Vinh Quang của sự Phi Lý (30)

Mìn nam châm cũng là một món quà từ nước Đức nhưng không phải của Tây Đức mà là Đông Đức.

Chi tiết đặc biệt này đã nhấn mạnh tính chất chiến lược địa lý toàn cầu của cuộc chiến. Đúng, đây là một cuộc chiến tranh nhân dân theo kiểu Mao Trạch Đông nhưng đồng thời cũng là địa hình nóng bỏng của cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Đông và Tây, bao gồm cả cuộc xung đột giữa hai quốc gia Đức.

Một trong những món quà chết người nhất của chính quyền Đông Đức tặng cho các đồng chí Việt Nam là quả mìn tàn bạo được thế giới biết đến như là PPM-2. Tôi đã chứng kiến sức tàn phá của nó nhiều lần khi lái xe trên quốc lộ 19 giữa Pleiku trên Trung Nguyên và Quy Nhơn ở bờ biển Đông. Từng mảnhg thịt người vương vãi khắp nơi trên đường lộ và bắn tung lên bụi cây – đầu người, chân, tay hoặc đúng hơn chỉ là bàn tay, bàn chân, ngón tay, ngón chân xen kẽ với các dấu tích còn lại của những chiếc xe bị nổ tung.

Mìn PPM-2 ở biên giới Đức-Đức
Mìn PPM-2 ở biên giới Đức-Đức

Đó là di hài của các phụ nữ nông dân và trẻ em, những cái đã chiếm phần lớn những vụ tử vong hằng ngày trên Quốc lộ 19. Họ đi lại giữa những ngôi làng và thị trấn có chợ búa trên những chiếc xe Lambretta ba bánh chuyên chở công cộng ọp ẹp nên rất dễ là nạn nhân của mìn sát thương hơn là những người lính ngồi trong xe tăng, xe bọc sắt, hoặc trên các xe vận tải và xe Jeep có đặt bao cát dưới sàn để chống sức nổ.

Các sĩ quan Hoa Kỳ đã chỉ cho tôi những quả mình tịt ngòi mà lính đào được trên lộ 19. Chúng màu đen, có vỏ bọc bằng nhựa, và một tấm bẫy đạp cũng bằng nhựa. Ngoài ra có một ngòi nổ điện từ kích động một khối 110g TNT. Đông Đức đã cài đặt hàng ngàn loại thiết bị này trên con đường tử thần dài 875 dặm dọc theo biên giới phía tây nước Đức, không phải để ngăn chặn xâm lăng mà nhằm phòng ngừa chính người dân mình trốn đến phần đất tự do của xứ họ.

Sự khác biệt giữa phương cách hai quốc gia Đức tham gia vào Việt Nam thật rõ ràng. Theo Trung tâm Quốc tế Woodrow Wilson ở Washington, Đông Đức đã cung cấp cho Bắc Việt và từ đó đưa qua cho Việt Cộng những trang thiết bị khác nhau có giá trị khoảng 200 triệu đô la, từ vũ khí tự động, mìn, lựu đạn, xe vận tải, động cơ và hệ thống phòng không nhằm huấn luyện các sĩ quan và viện trợ cả nhạc cụ cho các ban quân nhạc nữa. Cộng thêm vào đó, cơ quan tình báo đáng sợ của Đông Đức, biệt danh là Stasi, cũng đã huấn luyện và trang bị cho các bộ phận tình báo tương đương của Bắc Việts.

Quân đội Bắc Việt là khách hàng quan trọng nhất của Đông Đức ngoài Âu châu. Mối quan hệ mật thiết này đã được duy trì cho đến khi chế độ của cái gọi là Cộng hòa Dân chủ Đức sụp đổ, kết quả của cuộc cách mạng hòa bình chống lại chế độ độc tài toàn trị vào năm 1989 và lãnh thổ của nó trở thành một phần của Cộng hòa Liên bang Đức tự do một năm sau đó. Tuy nhiên trước khi chuyện đó xảy ra, quân đội Cộng hòa Nhân dân Đức tiếp tục huấn luyện các sĩ quan Cộng sản Việt Nam và trang bị mới toàn bộ Học viện Sĩ quan tại Sài Gòn, bây giờ đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh.

Đối ngược lại, Tây Đức đứng hàng thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ trong công tác viện trợ nhân đạo và kinh tế cho Nam Việt, và đây là dạng trợ giúp duy nhất cung cấp bởi chính phủ Bonn. Tây Đức cố vấn cho Nam Việt những phương cách để chống hiện tượng trẻ vị thành niên phạm pháp, giúp tái cấu trúc lại các tổ chức công đoàn và huấn luyện các cấp chỉ huy. Tây Đức cũng tặng những số lượng gạo khổng lồ khi đồng bằng sông Cửu Long, từng một thời là “vựa lúa của Á châu”, đã không còn khả năng nuôi nổi đất nước nữa vì hậu quả chiến tranh. Người Tây Đức cũng đã xây dựng những trại mổ gia súc tối tân nhất nhằm cung cấp cho Nam Việt nguồn thức ăn an toàn.

