Vinh Quang của sự Phi Lý (29)

Chương 12

Tây Đức với Đông Đức

Trên con sông Hàn tại bến cảng Đà Nẵng có một con tàu màu trắng toát hai bên hông có đánh dấu Hồng Thập Tự nằm thả neo trong gần suốt cuộc chiến Việt Nam. Nó hiện diện như một biểu tượng trong sáng cho lòng vị tha và đối nghịch với màu xám phổ biến của tất cả các tàu chiến chung quanh. Chiếc tàu có tên là Helgoland này nguyên dùng để vận chuyển du khách đến những khu nghỉ mát trên bờ biển Đức và sau 6 năm phục vụ tại Đông Dương, chiếc Helgoland trở thành một du thuyền của nước Ecuador đóng tại quần đảo Galapagos. Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ 1966 đến 1972, chiếc tàu này là một bệnh viện nổi được điều hành bởi Hồng Thập Tự Tây Đức và tài trợ bằng tiền đóng thuế của dân Tây Đức.

Tàu Helgoland ở Đà Nẵng
Tàu Helgoland ở Đà Nẵng

Với chiều dài 330 bộ và chiều ngang 46 bộ, chiếc Helgoland được trang bị và hoạt động tốt hơn phần lớn những trạm y tế ở Phương Tây. Đó là một bệnh viện tân tiến nhất tại Việt Nam vào thời kỳ bấy giờ. Tàu có ba khu phẫu thuật hết sức tối tân, 180 giường bệnh, 8 bác sĩ, một nhóm 22 điều dưỡng viên, cộng thêm 8 nhân viên y tế và phụ tá phòng thí nghiệm. Ngoài ra còn có 34 thủy thủ, đầu bếp và các nhân viên khác. Từ 1966 đến 1972, gần 200.000 dân thường Việt Nam mắc bệnh hay bị thương tật đã được chăm sóc trên tàu hoặc ở khu ngoại chẩn trên bờ. Những nơi này là các ốc đảo tương đối an toàn bao quanh bởi một thế giới khủng bố, bom mìn, hỏa tiễn, bom lửa napalm và hỏa lực pháo binh. Một số bệnh nhân được đưa đến từ những vùng do chính phủ Sài Gòn kiểm soát, một số khác từ những làng mạc nằm trong tay Việt Cộng, ít ra là ban đêm. Các bệnh nhân không bao giờ bị hỏi lập trường chính trị của mình thuộc phe nào cả.

Tôi rất thích thăm chiếc tàu Helgoland vì nhiều lý do. Sau nhiều tuần làm phóng sự cho các cuộc hành quân và bị ăn khẩu phần C, thật là một điều thú vị khi được ăn một bữa tối kiểu Đức trọn vẹn và được tán gẫu với các y tá, bác sĩ, thủy thủ trên tàu quanh một ly bia nhập qua từ nước nhà. Helgoland đồng thời là một phong vũ biểu tương đối đáng tin cậy cho những biến cố khủng khiếp có thể xảy ra trên bộ. Nếu nó âm thầm rồi bến cảng trước khi màn đêm buông xuống, tôi biết ngay là thuyền trưởng muốn ra khu an toàn của vùng biển quốc tế vì tình báo Mỹ và Nam Việt đã báo cho ông về khả năng có một cuộc tấn công của Việt Cộng vào Đà Nẵng.

Quan trọng nhất là thời gian tạm trú trên chiếc Helgoland đã cho tôi biết những câu chuyện xúc động về dân tộc mà cuộc chiến này xoay quanh: người dân thường miền Nam Việt Nam. Chẳng hạn như câu chuyện của nạn nhân bom napalm đầu tiên mà cô y tá Irene từng chứng kiến. Đó là một đứa bé trai chín tuổi tên là Lê Xiên. “Khi bé được bế lên tàu, cả tay và chân của em bị cháy đen và vẫn còn bốc khói.”

“Làm thế nào chuyện này xảy ra vậy?” Tôi hỏi Irene.

