Khi mặt đất rung lắc, họ vẫn đứng vững

Vào tháng Giêng năm 1967, khi Sư đoàn Bộ binh 1 và 25 của Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu Chiến dịch Cedar Falls, cuộc tấn công toàn diện của họ chống lại các thành trì của Cộng sản trong “Tam Giác Sắt” phía tây bắc Sài Gòn, Vo Thi Mo, 20 tuổi, đã sẵn sàng.

Sinh ở Củ Chi, ở giữa khu vực chiến trận Cedar Falls, bà Mo đã tham gia cuộc chiến chống lại quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa – lực lượng quân đội miền Nam, được gọi là QLVNCH – từ lúc 13 tuổi, khi bà giúp xây dựng hệ thống đường hầm rộng lớn mà lực lượng Cộng sản miền Nam, được gọi là Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng, (mà đối với kẻ thù của họ thì là Việt Cộng), đã sử dụng làm trại lính, trung tâm chỉ huy và mạng lưới truyền thông.

Vo Thi Mo đã chỉ huy ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25
Võ Thị Mô đã chỉ huy ba ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25

Năm 1967, bà là xã đội phó, và vào tháng này 50 năm trước đây, bà đã chỉ huy ba tiểu đội chống lại một tiểu đoàn của Sư Đoàn 25.

“Tôi chưa bao giờ học ở trong một trường quân sự nào cả”, bà Mô nói, hiện giờ đã 70 tuổi, và vẫn đang sống trong một ngôi nhà nhỏ ở Củ Chi. “Khi còn là con gái, tôi đã rất sợ khi lần đầu tiên đưa súng lên. Nhưng, anh biết đấy, tôi đã học được rất nhiều điều từ trên chiến trường.”

Việc lực lượng Cộng sản thiếu trang bị kém, được cung cấp kém này đã có khả năng chống lại những đợt tấn công cơ giới dữ dội và lâu dài, là một minh chứng cho sự kiên cường, khả năng thích ứng và tính bền bỉ của các chiến binh như bà Mo. Khả năng để sống sót của họ, với một cái giá khủng khiếp, và việc học từ kinh nghiệm đã giúp để định hình chiến lược của họ cho phần còn lại của cuộc chiến.

Để hiểu được những trải nghiệm của người Việt ở cả hai phía của cuộc chiến, tôi đã nghiên cứu hàng trăm báo cáo và thông tin của Việt Cộng, nhật ký và thư từ của binh lính do Cơ quan Tình báo Trung ương và Quân đội Cộng hoà Việt Nam tịch thu được và hiện đang lưu trữ tại Đại học Texas Tech. Tôi cũng đã tiến hành hàng chục cuộc phỏng vấn ở Việt Nam, mà trong đó những cựu chiến binh như bà Mô phản ánh về cuộc chiến nói chung, và về Cedar Falls nói riêng. Bên cạnh bà Mo, những người được phỏng vấn khác đã trả lời với điều kiện là khi công bố phải viết tắt tên họ của họ.

Ngay cả khi nửa thế kỷ đã trôi qua, Đại tá Q.T.N., một trung đoàn trưởng đã 81 tuổi, và là một trong số ít những người còn sống sót của một sư đoàn được coi là một trong số những đơn vị cứng rắn nhất của quân đội Việt Cộng, đã rùng mình khi nhớ lại Chiến dịch Cedar Falls trong một cuộc phỏng vấn tại nhà ông ở Sài Gòn, nay được gọi là Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi các đợt công kích bằng bom và tên lửa từ B-52, máy bay phản lực, máy bay trực thăng và pháo binh hạng nặng tạo an toàn cho khu vực, xe tăng và quân đội Mỹ đã vào “để tìm kiếm và tiêu diệt chúng tôi”, Đại Tá Q.T.N. nói. “Những vùng đất của Củ Chi, Bến Cát và Bến Súc” – làng mạc quanh vùng Tam Giác Sắt – “đã bị san phẳng giống như chúng là những gì xấu xa đã được lột ra khỏi da chúng tôi. Vì vậy mà chúng tôi gọi chiến dịch này là Lột Vỏ Trái Đất.”

Ông nói thêm: “Mặc dù không thể tiêu diệt được giới lãnh đạo của chúng tôi, nhưng họ đã phá huỷ căn cứ của chúng tôi, đặc biệt là hậu cần. Thật tình mà nói, họ đã tạo ra nhiều khó khăn cho chúng tôi và đã thiết lập một chu vi an toàn cho họ ở phía tây bắc của Sài Gòn.”

