Con đường dẫn đến Tết Mậu Thân

George C. Herring

Trong ký ức đại chúng, cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam bắt đầu từ thời chính quyền của ông Kennedy. Thế nhưng nguồn gốc của nó sâu hơn thế nhiều; nó bắt đầu từ cuối Thế chiến II và cuộc cách mạng của Hồ Chí Minh chống lại chế độ thực dân Pháp.

Là một phần của – trong trường hợp này là sai lầm – chính sách ngăn chận Cộng sản trong Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ đã ủng hộ cuộc chiến tranh của Pháp chống lại Việt Minh do Cộng sản lãnh đạo, chi trả gần 80% chi phí vào năm 1953. Chiến tranh kết thúc năm 1954, Việt Nam bị chia cắt ở vĩ tuyến 17, cho đến khi cuộc tổng tuyển bầu cử sẽ được tiến hành trong vòng hai năm tiếp theo đó.

Cầu Hiền Lương 1961. Hình: Howard Sochurek
Cầu Hiền Lương 1961. Hình: Howard Sochurek

Sau chiến tranh, chính quyền Eisenhower ủng hộ tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm từ chối tổ chức tổng tuyển cử, điều đã gây ra cuộc nổi dậy mới của Việt Minh trước kia, sau này được gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng  (và đối với những kẻ thù của họ thì là Việt Cộng). Vào thời điểm đó, Cộng sản Bắc Việt đã trợ giúp người và vật liệu cho cuộc nổi dậy này.

Cuộc chiến lan rộng một cách đáng kể từ năm 1959 đến 1963, và sự tham gia của Hoa Kỳ cũng vậy.  Quyết tâm thống nhất đất nước dưới sự kiểm soát của mình, miền Bắc Việt Nam gia tăng thâm nhập vào Nam, và người nổi dậy của MTDTGP đã tăng cường hoạt động quân sự của họ. John F. Kennedy e ngại một vai trò lớn hơn ở Việt Nam nhưng đồng thời cũng quyết tâm không để “mất” Nam Việt Nam. Ông nâng số “cố vấn” lên hơn 16.000 và bí mật cho phép họ tham chiến. Khi cuộc đàn áp Phật giáo của Diệm gây ra một cuộc nổi dậy vào năm 1963, Kennedy đã bật đèn xanh cho một cuộc đảo chính quân sự.

Nhưng nếu như Kennedy hy vọng một chính phủ mới sẽ mang lại sự ổn định cho vùng đất đó thì ông đã sai lầm. Những thay đổi trong lãnh đạo ở cả hai quốc gia trong năm đó đã mang lại một sự leo thang lớn. Ở miền Bắc Việt Nam, việc Lê Duẩn, một nhà lãnh đạo quân phiệt xuất phát từ miền Nam, thăng tiến lên đến vị trí chủ chốt của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản đã dẫn đến một quyết định mạo hiểm. Nhằm muốn khai thác sự bất ổn lan tràn ở Sài Gòn trước khi Hoa Kỳ có thể can thiệp, Bắc Việt tăng cường viện trợ cho MTDTGP, và thậm chí còn gửi quân đội của họ vào để lật đổ chính phủ miền Nam Việt Nam.

Thay vì xuống bước, Lyndon B. Johnson, người kế nhiệm Kennedy, nhìn thấy tín nhiệm của Hoa Kỳ – và của chính bản thân ông –  bị đe dọa ở Việt Nam. Nhưng ông chỉ đi đến đấy. Sợ rằng leo thang có thể gây ra một cuộc chiến lớn hơn và đe doạ các chương trình Xã Hội Lớn của ông, Johnson kiếm cách làm, trong lời nói của ông, “đủ nhưng không quá nhiều”, hy vọng rằng việc đánh bom miền Bắc một cách cẩn thận và quân đội tham chiến ở miền Nam sẽ thuyết phục Hà Nội đàm phán giải pháp hai quốc gia một cách hòa bình.

Cả hai nỗ lực đều đạt được các mục tiêu trước mắt của chúng: quân đội Hoa Kỳ mang lại một sự ổn định chính trị cho Nam Việt Nam, và chiến dịch ném bom của Johnson đã tàn phá ở miền Bắc. Tuy nhiên, trong khi lực lượng mặt đất của Hoa Kỳ tiến hành các chiến dịch tìm và diệt và gây thiệt hại nặng nề, một kẻ thù khó nắm bắt và kiên cường đã tránh va chạm khi cần thiết và rút lui vào các khu an toàn. Vào đầu năm 1967, cuộc chiến đã trở thành một sự bế tắc đẫm máu.

