1967: Thời kỳ của những trận đánh lớn ở Việt Nam

Lubbock, Tex. – Vào đầu năm 1967, có 490.000 lính Mỹ ở Nam Việt Nam – với khoảng 850.000 từ Nam Việt Nam, Hàn Quốc và các đồng minh khác – thế là các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Mỹ bắt đầu suy nghĩ lớn. Họ tin rằng, đây sẽ là năm tiêu diệt những người đang chiến đấu ở miền Nam, Việt Cộng và các đồng minh Bắc Việt của họ, những kẻ đã thâm nhập vào miền Nam.

Đội kỵ binh 1 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 4 ở Bến Súc trong Chiến dịch Cedar Falls 1967
Đội kỵ binh 1 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 4 ở Bến Súc trong Chiến dịch Cedar Falls 1967

Tuy nhiên, làm như vậy sẽ đòi hỏi phải có nhiều hoạt động đa ngành liên quan đến tất cả các binh chủng của quân đội. Đến cuối năm 1966, họ đã bắt đầu lên kế hoạch cho “thời kỳ của những trận đánh lớn”, và đặc biệt là cho các hoạt động được phác thảo để loại trừ kẻ thù ra khỏi vùng quanh thủ đô Sài Gòn. Trong những tháng kế tiếp theo sau đấy, các kế hoạch đó sẽ bao gồm hàng trăm ngàn binh lính, dẫn đến cái chết của hàng ngàn người ở cả hai bên và đã khiến cho những hoài nghi được nén lại về cuộc chiến bùng phát ra.

Trong tháng 12 năm 1966, báo cáo của tình báo cho thấy nhiều đơn vị lớn của cả Việt Cộng và quân đội Bắc Việt đang đóng quân trong một khu vực khoảng 12 dặm về phía tây bắc của Sài Gòn được gọi là “Tam Giác Sắt”, tiếp giáp với sông Sài Gòn ở cạnh tây nam, sông Thị Tĩnh về phía đông và một đường giữa các ngôi làng Bến Súc và Bến Cát về phía bắc. Tướng Jonathan O. Seaman, người chỉ huy quân đoàn II Field Force gồm 100.000 người, mô tả vùng Tam giác sắt như là “con dao găm” nhắm vào thủ đô của miền Nam Việt Nam. Sự tồn tại của nền Cộng hòa miền Nam Việt Nam bị đe dọa. Nhưng nếu Tam Giác Sắt có thể bị phá hủy bởi một chiến dịch lớn, người Mỹ và đồng minh của họ có thể giành được thế chủ động tấn công và bắt đầu đẩy cộng sản ra khỏi đất nước.

Chiến dịch này, Junction City, bắt đầu vào đầu tháng Giêng năm 1967. Nhưng lúc đó đã có sự lo ngại đáng kể trong giới lãnh đạo quân sự, rằng một nỗ lực lớn như vậy đòi hỏi phải được lập kế hoạch nhiều hơn là có thể làm chỉ trong vòng vài tuần, và một lựa chọn tốt hơn có thể là đầu tiên hãy mở ra một chiến dịch mang tính địa phương nhiều hơn – vẫn ở quy mô rộng lớn nhưng nhắm vào những trung đoàn nhất định, dễ bị tổn thương của Việt Cộng , cũng như vào trụ sở Quân khu IV của Việt Cộng, mà các báo cáo tình báo cho biết là nằm trong vùng Tam Giác Sắt.

Chiến dịch tương đối nhỏ hơn này, tập trung hơn, được gọi là Cedar Falls, bắt đầu vào ngày 8 tháng Giêng. Nó được tiến hành theo cái được gọi là kế hoạch đe và búa: các đơn vị Mỹ và Nam Việt Nam sẽ được đưa vào phía bắc, như là những “cái búa” sẽ đẩy quân địch vào một cái “đe” của các đơn vị thuộc Sư đoàn Bộ binh số 1 và 25.

Vào 8 giờ sáng ngày 8 tháng 1, 60 trực thăng “Huey” UH-1 bay theo đội hình chữ V, tiếp cận Bến Súc, một làng do Việt Cộng kiểm soát. Làng này là mục tiêu đầu tiên của “cái búa”. Vũ khí nhỏ khai hỏa chống lại các binh lính bộ binh xâm nhập , nhưng trong vòng vài giờ, Bến Súc đã nằm dưới sự kiểm soát của Hoa Kỳ, và quân đội miền Nam được đưa vào để thẩm vấn tất cả những người đàn ông trong độ tuổi từ 15 đến 45. Vào cuối ngày đầu tiên, 106 người đã được sàng lọc; 28 được xác định là Việt Cộng. Những người lính cũng đã phát hiện ra một mạng lưới đường hầm của Việt Cộng bên dưới ngôi làng.

Tuy vậy, thách thức lớn hơn là phải làm gì với số dân làng còn lại – vì các chỉ huy quân đội Mỹ đã quyết định san bằng Bến Súc, hơn là để cho nó trở về trong tay địch quân (một nỗ lực mà phóng viên Jonathan Schell sau đó đã mô tả trong cuốn sách của ông “Làng của Bến Súc “). Cuối cùng, 582 đàn ông, 1.651 phụ nữ và 3.754 trẻ em đã được tái định cư, cùng với 247 con trâu, 225 con bò và 60 tấn gạo. Khi họ ra đi, các chỉ huy đã ra lệnh đào một lỗ lớn ở giữa ngôi làng, và 10.000 cân chất nổ đã được kích nổ để phá hủy cả ngôi làng và những đường hầm ở dưới đó.

