dù hơi ngô nghê một chút, dân chúng thì ôn hòa không nóng nảy bằng, và theo tôi kém phức tạp hơn người Việt. Họ có một vị vua hiền hậu tên là Sri Savang Vatthana và tôi được nghe kể lại rằng ông thuộc lòng tất cả các tiểu thuyết của Marcel Proust. Vài năm sau, bọn cộng sản đã nhốt ông vua hiền lành này cùng với hoàng hậu, hoàng thái tử và các hoàng đệ khác vào trong địa ngục “Trại cải tạo số một”, nơi mà người ta cho là ông đã chết trong năm sau đó.

Xứ Lào cũng được trời phú cho rất nhiều sư trẻ vị thành niên, chắc chắn không phải thuộc thành phần cực đoan. Sau khi mặt trời lặn, họ thường lẻn vào đất chùa để hút thuốc lá và nhéo mông chọc ghẹo các bà khách người Âu. Tôi tin rằng điều này đã khiến nhiều bà cứ thích đi lang thang vào đất thánh lúc chiều tối mát mẻ.

Tôi có lời hỏi vị sư chủ trì của một ngôi chùa lớn ở Vientiane tại sao ông và hầu hết các sư chủ trì những ngôi chùa Lào khác phải mời các sư thầy từ Thái Lan qua. “Bởi vì, anh bạn trẻ à,” ông trả lời, “đất nước Lào dường như không đào tạo được những vị tăng uyên bác nghiêm trang.”

Đi đến xứ Lào đã là phân nửa của niềm vui rồi. Không phải đáp máy bay đến Vientiane đã tránh được cho tôi cái bực dọc đương nhiên phải có tại các phi trường trong thời chiến, vì mỗi lần bay đến Tân Sơn Nhất tại Sài Gòn luôn luôn là một cực hình. Thay vào đó, tôi đáp một chuyến tàu hỏa có toa phòng ngủ nhàn nhã từ Bangkok đến Nong Khai tại miền Đông Bắc Thái Lan. Vào thời kỳ đó chưa có cầu nối Nong Khai với Vientiane, thủ đô hành chánh của Lào trên bờ bên kia của sông Cửu Long. Do đó tôi phải qua biên giới thông qua một thủ tục thô bỉ một cách tức cười.

Sau khi đến ga Nong Khai vào buổi sáng sớm, tôi thuê hai chiếc xe lôi đạp, một cái cho bản thân tôi và cái kia cho hành lý. Chúng tôi lướt qua một nmhóm tu sĩ hành khất khoác cà sa màu vàng nghệ đến một tòa nhà tương tự như một nhà ga hàng không của các nước Phương Tây. Có đầy đủ phu khuân vác, khu vực nhập cư với một đội ngũ công chức mặc đồng phục rất nghiêm trang, lạnh lùng, lại có cả quầy bán vé đủ sức phục vụ cho hành khách máy bay Boeing 707. Tôi mua một tấm vé trong giống như vé hàng không, soát lại các va li và sang khu vực chờ đợi.

Cuối cùng thì chuyến phà khởi hành được thông báo. Tôi đi đến cổng và nhìn thấy gì bên ngoài? Những bậc thang gỗ ọp ẹp, lung lay và trơn ướt dẫn xuống một bến cảng bùn lầy để lên một con phà “quốc tế” mà người Thái và Lào đã xây lên những trạm tiếp đón đồ sộ hai bờ Nam Bắc của dòng Cửu Long. Chiếc tàu trông giống như đã được thiết kế bởi nhà biếm họa người Anh William Heath Robinson và chạy bằng một cỗ máy động cơ diesel bỏ đi của xe buýt Luân Đôn thời tiền chiến. Chiếc phà có vẻ bị rò rỉ một cách đáng ngại nhưng Eban, người khách đồng hành đã từng tốt nghiệp Ivy-League trấn an tôi là chuyến vượt sông chỉ mất mười lăm phút, quá ngắn để tàu có thể chìm.

“Tôi biết, tôi biết, Eban,” tôi nói, “trước đây tôi đã từng ngồi trên những quan tài nổi này rồi và tôi biết bơi. Tuy nhiên, tôi không muốn bị rắn nước có nọc độc cắn tôi.”

“Hay bị những con ‘cá đầu buồi’ đầy rẫy trong nước bùn ở đây ăn thịt,” anh tiếp lời. Cả hai chúng tôi cùng cười như những thằng khùng. Đêm hôm trước chúng tôi đã quá chén.