Đối với các chiến binh chủ chốt, năm đó là thời điểm của những quyết định quan trọng và của sự bất đồng nội bộ gia tăng. Không hề nản lòng trước những thất bại trước đó, vào mùa xuân, Lê Duẩn hiếu chiến không thương xót đã thúc ép tiến hành thêm một trận tấn công kết thúc cuộc chiến. Kế hoạch táo bạo của ông yêu cầu một loạt các vụ tấn công ở các vùng xa xôi của miền Nam để thu hút lực lượng Mỹ ra khỏi các thành phố. Tiếp theo đó là những trận đột kích lớn có phối hợp của MTDTGP trong các vùng đô thị để kích động những cuộc nổi dậy nhân dân làm lay động nền móng của Nam Việt Nam và phá vỡ ý chí của Hoa Kỳ.

Kế hoạch của Lê Duẩn đã gây ra nhiều phản đối kịch liệt. Các đối thủ, trong đó có Tướng Võ Nguyên Giáp huyền thoại và Hồ Chí Minh được tôn sùng, kêu gọi tiến hành một chiến lược chiến tranh kéo dài, thận trọng hơn, cái cho phép phát triển kinh tế ở miền Bắc mà không cần phải từ bỏ miền Nam. Để đàn áp những người chống đối, Lê Duẩn và các đồng minh của ông ta trong suốt năm 1967 đã áp đặt một nhà nước cảnh sát thực sự, kích động một hoang tưởng điên cuồng về những gián điệp bị cáo buộc để tẩy sạch những người đe doạ kế hoạch của họ – và quyền lực của họ. Nhà chức trách đã vây bắt và cầm tù hàng trăm nhà bất đồng chính kiến, kể cả thành viên Bộ Chính trị. Hồ và Giáp đã rời đất nước trong nhiều tháng trời. Kế hoạch cuối cùng cho cuộc tấn công Tết Mậu Thân sẽ được phê duyệt vào đầu 1968, ngay trước khi nó được tiến hành.

Chợ Lớn, Tết Mậu Thân 1968
Chợ Lớn, Tết Mậu Thân 1968

Tại Washington, thất vọng về chiến tranh cũng thúc đẩy những cuộc bàn tán leo thang. Ngang bướng trước những giới hạn mà các cấp quân đội và các chiến dịch trên không cũng như trên mặt đất phải gánh chịu, các cố vấn quân sự của Tổng thống Johnson, với sự hỗ trợ từ các cố vấn dân sự chủ chốt, đã kêu gọi leo thang đánh bom chống lại Bắc Việt Nam vào đầu mùa xuân; đặt mìn phong tỏa các cảng biển chính; động viên lực lượng trừ bị, việc đã mang lại thêm 200.000 người cho quân đội; xua đuổi quân địch ra khỏi các khu an toàn ở Lào và Campuchia; và thậm chí đổ bộ một cái “neo” vào vùng phi quân sự để buộc miền Bắc Việt Nam kéo lính ra khỏi miền Nam.

Tan vỡ ảo tưởng với chiến tranh từ lâu và ngày càng nghi ngờ việc có thể chiến thắng nó,  Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara phản công với các đề xuất ngưng đánh bom toàn bộ hay giới hạn nó ở khu vực phía bắc vùng phi quân sự. Ông đề nghị một mức trần cho quân đội trên mặt đất và một chiến lược mặt đất ít tốn kém hơn. Ông thậm chí còn gợi ý tới một điều không thể nghĩ đến: tìm kiếm một lối thoát khỏi Việt Nam.

Quyết tâm giành chiến thắng, nhưng không ở mức độ leo thang có thể gây ra một cuộc chiến lớn hơn, thậm chí là chiến tranh hạt nhân, một tổng thống bị bao vây đã giải quyết cuộc tranh cãi theo cách đã trở thành tục lệ của ông ta. Ông bác bỏ cả hai đề xuất của McNamara và của quân đội. Ông ném cho quân đội vài mảnh vụn dưới dạng tăng cường thêm 55.000 quân lính mặt đất nhưng từ chối đặt mìn phong tỏa các bến cảng của miền Bắc, động viên lực lượng trừ bị hay phê chuẩn cuộc tấn công đổ bộ.

Quyết định của Johnson làm giảm nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh mở rộng. Nhưng lại tăng cường nguy cơ để cho sự bế tắc hầu như chắc chắc sẽ tiếp tục ở Việt Nam – và sự bất mãn của công chúng. Cuộc chiến quay trở về quê hương để trả thù năm 1967.

Tổng thống đã bước vào chiến tranh ở Việt Nam năm 1965 với sự ủng hộ rộng rãi nhưng rất nông cạn của công chúng. Vào mùa hè năm 1967, Hoa Kỳ đã có 448.800 quân tại Việt Nam, đã có hơn 30.000 người được gọi nhập ngũ hàng tháng và 13.000 người Mỹ đã thiệt mạng. Tháng 8, Johnson miễn cưỡng thừa nhận nhu cầu tăng thêm 10% thuế để tài trợ cho chiến tranh.

