Vinh Quang của sự Phi Lý (31)

Trong thời gian bị cầm tù tại Bắc Việt, Monika Schwinn đã gặp hai nhân viên ngoại giao tòa đại sứ Đông Đức tại Hà Nội. Cuộc gặp gỡ thật là lạ lùng với đại diện của cái quốc gia vẫn luôn tuyên truyền điều dối trá chết người về vai trò chiến đấu của Tây Đức. Nói cho cùng, những điều láo khoét đó đã góp phần vào khổ nạn của cô, của cô cũng như của người tù nhân đồng hương Đức tên là Bernhard Diehl, đồng thời cũng đã dẫn đến cái chết của ba người thiện nguyện Hiệp Sĩ Malta khác đã gục ngã vì bệnh tật và suy dinh dưỡng khi bị giải đi trên con đường mòn Hồ Chí Minh.

Phóng viên AP Danielle Flood phỏng vấn Monika Schwinn
Phóng viên AP Danielle Flood phỏng vấn Monika Schwinn

Monika cảm thấy những tay ngoại giao này hết sức nhạt nhẽo. “Tư cách và lối nói chuyện của họ quá ấu trĩ làm tôi cảm thấy xấu hổ họ là người Đức,” cô viết cho Der Spiegel. Họ hoàn toàn vô tình trước vấn nạn của cô và không hứa giúp đỡ gì cả. “Thực chất là họ đến để thẩm vấn tôi.” Họ muốn biết là cha cô, đã chết trong thế chiến thứ hai, có phải từng là thành viên Nazi hay không và cấp bậc của ông là gì. Bọn họ còn thúc giục cô nên chấm dứt loạt tuyệt thực chống lại các điều kiện tồi tệ của nhà tù và bảo cô nên tỏ ra thông cảm với thái độ của bọn Bắc Việt: nói cho cùng, những thành viên người Đức trong đoàn lê dương Pháp đã giết dân vô tội ở đây. Hắn không quên đề cập có đến 1400 lính lê dương gốc Đức đã đào ngũ qua phía cộng sản Việt Minh và Hồ Chí Minh đã nhận hai người trong số này làm con nuôi: Walter Ullrich, sau đó trở thành một trung úy Việt Minh với tên Hồ Chí Long và Georg Wächter với tên Hồ Chí Thọ.

Khi Monika Schwinn trả lời lại là những khổ đau trên cuộc hành trình dài đã khiến cô không thể thông cảm nổi thì một tay ngoại giao Đông Đức mắng cô, “Vâng, lại Chúa tôi, họ làm sao có thể đón cô từ vùng Việt Cộng bằng xe hơi được!” Và trường hợp ba người đồng nghiệp đã bị thiệt mạng thì hắn nhún vai, “những chuyện khó chịu này vẫn thường xảy ra trong chiến tranh.”

Các nạn nhân bi thảm nhất của trò chơi Chiến Tranh Lạnh chết người giữa những người Đức với nhau tại Đông Nam Á hiển nhiên là người dân thường Nam Việt. Họ đã bị mất đi các bác sĩ và y tá để chăm sóc thương tích cho họ cũng như để bày tỏ tình thương với các trẻ mồ côi. Ngay sau khi Việt Cộng bắt cóc các nhân viên y tế của phòng khám Hiệp Sĩ Malta  tại An Hoà, chúng cố gắng tiến chiếm một căn cứ quân sự gần đó của Sư đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tôi đến An Hòa lúc tình hình chiến sự còn nóng bỏng.

“Anh là phóng viên người Đức?” Viên sĩ quan ban 2 (an ninh) của trung đoàn hỏi tôi. “Nếu vậy thì anh phải đến ngay bệnh xá của người Đức cách đây hai cây số ở cuối con lộ, phe anh đang gặp khó khăn đấy. Trên thực tế, chỉ còn một người thôi.”

Anh giao cho tôi một chiếc xe Jeep và một tài xế để đưa tôi đến một đống tro tàn mà mới đêm hôm trước còn là một trung tâm y tế nhỏ gọn. Bên ngoài có một đoàn dài dân thường Việt Nam đang chờ được nhập viện. Một số người bị cụt tay chân, một số khác bị thương tích trầm trọng trên đầu, có người bồng trên tay những đứa trẻ đã chết. Họ đều là nạn nhân thương vong sau cuộc tấn công của Cộng sản.

Bên trong có một bác sĩ trẻ người Đức đang làm việc điên cuồng để cứu mạng bệnh nhân. Trên một bàn mổ tự tạo tôi thấy có một phụ nữ bất tỉnh với bộ ruột bị đổ ra ngoài từ một vết thương lớn bên trái.

“Anh có phải là bác sĩ không?” Anh hỏi.