Tôi gặp Eban trong toa ăn của chuyến xe lửa, nơi có bán rượu whisky Thái, đúng hơn là rượu Mekong chỉ có 3 đô la một chai 0,7 lít. Eban đã từng là cố vấn về nông nghiệp cho nông dân Lào trước khi được thăng chức lên vị trí nhân viên cao cấp USAID đóng tại Phi Luật Tân. Nay anh ta lên tàu đi thanh tra nơi làm việc cũ của mình.

“Lúc tôi đóng tại Lào, công việc tôi là huấn luyện nông dân một vùng nào đó cách trồng hai vụ lúa trong một năm,” anh kể lại với một nụ cười tinh quái. “Điều này rốt cuộc là một công tác rất bực bội nhưng lại tức cười.”

“Tại sao lại bực bội?” Tôi hỏi.

“Thì thế này, năm ngoái khi tôi quay trở lại chỗ cũ, tôi thấy những người nông dân đang vui chơi hoặc ngủ trưa dưới bóng cây mát, trong khi đồng áng thì bỏ hoang.”

“Có vẻ là kiến thức về trồng trọt của anh không gây được sự chú ý đối với họ lắm,” tôi chọc anh.

“Ê, tôi gây chú ý lắm chứ,” Eban đáp lại. “Tôi lay ông trưởng làng thức dậy và hỏi ông: ‘Năm ngoái tôi đã chẳng dạy ông làm hai vụ mùa sao?’ Ông trưởng làng cười và nói thì đúng vậy và chúng tôi rất biết ơn ông. Chúng tôi đã làm hai vụ mùa năm ngoái rồi. Vậy năm nay chúng tôi không cần làm nữa.’ Nói xong ông ta lại quay ra ngủ tiếp.”

Eban và tôi chia tay nhau tại Vientiane. Vì là một công chức cao cấp, anh được ở tại Lan Xang, một khách sạn sạch sẽ theo kiểu Tây Phương bên bờ sông Cửu Long, nơi mà các viên chức Hoa Kỳ và chuyên gia báo chí thích trú ngụ vì nó được trang bị máy điều hòa không khí, một nhà bếp quốc tế và có cả hồ bơi.

Trong khi đó, tôi chọn khung cảnh kỳ bí của khách sạn Constellation trên con đường Samsenthai trong trung tâm bụi bặm của thành phố, nơi đặc trưng trong cuốn phim gián điệp nghẹt thở “Tên học trò đáng kính” (The honorable schoolboy) của John Le Carré. Căn phòng giá 25 đô la một đêm của tôi không có máy điều hòa không khí, chỉ có một cái quạt trần, một cái mùng trên giường, một vòi tắm nước lạnh, một bàn tiểu, cầu tiêu và một cửa sổ không trong ra sông Cửu Long mà hướng vào một cái ao vịt. Khách sạn Constellation giống như các quán trọ đơn giản ở đồng quê của Pháp, mà hầu hết buồn thay đã trở thành nạn nhân của nền văn minh. Nhà bếp của khách sạn Constellation tương tự như ngoại cảnh của nó: các loại đồ ăn chắc bụng kiểu Pháp kèm với rượu Beaujolais ướp lạnh trong hộp thiết nhưng luôn luôn được dọn ra với chỉ thị của ông chủ là người hầu phải có một cái khăn trắng tinh quàng quanh cổ tay phải.

“Chào mừng ông đã trở lại! Món ưa thích của ông có trong thực đơn ngày hôm nay,” Maurice Cavaliere, ông chủ Constellation nói khi xe taxi thả tôi xuống vào giờ ăn trưa, “chim bồ câu nấu đậu Hòa Lan! Tôi mua được chim bồ câu non hôm nay ngoài trời, tươi và ngon lắm!”

Maurice hút thuốc lá liền tay và là một trong những nhân vật tôi thích nhất trong cả vùng Đông Dương. Sinh ra tại Côn Minh, anh là con của một nhà thực vật học Pháp và một phụ nữ quý tộc người Hoa. Anh tốt nghiệp đại học nổi tiếng “Cao đẳng Thương mại” (École Supérieure de Commerce) tại Paris và còn hay hơn là một chủ khách sạn giỏi: anh cũng là một nguồn tin tức đáng tin cậy. Điều này có lý do của nó. Khách sạn Constellation là chỗ dừng chân của một đám người tạp nhạp nhất. Nơi đó có các gián điệp từ các nơi trên thế giới đến, kể cả một phụ nữ Trung Hoa quyến rũ trạc 40 tuổi mà những người khách quen của Maurice biết là bà ta làm việc cho chế độ Mao Trạch Đông trong cao điểm của cuộc cách mạng văn hóa vô sản vĩ đại. Các đồng nghiệp Pháp của bà báo cho tôi biết công việc của bà là mồi chài gián điệp, phi công Hoa Kỳ để thu lượm tin tình báo trong lúc làm tình với họ tại khách sạn Constellation, có thể ngay trong phòng ngủ bên cạnh phòng tôi.