Giống như Đại tá, ông Q.H. đã có những kỷ niệm gây chấn thương về chiến dịch đó. Sinh ra ở Củ Chi năm 1948 và học tại Đại học Sài Gòn, ông đã vào rừng để tham gia bộ phận tuyên truyền và huấn luyện của cộng sản địa phương.

“Vùng xung quanh Bến Cát và Bến Súc rung chuyển dữ dội giống như có một trận động đất”, ông Q.H. nói. “Vì tất cả lương thực đã bị tịch thu hoặc phá hủy, chúng tôi không còn gì để ăn. Tôi không biết làm thế nào và tại sao mà tôi đã có thể sống sót qua cơn mưa bom và cơn bão lửa đổ đã xuống chúng tôi đó.”

Trong số 350.000 tài liệu mà các lực lượng Mỹ và Nam Việt Nam thu được trong chiến dịch, có nhiều tài liệu cho thấy rằng đói ăn là mối lo lớn nhất của Cộng sản. Vì cuộc tấn công rất dữ dội, nên các đồng chí của họ ở gần thôn Phước Hiệp đã “không dám vào để thu gom gạo”, cán bộ Việt Cộng đã viết như vậy trong các báo cáo vào giữa tháng Giêng năm 1967. Sống dưới sự giám sát của Hoa Kỳ sau khi di dời đến một “Ấp Đời Sống Mới”, người dân ở Thanh Hoa đã không bán gạo nữa, các cán bộ viết tiếp, “vì vậy mà chúng tôi thấy rất khó khăn để sống sót.”

Nhiều Việt Cộng đã trốn thoát khỏi các đường hầm đổ nát và trốn tránh dọc các con sông và kênh rạch. “Việt Cộng thường lặn vào trong bùn dọc theo các bờ kênh rạch,” một người đào ngũ kể lại với những người thẩm vấn của anh ta, theo một báo cáo mà tôi tìm thấy trong kho lưu trữ. Họ đã học được từ kinh nghiệm rằng quân đội miền Nam không kiểm tra chặt chẽ các bờ kênh.”

Nhưng thường thì không thể trốn thoát được, và số thương vong đã tăng lên. Sông Sài Gòn trở thành một nghĩa trang nổi. Trong hồi ký, Lê Đình Ân, cựu chiến binh của một đơn vị Nam Việt Nam, đã viết về “một con sông đầy chết chóc.”

“Xác chết trương phồng lên, những người đàn ông nằm úp mặt xuống nước, trong khi phụ nữ ngữa mặt lên trời”, ông viết. “Khi hành quân vào các khu vực mới, chúng tôi tiếp tục nhìn thấy xác chết mới nổi trên các con sông, ở bờ sông và các thửa ruộng. Xác chết xuất hiện ở khắp mọi nơi.”

1967 Operation Cedar Falls - Evacuating Ben Suc
Chiến dịch Cedar Falls 1967: Di tản dân cư khỏi làng Bến Súc ở bìa khu “Tam Giác sắt”

Khi kết thúc Chiến dịch Cedar Falls, các quan chức Mỹ cho biết 750 Việt Cộng đã bị giết chết, cùng với 72 người Mỹ và 11 người Việt Nam.

Trong cách viết chính thức của họ, Cộng sản tuyên bố rằng trong suốt 19 ngày của chiến dịch, lực lượng của họ đã kiên quyết chống lại cuộc tiến quân của 30.000 quân Hoa Kỳ và Nam Việt Nam. Trên thực tế, quân đội Hoa Kỳ và Nam Việt Nam chỉ phải đối đầu với các đơn vị nhỏ chứ không phải với lực lượng chính của Việt Cộng.

Đại Tá Q.T.N. thừa nhận rằng sư đoàn ưu tú của ông – mà ông gọi là “Big Red One Việt Nam” trong sự tôn kính Sư đoàn Một Bộ binh Hoa Kỳ – đã không giao tranh với người Mỹ trong thời gian của chiến dịch này.

“Chính sách của chúng tôi là tránh kẻ thù và bảo vệ lực lượng của chúng tôi,” ông nói. “Chỉ các đơn vị du kích địa phương của chúng tôi là đối phó với kẻ địch, chủ yếu theo chiến thuật đánh và chạy. Họ cũng giấu các chiến binh của họ vào ban ngày, trong khi hành quân và phục kích lính Mỹ vào ban đêm.”