Tuy nhiên, sự hỗ trợ quan trọng nhất của Tây Đức lại là cho y tế. Đã có chiếc Helgoland. Rồi xây dựng trường Y khoa Huế. Ngoài ra còn có một bệnh viện tại Đà Nẵng điều hành bởi bộ phận dịch vụ cứu trợ của chi nhánh Đức thuộc nhóm “Hiệp sỹ Malta”, một hàng giáo phẩm không phong chức của giới quý tộc công giáo. Bệnh viện này có một số tiền trạm tại An Hòa và Hội An.

Tất cả những người Đức làm việc tại các trung tâm này đều là thiện nguyện viên trẻ tuổi, đa số là Ky-Tô hữu mà mẫu mực ứng xử và lòng cống hiến đã chiếm được cảm tình của hàng ngàn  thường dân Việt Nam nơi họ phục vụ. Tuy vậy, điều này đã không tránh được cho một số trong bọn họ thoát khỏi cảnh bị bắt cóc, sát hại hay buộc phải đi bộ hàng tháng trời chết người dọc theo con đường mòn Hồ Chí Minh từ Nam ra Bắc Việt Nam. Họ bị bỏ đói, không được chăm sóc y tế và bị cầm tù trong những điều kiện vô nhân đạo ở những trại tù cộng sản, những điều này đã vi phạm thô bạo các công ước Genève về chiến tranh.

Không phải là do nhầm lẫn mà họ bị tước đoạt quyền tự do, bị ngược đãi và bị sát hại bởi vì bọn bắt giữ biết rõ họ không phải là chiến binh. Ba thành viên giảng huấn người Đức của trường Y Khoa Huế đã bị buộc phải đào mộ cho chính họ trước khi bị bắn vào sau đầu, sáu tuần lễ sau khi bị bắt trong thời gian quân Bắc Việt chiếm đóng vào năm 1968, bất chấp lời kêu gọi của quốc tế để cứu mạng sống cho họ.

Malteser Hilfsdienst. Họ buộc phải đi bộ ra miền Bắc sau khi bị tù trong rừng một năm trời. Chỉ có bà Schwinn và ông Bernhard Diehl là sống sót và được trả tự do trong tháng Năm 1973, bốn năm sau đó.
Bà Monika Schwinn bị bắt cùng với 4 người y tá khác của Hội Malteser Hilfsdienst. Họ buộc phải đi bộ ra miền Bắc sau khi bị tù trong rừng một năm trời. Chỉ có bà Schwinn và ông Bernhard Diehl là sống sót và được trả tự do trong tháng Năm 1973, bốn năm sau đó.

Monika Schwinn, một y tá nhi khoa trẻ thuộc dịch vụ cứu trợ Hiệp Sỹ Malta đã kể lại với tuần báo Der Spiegel lời tuyên bố thẳng thừng của một trong những kẻ bắt cóc cô: “Chúng tôi giam giữ cô không phải vì cô là Monika Schwinn. Chúng tôi bắt vì cô là công dân của một nước có quan hệ với kẻ địch.” Monika Schwinn đã trải qua gần bốn năm trong bẩy nhà tù Cộng sản, kể cả nhà tù nổi tiếng “Hanoi Hilton” mà cô là nữ tù nhân duy nhất. Cô đã nghe thấy tiếng la hét của các phi công Hoa Kỳ trong những buổi tra tấn và cô cũng đã gặp John McCain, thượng nghị sĩ và ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ tương lai. Cô kể lại với Der Spiegel bằng cách nào mà cô đã sống sót được: bằng niềm tin vào Chúa, bằng ý thức là cô vô tội trước bất cứ tội ác nào vì cô đã đến để giúp đỡ người dân Việt Nam, không phải để hại họ, và bằng cách luôn tự nhắc nhở phương châm thách thức của chính cô là: “An mir beisst ihr euch die Zähne aus” – bạn sẽ gãy răng thì cắn vào tôi!

Tại sao Cộng sản Việt Nam lại tàn sát các bác sĩ, y tá Đức và nhà ngoại giao Hasso Rüdt von Collenberg, một nhà quý tộc trẻ tuổi dũng cảm mà họ đã bắt khi anh cố gắng di tản một số công dân Đức ra khỏi nơi trú ngụ của họ ở Sài Gòn trong lúc chiến sự bùng nổ trong thành phố, hậu quả của cuộc tổng công kích Mậu Thân? Tại sao họ lại xử tử thành một cách sơ sài, theo lời các nhân chứng, mặc dù xe Volkswagen của anh mang biển số ngoại giao và anh đã trình cho họ hộ chiếu ngoại giao, đáng lẽ anh phải được bảo đảm quyền bất khả xâm phạm chứ?

Chỉ có thể có một cách giải thích duy nhất: từ giữa những năm 1960, Đồng Đức tuyên truyền hầu như mỗi ngày điều láo khoét là Tây Đức có dính dáng về quân sự tại Việt Nam, và báo chí Bắc Việt cũng như Việt Cộng đã tiếp diễn điều nói láo này với một sự đều đặn tương tự. Lúc đầu, họ tuyên bố rằng lính Đức chiến đấu ở miền Nam Việt Nam được cải trang như người Mỹ. Sau đó, họ khẳng định rằng một số đầy đủ các đơn vị của Bundeswehr Đức (Lực lượng Phòng thủ Liên bang) đã tham gia trong các cuộc hành quân chiến đấu.