“Em ấy nói rằng đang đá banh với chúng bạn thì đột nhiên máy bay xuất hiện trên trời và bom rơi xuống. Nó còn nhớ bị rớt xuống đất và không cảm thấy gì cả. Dân làng mang nó đến căn cứ quân sự Mỹ gần đó và trực thăng chở đến cho chúng tôi. Trong lúc bay thì nó mới bắt đầu thấy đau.”

“Chuyện này có làm cô giận người Mỹ không?” Tôi hỏi cô.

“Không, nó chỉ làm tôi băn khoăn về bản chất của cuộc chiến này. Ông thấy đấy, chuyện này đã xảy ra ngay bên cạnh một căn cứ Mỹ, nơi mà cả cha lẫn mẹ của Lê Xiên đều làm việc, người cha làm phu hốt rác và mẹ thì lo quét dọn.”

“Họ có đến thăm đứa bé trên chiếc Helgoland không?” Tôi muốn biết.

“Không, và đây là thảm kịch tiếp theo trong cuộc đời của Lê Xiên: chẳng bao lâu sau khi cậu bé ở với chúng tôi thì được tin cả hai người đã bị giết.”

“Làm sao vậy?”

“Không ai biết cả.”

Có nhiều khả năng là cả gia đình sống trong vùng do chính phủ kiểm soát, và Việt Cộng đã xâm nhập vào ban đêm. Bà quét dọn và ông phu rác có thể đã bị mất mạng vì họ làm việc cho kẻ địch. Chúng ta không bao giờ biết được sự thật ra sao.

Sau đó, Irene đã có một cuộc gặp gỡ không kém phần bối rối trong một ngày nghỉ đi phơi nắng ngoài Mỹ Khê, một bãi biển đẹp nhất của Đà Nẵng.

“Một anh lính Mỹ trẻ tuổi tiến lại gần tôi và hỏi một cách lịch sự ‘cho phép tôi được ngồi cạnh bên cô một lát được không?'”

“Được chứ,” Irene trả lời, “Nhưng tại sao anh uống rượu say quá vậy?”

“Tôi uống nhiều như vậy vì tôi muốn quên tôi đã giết ba đứa trẻ ngày hôm qua,” người lính trả lời.

Anh tiếp theo, “tôi là xạ thủ đại liên trực thăng. Chúng tôi bay qua vùng có Việt Cộng quấy rối. Bên dưới, tôi phát hiện có một nhóm người mặc áo bà ba đen. Khi trông thấy chúng tôi, họ vội chạy tứ tán ra ba phía. Thế là tôi nổ súng hạ ba tên trong bọn họ. Trong chốc lát tôi có cảm giác tôi là anh hùng.”

“Sau đó thì sao?” Irene hỏi dồn.

“Sau đó chúng tôi bay xuống thấp và tôi nhận thấy đó là ba đứa trẻ bị giết vì những viên đạn của tôi.”

Người lính GI bắt đầu buồn bã khôn nguôi.

“Hãy tha thứ cho tôi, thưa cô, vì đã khóc như vậy trước mặt một phụ nữ nhưng tôi chỉ mới 18 tuổi. Ở quê nhà tôi còn chưa được phép đi bầu hay uống bia nữa. Bây giờ tôi có cái chết của ba đứa trẻ trong lương tâm. Tôi không biết làm thế nào để sống nổi nữa.”

Trong một chuyến thăm khác trên chiếc Helgoland tôi đã dành một buổi chiều ngồi bên cạnh một người phụ nữ có đủ những đức tính mà chỉ có nghề điều dưỡng mới được nhiều như vậy. Đó là sự nóng nảy, lòng cảm thông, tính thực tế một cách thẳng tuột, máu hài hước, niềm vui sống và một bạn nhậu khỏe mạnh lúc nào cũng giữ bia của cô được ướp lạnh trong tủ lạnh của nhà xác bệnh viện. Nói tóm lại, cô ấy là một loại người đầy đủ đức tính mà giới phóng viên chúng tôi cảm thấy dễ hòa hợp nhất.