“Không, tôi là phóng viên.”

“Không sao, tôi cần trợ giúp ngay. Không còn ai ở đây để phụ tôi cả. Bọn Việt Cộng bắt cóc hết cả rồi. Đi rửa tay đằng kia kìa, đeo găng mổ vào và giúp tôi đi.”

Để có thể đưa bộ phận cơ thể của người phụ nữ vào lại, anh phải mổ toang bụng của nạn nhân ra. Sau đó anh cần thêm một đôi tay trợ lực để đẩy bộ ruột vào trong vết thương bụng bên trái. Đó là công việc của tôi.

Trong khi chúng tôi đang bận rộn với bệnh nhân đó thì một toán nhân viên y tế Thủy Quân Lục Chiến bước vào phòng. Họ vừa mới xong công việc chăm sóc thương binh của họ nên bây giờ sẵn sàng giúp anh bạn đồng nghiệp người Đức đã hoàn toàn kiệt sức.

Một phần tư thế kỷ sau, tôi tham dự một buổi họp sáng của một tờ nhật báo thuộc loại sáng giá ở Bá Linh nơi tôi làm việc với tư cách cố vấn về biên tập. Công việc của tôi là giúp các biên tập viên và nhà xuất bản nhằm canh tân cái ấn bản cổ hủ này, với hy vọng là nó sẽ trở thành tờ báo hay nhất của thủ đô một nước Đức thống nhất.

Sáng hôm đó cuộc thảo luận quay qua chủ đề tìm các câu chuyện tiêu biểu của nước Đông Đức ngày xưa.

Tôi có một ý kiến như sau, tôi nói, hay là chúng ta thực hiện một bài tường trình có chiều sâu về các nhà sản xuất mìn PPM-2 ở Đông Đức mà chứng tích là những nạn nhân tôi đã thấy đầy dẫy trên con lộ 19 tại Việt Nam? Hoặc chúng ta lục trong văn khố Đông Đức các tài liệu về công việc họ tuyên truyền cáo buộc Tây Đức đã đồng loã trong chiến tranh Việt Nam, và có thể đã gây ra cái chết của các bác sĩ và y tá của chúng ta ở Việt Nam?

Ồ, chắc là tôi đã dẫm vào một tổ ong vò vẽ khi đề nghị điều này! Chẳng thà tôi ca tụng Hitler cho rồi. Đây không hẳn là một tờ báo cánh tả nhưng một số biên tập viên trẻ tự mãn đã tỏ ra giận dữ đến nổi tôi phải tự hỏi không biết cộng sản Đông Đức có thật sự chết mất hay chưa. Cái ý thức hệ của phong trào sinh viên năm 1968 từng vinh danh Hồ Chí Minh đã bắt rễ quá sâu trong thế hệ tốt nghiệp đại học Đức này đến nổi tất cả các đề nghị về hành vi vô nhân đạo của phe cộng sản đều bị coi là dị giáo.

Tôi cũng không ngạc nhiên mấy là các biên tập viên lớn tuổi hơn, đáng lẽ phải biết rõ hơn, đã tỏ ra hờ hững không dám bênh vực tôi. Nhà thần học Lutheran Dietrich Bonhoeffer đã có lần phải than vãn về “sự khan hiếm của lòng can đảm dân sự” trong đất nước ông khi bọn Nazi nắm quyền hành. Trong buổi họp biên tập đó vào những năm đầu 1990, tôi cảm thấy sự thiếu sót này chắc chắn còn tồn tại ở một số nơi. Điều này được tính là một trong số những điều tôi khó chịu nhất đối với các đồng nghiệp Đức trong suốt cả sự nghiệp phóng viên của tôi.

Tối hôm đó, tôi trở về nhà với một khuôn mặt tái xann. Vợ tôi nói là chưa từng bao giờ thấy tôi trong tình trạng như vậy cả. Là một phụ nữ người Anh, nàng biết ngay cách chữa: một ly whisky không đá, một ly nữa và một ly thứ ba.

Say không còn biết trời đất gì nữa, tôi tung ra một câu mà tôi không bao giờ nghĩ là có thể nói ra được: “Gillian em ơi, có thể nào mà những người lầm lạc đã hợp nhất lại được với nhau một cách đúng đắn không?”

“Thôi anh ngủ đi, anh yêu, nàng nói, sáng ngày mai anh sẽ cảm thấy khá hơn.”

Và tôi đã làm như vậy. “Dĩ nhiên tôi không nghĩ là người Đức chúng tôi không xứng đáng để được thống nhất trong hòa bình,” tôi nói, “nhưng kể từ buổi họp sáng ngày hôm qua trong tòa soạn, tôi biết những gì có thể làm cho mọi người cảm thấy khác đi.”

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (30)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (32)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (31)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s