Có cả cựu chiến binh Đức trong đoàn Lê Dương Pháp cũ với những công tác mờ ám. Có dân buôn lậu, cớm và nhiều phi công trong những nhiệm vụ hiểm nghèo. Trong hơn 24 hãng hàng không bay đi từ Lào chỉ có duy nhất hãng Royal Air Lao là thật sự chính thức. Hãng Air America được sở hữu và điều hành bởi CIA bay những phi vụ liều mạng nhất, kể cả dội bom đường mòn Hồ Chí Minh. Tôi có lần điên rồ để cho một chiếc trực thăng Air America thả xuống một căn cứ trên đỉnh núi của một bộ lạc liên minh với người Mỹ dưới hỏa lực nặng nề của đối phương. Thật ngạc nhiên là chiếc trực thăng đã trở lại sáng hôm sau, cũng bị hỏa lực địch vây hãm để mang tôi về lại Vientiane an toàn. Họ là những người quả cảm nhất mà tôi từng gặp. Và tôi đã diện kiến tất cả bọn họ ở quán bar của Maurice.

Ngoài ra có hơn 20 hãng hàng không thuê bao khác làm con thoi giữa Tam Giác Vàng trong vùng tam biên Thái Lào Miến Điện và Vientiane, Sài Gòn cùng các điểm xa hơn nữa. Có lần tôi làm phóng sự vụ đụng độ lạ lùng giữa một trong những chiếc máy bay thuê bao đó và Không quân Hoàng gia Anh Quốc (Royal Air Force) trên một hòn đảo ngoài Hồng Kông. RAF đã áp tải một chiếc máy bay lạ đáp xuống vùng mà hồi đó là thuộc địa của Vương quốc Anh. Chiếc máy bay đăng bộ kinh doanh tại Lào. Trong khoang tàu bay nhân viên Không Quân Anh tìm thấy một khối lượng vàng thật lớn dự định được thả xuống điểm hẹn ngoài khơi Hồng Kông và sẽ được thu hồi bởi một chiếc tàu buồm. Buôn lậu vàng là một hoạt động thương mại rất lớn ở Lào dạo đó và khi các thành viên tham gia cũng như các phi công uống rượu say rồi thì họ khai ra những câu chuyện hấp dẫn tại quán bar trong khách sạn Constellation của Maurice Cavaliere.

Maurice mang lại cho tôi một ly Pastis, một loại rượu thơm mùi hồi và khi hòa với nước thì biến thành màu đục. Pastis là một loại rượu khai vị rất thích hợp với vùng nhiệt đới.

“Tôi rất vui được thấy anh lại ở đây với chúng tôi lần nữa. Nhưng sao vậy? Đáng lẽ anh phải ở Sài Gòn chứ?” Anh hỏi.

“Thỉnh thoảng tôi cũng phải viết cái gì đó về những vùng khác trong địa bàn của tôi chứ, Maurice, và lần này cũng tốt như mọi lần thôi,” tôi nói. “Người Mỹ nói với tôi là chắc không có gì lộn xộn trong lần ngưng bắn này, bắt đầu từ ngày mai.”

“Vâng, nhưng tôi không chắc. Anh có tin vào nguồn tin của họ hay không? Chúng tôi có tin tình báo khác tại đây và có vẻ khá rắc rối đấy,” Maurice nói. “Tuy nhiên anh đối chiếu lại với Mee đi. Cô ấy thật sự biết rất nhiều. Tôi đã tự ý bảo với cô ta là anh đã đến đây rồi. Chiều nay ăn tối với cô ta nhé. Được chứ?”

“Được quá đi chứ, cảm ơn nhiều lắm!!”

“Món bồ câu quay cho hai người vậy,” Maurice cười khúc khích và quay sang tiếp những người khách khác trong quán bar.

Như thế, tôi sẽ tái ngộ với Mee, tốt lắm. Mee Không phải là tên thật của cô. Tôi chỉ chọn nó từ một danh sách tên của bộ lạc Akha để đặt danh hiệu cho mỹ nhân hung tợn này mà tôi có cơ hội làm quen một vài năm trước đó.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (31)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (33)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

 

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (32)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s