Cô ta mô tả thật sống động lòng thương mến của mình đối với một ông nông dân 49 tuổi bị bệnh động kinh và đã bị mất gần như toàn bộ khuôn mặt sau một vụ nổ không rõ nguyên nhân. “Anh phải gặp ông ta,” cô nói, “chúng tôi điều trị cho ông ta nhiều tháng trời và bây giờ thì ông ấy đang sống trong một nhà tế bần ngay bên ngoài thành phố. Chúng tôi thương và nhớ ông ấy lắm. Để mai nghỉ tôi đưa anh đi. Bây giờ làm một chai bia nữa đi.”

Và chúng tôi đã làm chuyện đó.

Sáng hôm sau, tôi ngồi đằng sau chiếc xe gắn máy nhỏ nhắn, ôm eo cô y tá trong khi cô lái lòng vòng qua dòng giao thông hỗn loạn của trung tâm thành phố Đà Nẵng. Chúng tôi ra ngoại ô và ngừng lại ở một nhà dưỡng lão nhỏ nhưng được giữ thật sạch sẽ bởi các nữ tu Công giáo Việt Nam.

Chúng tôi tìm thấy ông ta ở ngoài vườn, ngồi trên một cái xích đu đưa tới đưa lui bởi một đám trẻ em hàng xóm. Khuôn mặt phía trước của ông chẳng còn gì nữa. Ông mất cả cặp mắt, lông mày, mất gò má, không còn mũi, môi và cằm. Khi ông nghe giọng của cô y tá, ông bật khóc và nắm lấy tay cô. Thật là kỳ lạ khi thấy một người đui khóc nhưng ông quả thật đang khóc khi nói với tôi những cô y tá người Đức này thật là có lòng! Họ là những người duy nhất đến thăm tôi, họ là bạn của tôi đấy.

“Thế gia đình của ông thì sao?” Tôi hỏi ông.

“Họ chết cả rồi,” ông ta nói.

“Còn hàng xóm?”

“Không ai đến cả,” người đàn ông vô hình dạng nói trong tiếng nức nở, “trong xứ này có lẽ chẳng ai muốn gặp một người mất hết bộ mặt cả.”

Một buổi trưa nọ trong giờ ăn, nhóm điều dưỡng viên đang nghỉ ngơi trên boong tàu Helgoland tò mò nhìn thấy một anh lính quân cảnh Việt Nam Cộng Hòa dường như đang buồn ngủ trên một cây cầu gần đó. Anh ta ngã người lên lan can quan sát một cách lan man hoặc có vẻ như vậy dưới chân cầu đầy nước bùn. Có điều mà ban đầu những người Đức không trông thấy là anh đang chú ý đến một cây sậy nhỏ xíu dựng đứng dưới nước đang cố tình đi chuyển về phía chiếc tàu bệnh viện.

Đột nhiên, anh lính quân cảnh ngắm súng M-16 vào mục tiêu mơ hồ đó và bắn một loạt đạn. Vùng nước trở nên đỏ và một tên người nhái Việt Cộng bị thương nổi lên. Tên du kích này dùng cây sậy để thở khi bơi một quãng xa đến mục tiêu khủng bố. Quanh người hắn có đeo một quả mìn nam châm. Khi tôi phỏng vấn một phát ngôn viên quân đội về biến cố này, ông nói, chúng tôi không rõ mục tiêu khủng bố của tên người nhái này là đâu, hắn cứ nói loanh quanh lúc bị thẩm vấn. Có lúc thì hắn khai là được lệnh đánh sập cây cầu, rồi lúc khác lại bảo là trái mìn nhằm đánh nổ chiếc tàu Helgoland. Nếu điều này đúng, thì mạng sống của 250 người Việt Nam, người Âu và thường dân đã có nguy cơ bị hung hiểm.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (28)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (30)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (29)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s