Vinh Quang của sự Phi Lý (28)

Trên phương diện thuần túy nhân bản, khía cạnh đáng buồn nhất của mối quan hệ cá nhân giữa lính Mỹ với người dân nước chủ nhà thường chỉ giới hạn trong hai loại người không hay lắm: bọn cộng sản chỉ muốn ám hại họ hay làm họ bị què cụt và những gái làng chơi mà tình cảm không phải là thứ miễn phí. Thật thảm thương là những người lính Mỹ và gái bán bar hay mại dâm có nhiều điểm chung nhau hơn là những cuộc gặp gỡ xác thịt đơn thuần. Cả hai đều bị tẩy chay bởi những thành phần đáng kể trong xã hội tương ứng của họ. Những người lính Mỹ trẻ đi lang thang vào vùng đèn đỏ Sài Gòn lúc nghỉ phép có thể không nhận ra điều này vào thời điểm họ đi tìm niềm an ủi bên cạnh những cô gái bán bar hay mại dâm để trốn khỏi nỗi khiếp sợ và sự thiếu thốn. Nhưng rồi họ sẽ sớm phát hiện ra thái độ khinh miệt của dân Mỹ bên nước nhà đối với họ khi nghe những câu khẩu hiệu vô nghĩa như “Hãy làm tình, không làm chiến tranh.” Tôi cảm thấy buồn nôn khi khám phá ra trong thời gian làm việc tại Hoa Kỳ vào năm 1967 câu sáo rỗng tuôn ra bởi tầng lớp ưu tú của New York, “cựu chiến binh Hoa Kỳ là thành phần thiểu số kém yêu thích nhất của tôi,” đã trở thành câu thần chú của những đám tập tành muốn thành “cấp tiến” trong những bữa tiệc tùng.

Đường Tự Do
Đường Tự Do

Những người phụ nữ Việt Nam tất nhiên nhận thức ra vị thế xã hội của họ khi bị đám phu xích lô chọc ghẹo mỗi lần băng qua đường. Chính đám phu xích lô này cũng chỉ thuộc tầng lớp thấp nhất trong hệ thống xã hội Việt Nam. Tôi đã dành nhiều thời gian trong vô số các quán bar, nơi mà hai nhóm người đó đã gặp gỡ nhau, không phải vì tôi thích thú với sự tận cùng bi thảm mà bởi vì đó là nơi mà những thảm họa cá nhân đã xảy ra, trong đó đa số những người Mỹ trẻ đàng hoàng và những cô gái Việt không kém đoan trang đã gặp gỡ nhau. Viết về điều này tất nhiên là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tôi.

Đối với nhiều lính Mỹ, thông thường là những chàng trai tỉnh lẻ trên dưới 20 tuổi, những người phụ nữ này là những cuộc giao lưu tình ái đầu tiên trong đời và trong quá nhiều trường hợp cũng là lần cuối. Hầu hết các cô gái là goá phụ, chồng đi lính bị chết, hết tiền trợ cấp hay không có khả năng nghề nghiệp nào cả. Một số lớn phải nuôi con nhỏ, còn mẹ hay bà ngoại phải trông nom. Chính những người này cũng có thể là goá phụ chiến tranh nhưng đã quá già để kiếm được những người ngoại quốc khác làm chồng.

Tôi thú nhận tôi rất thương những cô gái nông dân từ vùng đồng bằng sông Cửu Long, đơn giản nhưng nồng nàn, vẫn đón chào tôi giống như đối với mọi người lính Mỹ khác: “Ê, ông ơi! Lâu quá không gặp! Ông là số dách! Ông bao tôi Sài Gòn Tea nha,” tức là một thứ nước màu nâu được gọi là Whisky tốn mỗi cái từ 2 đến 10 đô la. Những bà má hay bà chủ trả cho họ một tỷ lệ phần trăm trên giá Sài Gòn Tea nhưng các loại rượu khác mà họ chuốc cho khách uống thì không được tính. Ngoài ra bà má cũng ăn thêm hoa hồng trên giá cả các cô gái thỏa thuận với lính Mỹ muốn mua dâm nữa.

Nhà chức trách Sài Gòn ước tính có ít nhất 30.000 cô gái hành nghề mại dâm kiểu này trong thủ đô vào năm 1967, và ít nhất là 100.000 trong cả nước. Các nhà báo giao du với họ nhận ra họ là những nguồn tin tức rất phong phú và đặc biệt là một thước đo đáng tin cậy về tâm trạng của người dân miền Nam Việt Nam. Khi hàng ngàn người trong số họ bắt đầu đi sửa sắc đẹp để phù hợp với thị hiếu của lính Mỹ thì giới phóng viên chúng tôi biết rằng họ không còn tin tưởng vào khả năng chịu đựng của người Mỹ để giành chiến thắng nữa. Họ muốn tìm một người chồng ngoại quốc để mang họ ra khỏi quê hương trước khi cộng sản chiếm đất nước. Cho nên họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để bắt cho được tấm chồng ngoại quốc.