Các cuộc thăm dò được thực hiện ngay sau đó đã cho thấy rằng lần đầu tiên đa số người Mỹ tin rằng quốc gia này đã sai lầm khi can thiệp vào Việt Nam. Phần lớn cũng kết luận rằng mặc dù chi phí gia tăng nhưng không có tiến bộ rõ rệt nào. Vào tháng 10, sự chấp thuận của công chúng đối với việc Johnson giải quyết chiến tranh đã giảm mạnh đến 28%.

Vào thời điểm này, cả đất nước đã chia rẽ vì Việt Nam như chưa từng có kể từ cuộc Nội Chiến, một thế kỷ trước. Phe diều hâu thiếu kiên nhẫn với các biện pháp nửa chừng của Johnson. Vào tháng Tám, các thượng nghị sĩ diều hâu đã cố gắng sử dụng các buổi điều trần về chiến tranh ném bom để làm tăng sự ủng hộ của công chúng cho một cuộc leo thang lớn.

Lời chứng nhiệt thành của McNamara, rằng các mục tiêu của Mỹ không thể đạt được qua chiến tranh ném bom đã khiến cho Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ nổi giận cho tới mức được cho rằng đã có ý định từ chức tập thể. “Chiến thắng hay là rút ra”, dân biểu L. Mendel Rivers, một đảng viên đảng Dân chủ ở Nam Carolina, chỉ thị cho vị chỉ huy trưởng.

Phong trào phản chiến tăng lên gần như tương xứng với cuộc chiến, và vào năm 1967 nó đã tăng lên đến vị trí hàng đầu trong đời sống Mỹ. Nó thu hút những người ủng hộ mới, nổi tiếng, như mục sư Martin Luther King Jr. và nhà vô địch quyền anh Muhammad Ali. Trong suốt năm đó, phong trào đã tiến hành nhiều cuộc biểu tình lớn và rộng khắp. Những phần tử cực đoan hơn đã chuyển từ phản đối sang kháng cự và cố ngăn cản cuộc chiến bằng cách phá hoại Sở Quân Vụ.

Sự kiện đầu tiên đã diễn ra vào tháng 10 với một cuộc tụ tập khổng lồ ở Washington, tiếp theo là cuộc diễu hành của khoảng 20.000 người biểu tình ở Lầu Năm Góc, – được Norman Mailer ghi lại trong quyển “Armies of the Night” của ông. Vụ việc hầu hết mang tính cách hòa bình, và buồn cười theo một cách nào đó, nhưng cố gắng thâm nhập vào tòa nhà của một số người biểu tình và việc cưỡng chế họ bởi những người lính thuộc Sư đoàn Dù 82 đã gây ra bạo lực.

Đến cuối năm 1967, cuộc chiến đã trở thành biểu tượng dễ nhìn thấy nhất của một tình trạng khó chịu đang nắm chặt cả đất nước. Những cuộc biểu tình đường phố ồn ào, bạo loạn ở Detroit và Newark và tỉ lệ tội phạm quốc gia gia tăng khiến cho người ta phải nghĩ rằng bạo lực ở nước ngoài đã tạo ra bạo lực ở trong nước. Mối lo âu về cuộc chiến đã không tạo ra được một đồng thuận phải làm những việc gì. “Tôi muốn rút ra, nhưng tôi không muốn đầu hàng,” một người được hỏi ý kiến đã trả lời cho Samuel Lubell như thế. Nhưng tâm trạng công cộng – mệt mỏi, tức giận và nản lòng – có vẻ là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với chính quyền, hơn là chính phong trào chống chiến tranh.

Sợ rằng có thể thua cuộc chiến ở quê nhà, Johnson cuối mùa hè năm 1967 đã tiến hành nhiều bước đi để hỗ trợ cho sự ủng hộ của công chúng đối với ông. Ông ra lệnh cho C.I.A. (vi phạm điều lệ của tổ chức này) tiến hành giám sát các nhà lãnh đạo chống chiến tranh nhằm để xác nhận niềm tin của ông rằng họ đang bị các chính phủ Cộng sản thao túng. Các cơ quan thực thi pháp luật đã kiểm tra hồ sơ thuế của những người đứng đầu phe bồ câu và đã truy tố một số người trong phe đó là họ đã khuyên nhủ nên chống lại việc thi hành quân dịch. F.B.I. cũng tuyển dụng người cung cấp thông tin trong các tổ chức hòa bình, nghe lén điện thoại, đột nhập nơi cư ngụ và văn phòng và thâm nhập vào nhiều nhóm khác nhaòa