Đúng là có những người Đức trẻ tuổi đã được gửi đến để chiến đấu tại Việt Nam, nhưng không phải bởi chính phủ Tây Đức. Họ đến với tư cách lính động viên người Mỹ hay người Úc. Tôi đã có lần gặp được ba binh sĩ nói tiếng Đức trong ba bộ quân phục khác nhau trong một quán bar tại Sài Gòn: Hoa Kỳ, Úc và Tân Tây Lan. Cả ba là thành phần di cư từ Đức tương tự như hàng trăm ngàn thanh niên Âu châu khác vào những thập niên 1960 và 1970. Hoa Kỳ và Úc đã động viên những người nhập cư này vào trong quân đội và điều động nhiều người trong bọn họ đến Việt Nam. Tân Tây Lan không phải thi hành nghĩa vụ quân sự nhưng họ cho các tân công dân được phép gia nhập quân đội trên tinh thần tự nguyện.

Thậm chí có lần tôi gặp được một phi công trẻ lái phóng pháo cơ có tên là Helmut Bubbel đến từ Heidelberg. Anh là một đại úy thủy quân lục chiến lái A-6 Intruder bay những phi vụ trên vùng trời Bắc Việt từ hàng không mẫu hạm Coral Sea. Anh kể cho tôi là sau một số phi vụ, anh đã nãy nở một mối quan hệ cá nhân với một xạ thủ phòng không Bắc Việt mà anh nhận diện ra theo nhịp điệu bằng đại bác của hắn.

“Bắn phòng không tương tự như ca hát vậy,” Bubbel giải thích cho tôi trong một lần viếng thăm chiếc Coral Sea. “Hai người có thể hát cùng một bản nhạc nhưng cách diễn tả sẽ khác nhau. Xạ thủ cũng vậy. Họ bắn theo những nhịp độ khác nhau.”

“Vậy thì chuyện gì đã xảy ra cho hắn?” Tôi hỏi Bubbel, người đã nhập cư đến California cùng với cha vào năm 1953.

“Lần cuối chúng tôi gặp nhau, tôi bổ nhào vào vị trí súng của hắn,” Buddel nói. “Chuyện này rõ ràng đã trở thành một cuộc đấu tay đôi giữa chúng tôi. Tôi biết là hắn đã nhận ra tôi. Hắn bắn không nương tay với nhịp độ quen thuộc. Tôi nghĩ, một trong hai thằng phải hít bụi ngày hôm nay thôi. Tôi có thể thấy những ánh lửa đạn phụt lên và gần như nhìn thấy nòng súng phòng không của hắn. Tôi nghĩ chắc tôi không xa hắn hơn 80m khi ném trái bom và vọt máy bay thẳng lên cao. Khi đạt được khoảng cách an toàn, tôi quay đầu lại và đã thấy đánh trống một quả bom hoàn hảo. Phía dưới hoàn toàn yên tĩnh.”

“Sau đó anh làm gì?” Tôi hỏi.

“Tôi quay trở lại và bay một vòng chào danh dự quanh vị trí súng còn bốc khói và nói, khá lắm anh bạn dũng cảm nhỏ con. Thật là một điều không may khi lính giỏi như anh phải chịu chết.”

“Điều này làm tôi nhớ lại những huyền thoại trong Thế chiến Thứ Nhất về những phi công ưu tú nổi tiếng như Hồng Bá Tước Manfred von Richthofen,” tôi nói.

“Đúng là như vậy trên một phương diện nào đó. Ít nhất là tôi cảm thấy khâm phục anh ta và có lẽ anh ta cũng kính trọng tôi.”

Khác với phần lớn những di dân Đức nhập ngũ tòng quân, Helmut Buppel đã là công dân Hoa Kỳ rồi, nếu không thì không thể là sĩ quan được. Nhưng anh ta vẫn còn giữ thông hành Đức và mang ra khoe với tôi. Tôi nhớ là đã nhắc nhở anh:

“Anh chớ nên mang theo nó khi bay đi ném bom nhé. Nếu anh bị bắn hạ bọn cộng sản sẽ trưng tờ thông hành đó ra, cho là bằng chứng Tây Đức đã tham gia chiến tranh. Điều này sẽ là cái cớ để chúng tàn sát thêm nhiều thường dân Tây Đức tại Việt Nam nữa. Đã có quá nhiều người bị sát hại rồi.”

“Anh nói đúng. Tôi sẽ không mang nó theo nữa,” viên đại úy hứa với tôi.

Trên thực tế, chưa bao giờ có hơn ba người mặc quân phục Quân đội Tây Đức tại Việt Nam và họ là quân nhân làm việc trong tòa đại sứ. Một người là tùy viên quốc phòng, thỉnh thoảng có một phụ tá mang cấp bậc thiếu tá. Có một thượng sỹ nữa làm công việc văn phòng cho họ.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (29)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (31)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (30)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s