Phong trào sửa sắc đẹp nổi lên rầm rộ khi có tin là bà vợ xinh đẹp của một vị lãnh đạo đã đi Nhật Bản để sửa mắt và ngực. Tôi không muốn tiết lộ danh tánh của người này vì bà vẫn còn sống nhưng khi tôi gặp lại bà lần đầu tiên sau khi bà đi sửa sắc đẹp ở Tokyo về, tôi đã muốn hét lên với bà: “Cớ sao bà đi làm chuyện đó? Bà đã đẹp quá rồi, bây giờ trông giống như một khuôn mặt Modigliani giả mạo gắn thêm một bộ ngực Rubens!”

Không quá vài tháng sau, các lang băm địa phương bắt đầu thực tập thẩm mỹ trên các cô gái trẻ với số lượng cấp lữ đoàn trở lên. Tôi đã cùng với một số ký giả khác làm một cuộc thăm dò ý kiến các bà má trong rất nhiều nhà thổ và quán bar. Họ ước tính có vào khoảng từ 5000 đến 10.000 cô gái đã đi sửa sắc đẹp. Kết quả thật đáng kinh sợ: trên vỉa hè Sài Gòn mà trước đây không lâu dòng phụ nữ trong những chiếc áo dài mong manh và duyên dáng làm tươi mát ánh mắt của chúng tôi đã được thay thế bởi những sinh vật biến thể một cách ghê gớm với những bộ ngực và bàn tọa khổng lồ trong những bộ váy ngắn cũn cỡn thấy phát sốt. Thông thường, những cuộc giải phẫu kém cỏi đến nỗi có trường hợp một bên hay cả bộ nhũ hoa chạy dài xuống cả thước và mông thì bị tuột xuống giữa đầu gối của các cô gái đó.

Có lần tôi ngồi trong quán bar ở Sài Gòn bên cạnh một cô gái dễ thương tên là Ngọc với những hình thù méo mó một cách vô vọng như vậy. Tôi thấy cô ta cứ ngắm hình mình trong cái gương lớn đằng sau một hàng những chai rượu. Cô luôn tay sờ nắn cái mũi to bất thường của cô.

“Cái mũi nó ngứa hả?” Tôi hỏi cô ta. “Điều này có nghĩa là cô sắp giàu to rồi, theo điều mê tín dị đoan của người Đức.”

“Không, không phải đâu,” cô khúc khích trả lời, “chỉ vì em sửa cái mũi lớn hơn nhưng nó không chịu đứng yên. Vì vậy em cứ phải luôn nắn nó lại.”

“Tại sao em phải làm chuyện đó, Ngọc?”

“Vì trước kia cái mũi em nhỏ và tẹt quá giống như nhiều cô gái Việt khác. Vì vậy lính Mỹ cứ gọi em là con khỉ nhỏ làm em buồn quá.”

“Nhưng mũi nhỏ cũng đẹp chán. Tại sao em phải bận tâm?”

“Em phải lấy được một người chồng Mỹ để đi Mỹ. Nếu Việt Cộng vào bắt em, chúng sẽ giết em và con em.”

Một buổi trưa khi tôi rời một trong những nơi bẩn thỉu ngập khói thuốc đó mà giới ký giả chúng tôi gọi là “quán bar lâu quá không gặp,” anh bạn Phillippe Franchini, chủ và quản gia của khách sạn Continental chận tôi lại lắc đầu.

“Sao anh hay đến những chốn dơ dái đó?” Anh ta hỏi.

“Không phải vì bất cứ lý do nhu cầu sinh lý nào cả, tin tôi đi!” Tôi đáp lại. “Những chỗ đó là nguồn tin tức tốt nhất cho phóng viên chúng tôi.”

“Nếu vậy để tôi chỉ cho một chỗ tốt mà đàng hoàng hơn nhiều. Gặp bạn một tiếng đồng hồ nữa ngoài cửa khách sạn nhé.”

Chúng tôi đã thực hiện điều đó. Anh lái xe ngược lên đường Hai Bà Trưng, được đặt tên theo hai chị em anh hùng dân tộc được thờ kính tựa như Jeanne d’Arc của Pháp. Vào khoảng năm 40 trước Công Nguyên họ đã giải phóng nước Việt Nam khỏi quân xâm lược Trung Hoa với một đạo binh 80000 người. Chúng tôi chạy một chập trên con lộ chính chạy song song với đường Tự Do cho tới khi chúng tôi đến một nghĩa trang cũ của người Pháp thì Phillippe đậu xe lại ngay trước đó. Chúng tôi băng qua đường vào một căn nhà kín đáo nhưng trang hoàng sáng sủa và được một phụ nữ trung niên ăn mặc lịch sự ra nó ngoài cửa.

“Không thích người Mỹ!” Bà ta kêu lên giận dữ.

“Không phải đâu, không phải đâu! Đây là một người bạn người Đức, anh ấy nói được tiếng Pháp,” Phillippe giải thích bằng tiếng Pháp.

“Nếu vậy thì xin mời vào,” bà ấy trả lời với một nụ cười hối lỗi cũng bằng tiếng Pháp.