Tòa Nhà Trắng cũng đã sắp xếp một tổ chức được cho là tư nhân, bao gồm nhiều công dân nổi bật (có quan hệ gần gũi với chính phủ) nhằm huy động “số đông im lặng” trong chính trị Mỹ. Để tác động chống lại cảm nhận của một cuộc chiến tranh bế tắc, Tổng thống đã thực hiện một chiến dịch lớn, đa dạng, để chứng minh rằng Hoa Kỳ đang giành chiến thắng ở Nam Việt Nam. Vào tháng 11, ông gọi người chỉ huy của ông ở Việt Nam, Tướng William Westmoreland, về nước để trấn an một công chúng đang lo lắng. “Chúng tôi đã đạt đến một điểm quan trọng mà kết cuộc bắt đầu có thể nhìn thấy được,” vị tướng tuyên bố đúng theo trách nhiệm của ông. Ông còn gợi ý rằng có thể bắt đầu rút quân về trong vòng hai năm tới.

Diễn tiến chiến dịch này đã mang lại nhiều kết quả ngắn hạn. Các cuộc thăm dò cho thấy sự chấp thuận đường lối chiến tranh của Johnson đã gia tăng đáng kể; số điểm thiện cảm của ông đã tăng thêm 11 điểm chỉ riêng trong tháng 12.  Nó cũng đặt quốc gia trước lần tan vỡ ảo tưởng, khi một kẻ địch được cho là đã loạng choạng tiến hành một cuộc tổng tấn công mạnh mẽ trong năm 1968.

Cuộc chiến mặt đất ở miền Nam Việt Nam gia tăng vào cuối mùa thu. Theo kế hoạch của Lê Duẩn, Bắc Việt và quân đội của MTDTGP đã tấn công các thị trấn Lộc Ninh và Sông Bé gần Sài Gòn và Đắk Tô ở Tây Nguyên. Đúng theo kịch bản được soạn thảo ở Hà Nội, Westmoreland đã cử nhiều lực lượng quân đội lớn đến các khu vực đó, gây thương vong nặng nề và đẩy các lực lượng quân địch trở lại các khu an toàn của họ. Nhưng không phải là không có giá của nó: Đặc biệt ở Đắk Tô, Hoa Kỳ đã phải chịu tổn thất nặng nề. Westmoreland và Washington hài lòng với tính sẵn sàng chiến đấu mới của kẻ thù, nhưng bối rối về mục đích ở cấp độ rộng lớn hơn của họ.

Vào cuối năm, một số cố vấn của Johnson một lần nữa lại nài xin điều chỉnh chiến lược. “Thời gian là yếu tố quyết định,” Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nicholas deBelleville Katzenbach cảnh báo, có lẽ với Đắk Tô trong thâm tâm. Trong ngôn ngữ của Aesop [nhà văn Hy Lạp viết truyện ngụ ngôn Thỏ Và Rùa], ông đã hỏi liệu “con rùa tiến bộ ở Việt Nam” có thể “đứng trước con thỏ phản đối ở quê nhà” hay không.

Một McNamara sắp sửa ra đi, và những người được gọi là người thông thái, những nhân vật nổi tiếng đã từng đưa ra lời khuyên cho chính sách đối ngoại của Johnson, đã đề nghị chống đỡ mặt trận quê nhà bằng cách đặt một mức trần cho lực lượng trên mặt đất, điều chỉnh chiến lược để giảm số thương vong của người Mỹ và chuyển tải gánh nặng chiến đấu sang cho người Nam Việt Nam – hạt giống của chính sách Việt Nam Hóa sau này. Con số thăm dò gia tăng, Johnson chỉ đồng ý xem xét lại các hoạt động trên mặt đất vào một ngày không xác định.

Ở mặt công khai, ông thề sẽ giành chiến thắng. “Chúng ta sẽ không nhượng bộ”, ông nhấn mạnh. “Chúng ta sẽ không rung rẩy. Chúng ta sẽ chấm dứt bằng hòa bình với danh dự mà tất cả người Mỹ đều tìm kiếm.” Trong một buổi ăn tối chiêu đãi thủ tướng Singapore, ông khẳng định, “Ông Thủ tướng, trong phần thế giới của ông, ông có câu thành ngữ biểu lộ quyết tâm của chúng tôi rất tốt. Ông gọi là ‘cưỡi hổ’. Ông đã cưỡi hổ. Chúng tôi sẽ cưỡi hổ!”

Ngay cả khi ông ấy tuyên bố như thế, Bộ Chính trị Bắc Việt vẫn bỏ phiếu đưa kế hoạch tấn công Tết ra cho Ban Chấp hành Trung ương để thông qua.

George C. Herring, giáo sư danh dự về lịch sử tại Đại học Kentucky, là tác giả của cuốn “ America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975″.

Phan Ba dịch

https://www.nytimes.com/2017/01/27/opinion/the-road-to-tet.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam và trang Tài Liệu

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s