“Điều đó là cần thiết,” ông U.V.M., một cựu du kích ở Củ Chi, sinh năm 1947 nói. “Làm sao chúng tôi có thể chiến đấu với họ trong khi chúng ta không có đủ vũ khí?” ông nói trong một cuộc phỏng vấn. “Chúng tôi tránh họ từ 6 giờ sáng cho đến 3 giờ chiều mỗi ngày, vì trong thời gian đó họ tiến hành những cuộc hành quân tìm và diệt của họ. Chúng tôi có thể bị giết chết vào bất cứ lúc nào nếu họ tìm thấy chúng tôi. Xã của chúng tôi nằm trên mặt đất mềm, vì vậy mà chúng tôi không có đường hầm. Chúng tôi có khó khăn hơn khi đối phó với bom và tên lửa. Chúng tôi ẩn náu bí mật trong những hàng rào tre. “

Tuy vậy, các chiến binh du kích này đã có thể làm suy yếu những cuộc tấn công của Mỹ, đặc biệt là ở các khu vực xung quanh Củ Chi.

Tính sẵn sàng kháng cự của bà Mô thời trẻ xuất phát không chỉ từ những năm được huấn luyện và kinh nghiệm của bà. Cán bộ cộng sản đã cảnh báo bà về những gì sắp xảy ra trước khi các toán quân Hoa Kỳ đầu tiên bước vào ấp của bà.

“Chúng tôi biết họ sẽ tiến hành hoạt động của họ khi nào, ở đâu và bao nhiêu ngày”, bà nói và mỉm cười. “Chúng tôi đã có rất nhiều điệp viên làm việc trong căn cứ Đồng Dù của Sư Đoàn 25, và ở Sài Gòn, những người mà đã thu thập thông tin và gửi cho chúng tôi.”

Tuy nhiên, kháng cự lại vẫn rất khó khăn. “Làm sao mà 30 tay súng của chúng tôi, kể cả sáu hoặc bảy chị em – những người lính nữ – có thể chiến đấu chống lại một tiểu đoàn của Sư đoàn Tia Chớp Nhiệt Đới với trực thăng, pháo binh và máy bay của họ?” Bà Mô hỏi, sử dụng biệt danh của Sư Đoàn 25 Bộ Binh. “Nếu chúng tôi chiến đấu với họ như là một đơn vị chính quy trong một cuộc chiến tranh thông thường, chúng tôi sẽ bị lực lượng của họ nuốt chửng.”

Thay vì vậy, bà thiết lập những hệ thống phòng thủ phức tạp, bắt đầu bằng những chiếc mìn chống tăng. Các chiến binh của bà đã sử dụng một loại mìn chống tăng đã được ứng biến ở địa phương, những cái có hiệu quả hơn là mìn Xô Viết mà chỉ hoạt động khi một chiếc xe tăng chạy ngay trên chúng. Những chiếc mìn tạm bợ này dùng một đòn bẩy tre được kích hoạt từ xa để đẩy mìn tới xe tăng. Chúng được chế tạo bằng chất nổ từ những quả đạn tịt ngòi thu lượm được từ căn cứ quân sự Mỹ hoặc trên các chiến trường. “Chúng tôi nhét thuốc súng vào một cái xô mạ kẽm hoặc một khẩu súng máy”, bà nói. “Mìn đòn bẩy của chúng tôi rất nhạy, vì vậy mà chúng có thể dễ dàng phát nổ chống bất kỳ loại xe nào.”

Nhưng đó không phải là tất cả, bà nói. “Tiếp theo đó, chúng tôi có một hào chống tăng, rồi một hệ thống bẫy chông, và cuối cùng là rào tre trước đường hầm của chúng tôi. Vì vậy mà xe tăng của họ không thể vượt qua được hào và mìn chống tăng của chúng tôi, trong khi quân lính của họ thì sợ không dám vào. Khi họ công kích chúng tôi bằng pháo và B-52, chúng tôi ẩn nấp trong các đường hầm. Khi quân lính của họ tấn công bằng xe tăng, chúng tôi chui ra để bắn tỉa họ.”

Một lý do cho sự kiên trì của bà, mà kẻ địch của bà không biết, là việc một bộ chỉ huy vùng và một chi bộ địa phương của Đảng Cộng sản đã đóng trong ấp của bà. “Chúng tôi đã cứu lãnh đạo của chúng tôi cho đến khi chiến dịch kết thúc”, bà nói.

Mặc cho tính hiệu quả chết người của mình, bà Mô không dã man hóa kẻ địch của bà: “Tôi không sợ quân địch. Tôi đã chiến đấu chống lại họ cho đến cùng. Tôi cảm thấy hận thù họ nhưng tôi cũng thấy thương hại những chàng trai trẻ tuổi của họ.”