Sài Gòn 1963
Sài Gòn 1963

Bà chủ đưa chúng tôi lên lầu (tức tầng hai theo cách đếm của Mỹ) và hướng dẫn vào một căn phòng khách trang trí khá đẹp, mang dáng dấp lịch sự nhưng hơi đồi trụy của các phòng khách bên Pháp vào thế kỷ 19 mà Charles Beaudelaire đã mô tả trong văn chương của ông. Trong đây có đầy những nhân vật danh vọng ăn mặc lịch sự, trong số đó có nhiều vị tôi đã từng xin phỏng vấn mà không được: hai hay ba nhân viên cao cấp của chính phủ, một cặp tướng lãnh và chính trị gia. Một số đang uống sâm banh, những người khác thì uống trà.

“Hắn làm cái gì ở đây vậy?” Một ông tướng hỏi Phillippe bằng tiếng Việt.

“Đừng lo, Uwe là bạn tôi. Ông có thể tin anh ta được,” Phillippe trấn an ông tướng.

“Phillippe nói đúng đó, thưa thiếu tướng,” tôi nói. “Trong trách vụ báo chí chúng tôi có những nguyên tắc hành xử, cũng giống như quý vị quân đội có những quy định tác chiến vậy. Tôi không dạy gì làm mất niềm tin của quý vị. Thiếu tướng có thể nói chuyện với tôi hoàn toàn tự do, tôi sẽ không nêu danh tánh của thiếu tướng hoặc không nói điều gì cả nếu thiếu tướng yêu cầu. Tôi lấy danh dự ra bảo đảm điều này.”

“Tôi phải trở về khách sạn Continental,” Phillippe nói và để tôi ở lại với những người khác. Họ dần dần tỏ ra thoải mái hơn và bà chủ nói thầm vào tay tôi: “Thưa ông, tôi biết rõ khẩu vị của ông. Đợi tôi khoảng một tiếng đồng hồ và tiếp chuyện những người ở đây đi. Ông có thích uống sâm banh không?”

“Vâng, xin vui lòng cho tôi một chai và mang ly đủ cho mọi người nhé.”

Một ” boyesse” tức người tớ gái, mang ra chai sâm banh ngâm lạnh và mấy cái ly. Bà chủ biến mất vào trong. Một tiếng đồng hồ sau, bà trở lại với một phụ nữ đẹp một cách nghẹt thở, mặc một chiếc áo dài thật đắt tiền.

“Dành cho ông đấy,” bà chủ nói bằng tiếng Pháp.

“Tôi muốn mời cô ấy đi ăn tối,” tôi trả lời và từ giã những người bạn chức sắc mới quen mà một số sau này tôi duy trì được mối quan hệ nghề nghiệp tốt đẹp, giúp tôi rất nhiều khi làm phóng sự cho những cuộc hành quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong những năm sau đó.

Bà chủ kín đáo kéo tôi sang một bên và yêu cầu một món thù lao đáng kể, vào khoảng 180 đô la mà tôi trả ngay bằng tiền mặt. Bà sai người hầu gọi xe tắc xi và chúng tôi đến tiệm Royal, một chỗ tôi thích nhất trong thành phố. Tại nơi đó ông bạn già Jean Ottavi buột miệng bằng tiếng Pháp: “Anh bạn ơi, thật là người kiều diễm, nàng thật là kiều diễm!”

Nàng tỏ ra là một người có tài nói chuyện dí dỏm một cách đặc biệt, nói tiếng Pháp tuyệt vời và thông thái về lịch sử Âu châu, nhạc, nghệ thuật, những vấn đề thời sự, du lịch và tôn giáo. Tại sao, tôi thầm hỏi, một người phụ nữ có ăn học và xuất thân danh giá lại làm chuyện này, mặc dù là làm với bà chủ của một nơi sang trọng nhất? Nàng có vẻ đọc được ý nghĩ của tôi. Khi chúng tôi đến món soufflé nổi danh của Ottavi, nàng thú nhận là đã đánh bạc hết tiền lương tháng của chồng trong những canh bạc dominos.

“Đây là một căn bệnh chung của người Á châu, thưa ông, nàng giải thích, đó là lý do tại sao em phải làm chuyện này.”

“Có nhiều người khác làm cho bà chủ cũng bị lâm trong hoàn cảnh này không?”

“Chắc là có chứ.”

Ngày hôm sau lúc ăn trưa, tôi kể lại với trung tá Tzschaschel câu chuyện tối hôm qua.

“Thật là đáng tiếc!” Anh ta kêu lên.

“Tại sao đáng tiếc?”

“Ý tôi là thật đáng tiếc phải thuyên chuyển đi nơi khác rồi! Bây giờ đã quá trễ để anh giới thiệu cho tôi cho quý giá đó.”

Tôi không gặp lại Tzschaschel trong vòng mười lăm năm nữa. Khi chúng tôi gặp lại nhau sau đó, anh ấy đã lên cấp tướng, phụ trách bộ phận phân tích và đánh giá của BND, một cơ quan tương đương với CIA của Hoa Kỳ.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (27)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (29)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

4 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (28)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s