Một năm trước khi Cedar Falls, bà nhớ lại, bà đã nhìn thấy bốn binh lính của Sư Đoàn 1 đang ngồi trong một khoảng đất trống vì họ sợ những chiếc bẫy giả đặt dưới gốc cây. “Họ không biết là họ đang ngồi trên trái mìn do chúng tôi làm từ một vỏ đạn pháo 105 mm”, bà nhớ lại. “Em giao liên của tôi muốn giết họ, nhưng tôi không đồng ý vì tôi thấy họ đã khóc khi nhìn vào những bức thư và hình ảnh mà tôi đoán là đến từ gia đình họ. Tôi cảm thấy thương tiếc cho họ. Em giao liên hỏi tôi tại sao tôi chiến đấu chống người Mỹ nhưng lại không giết họ. Em muốn giết họ để rồi chúng tôi sẽ nhận được Huân chương Chiến thắng của quân đội. Tôi nói với em, ‘Nếu em giết họ, chị sẽ em’. Tôi nghĩ họ có thể là sinh viên ở quê nhà, nhưng họ phải đi lính quân dịch cho nên họ đã đến đây để chiến đấu. Tôi đã không giết họ mặc dù tôi biết rằng tôi có thể bị kỷ luật.”

Ngay cả ông Q.H., tuyên truyền viên cộng sản, cũng đưa ra một góc nhìn thân thiện đáng ngạc nhiên đối với quân đội Mỹ. “Thành thật mà nói, chúng tôi đã phóng đại những câu chuyện về các hoạt động tàn bạo của người Mỹ và số người Mỹ bị giết chết,” ông nói. “Vào thời điểm đó, chúng tôi cần những điều đó để động viên đồng đội của chúng tôi trên chiến trường.”

Ông U.V.M., cựu du kích Củ Chi, tán thành. “Tôi nuôi dưỡng lòng căm thù quân lính Mỹ vì anh trai tôi đã bị họ giết,” ông nói. “Nhưng tôi công nhận rằng những người lính Mỹ coi trọng vấn đề nhân đạo. Khi họ nhìn thấy dân làng, thậm chí cả đồng đội của chúng tôi, bị thương, họ chăm sóc tất cả tại chỗ hoặc gửi họ đến bệnh viện ngay lập tức.”

Nếu như Cedar Falls mang lại cho những người lính này cái nhìn sâu sắc vào kẻ thù của họ thì nó cũng mang lại cho những người Cộng sản các hiểu biết sâu sắc về chính bản thân họ.

Đại Tá Q.T.N. nói rằng sau Cedar Falls, cán bộ của Mặt Trận Dân tộc Giải phóng đã thay đổi chiến lược của họ ở các chiến trường phía đông nam và tổ chức lại lực lượng của họ ở các cấp độ tăng dần lên – các đơn vị chiến đấu ấp, làng, xã và huyện.

“Các đơn vị này liên kết với nhau để thiết lập một hệ thống chiến đấu có thể hỗ trợ cho nhau trong việc chận và chiến đấu chống lại người Mỹ trên chiến trường, kể cả cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968”, ông nói. Ông nói thêm, thay vì lưu trữ vũ khí được gửi từ miền Bắc vào, tất cả đều được giao cho các đơn vị địa phương.

“Vì vậy, khi người Mỹ tiến hành các hoạt động tiếp theo, họ đã không thể tiêu diệt các nguồn cung ứng chúng tôi, trong khi chúng tôi có đủ vũ khí để đối đầu với họ.”

Ông Đại tá đã nhớ lại Cedar Falls với niềm tự hào cũng như nỗi kinh hoàng. Các lực lượng Hoa Kỳ và Nam Việt Nam đã không thể hiện rõ những nỗ lực của họ ở Cedar Falls, bất chấp sức mạnh áp đảo và số thương vong cao của người Cộng sản. Đường hầm bị hư hỏng nhưng phần lớn không bị phá hủy.

“Thật khủng khiếp, dữ dội,” ông nói về sự chênh lệch tàn bạo, “nhưng vinh quang.”

Hai Nguyen là một nghiên cứu sinh lịch sử tại Đại học Texas và là một cộng tác viên nghiên cứu ở Texas Tech Ethics Center.

Phan Ba dịch

Nguồn: https://www.nytimes.com/2017/01/17/opinion/as-the-earth-shook-they-stood-firm.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam và trang Tài Liệu

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s