Di dời dân chúng khỏi Bến Súc, vùng do VC kiểm soát, 14 tháng Giêng 1967
Di dời dân chúng khỏi Bến Súc, vùng do VC kiểm soát, 14 tháng Giêng 1967

Trong một khoảnh khắc, Bến Súc không còn tồn tại nữa. Loại hành quân tìm và diệt, và việc tái định cư dân thường tiếp theo sau đó sẽ trở thành công việc thường ngày vào năm 1967, khi Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam của họ tìm cách kiểm soát các ấp và làng mạc của miền Nam Việt Nam.

Kết quả của các hoạt động trong 20 ngày tiếp theo đó là “đếm xác chết” (“body count”) của 750 Việt Cộng và 280 tù binh (trong số 30.000 binh sĩ Mỹ và Nam Việt Nam của chiến dịch, có 72 người Mỹ và 11 người Việt Nam đã thiệt mạng). Tuy nhiên, theo các nguồn tin quân sự, thành tựu đáng kể nhất là xác nhận sự tồn tại của một mê cung rộng lớn những đường hầm ở phía tây bắc của Sài Gòn mà sẽ trở thành mục tiêu khó khống chế được cho lực lượng đồng minh trong thời gian sáu năm tới. Tại các hoạt động trong tương lai, chi nhánh của tổ hợp đường hầm này thậm chí sẽ được phát hiện ra ở ngay dưới căn cứ lớn của Sư đoàn 25 ở Củ Chi. Những đường hầm này cũng sẽ trở thành trụ sở chính cho kế hoạch tấn công Tết Mậu Thân, sẽ được tiến hành vào tháng Giêng năm 1968, chỉ 12 tháng sau đó.

Tuy nhiên, những kết quả này, đặc biệt là số xác chết đếm được, vẫn không làm hài lòng các chỉ huy đồng minh, những người đã mong đợi rằng các chiến dịch tìm và diệt như ở Bến Súc sẽ giết hay bắt được quân địch nhiều cho tới mức có thể làm suy yếu Tam Giác Sắt. Vì vậy, một hoạt động lớn khác đã được tiến hành ngay sau đó, hoạt động mang tên nguyên thủy của Chiến dịch Junction City.

Nếu như Chiến dịch Cedar Falls là một cái búa và một cái đe thì Chiến dịch Junction City là một “móng ngựa”. Hơn 25.000 binh lính sẽ giao tranh với quân địch bằng cách tạo một vị trí hình chữ U ngược thật lớn ở vùng phía bắc của Tam Giác Sắt, cũng được gọi là Chiến khu C, với mặt mở ra của cái móng ngựa hướng về phía nam. Kế hoạch là sẽ đẩy  đối phương đến hai chân đối diện của cái móng ngựa nhằm tiêu diệt các lực lượng đối phương qua tiêu hao – tiêu diệt các đơn vị thay vì chỉ xua đuổi họ ra khỏi làng mạc. Các chỉ huy quân đội đồng minh tin rằng Cedar Falls đã trở thành quá nhiều những cuộc đụng độ nhỏ với thương vong quá ít cho kẻ địch, và họ tin rằng việc sử dụng các đơn vị lớn hơn của Mỹ sẽ gây thương vong nhiều hơn.

Vào ngày đầu tiên của chiến dịch, 845 người lính thuộc Lữ Đoàn Dù 173 đã nhảy ra khỏi những chiếc máy bay C-130 Hercules, những chiếc mà cũng đã thả pháo binh và các thiết bị quân sự khác xuống. Đây là lần đầu tiên, và sẽ là lần duy nhất, có một cuộc tấn công bằng nhảy dù trong Chiến tranh Việt Nam. Nó được dự định để nhanh chóng đưa những người lính vào giữa những cái chân của móng ngựa, và từ đó, tìm kiếm Văn phòng Trung ương Cục miền Nam Việt Nam, hay Cosvn, bản doanh chính của đối phương, được cho là nằm gần biên giới Campuchia.

Cuộc tấn công bằng nhảy dù là cần thiết, nhưng nó cũng tạo ra một ấn tượng tuyệt vời ở quê nhà: Hình ảnh những người lính dù Mỹ nhảy vào cuộc chiến nhắc mọi người nhớ đến những chiến dịch của Đệ Nhị Thế Chiến ở châu Âu. Tổng thống Lyndon B. Johnson hy vọng rằng nhìn thấy những hình ảnh như vậy trong những bài tường thuật lớn sẽ mang lại cho người Mỹ niềm tin rằng chiến thắng sẽ sớm được tuyên bố.

Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967
Lính Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 173 nhảy dù trong Chiến dịch Junction City, 1967

Tuy nhiên, Chiến dịch Junction City đã thất bại trong việc tìm và diệt Cosvn – bởi vì trụ sở chính đó không tồn tại, hay ít nhất như là một căn cứ cố định. Việt Cộng đã hoạt động từ những cơ sở mang tính di động nhiều hơn do có mối đe dọa thường xuyên từ không kích, các chiến dịch bộ binh và từ những cân nhắc về về hậu cần. Tính di động như vậy cho phép họ phối hợp tốt hơn các hoạt động của họ với người Bắc Việt và rút lui qua biên giới Campuchia khi cần thiết. Sau 82 ngày chiến đấu, Junction City kết thúc với 282 người Mỹ bị giết chết và thương vong được báo cáo của Việt Cộng và Bắc Việt là 2728 người.

Kết quả chung của Cedar Falls / Junction City là khoảng 3.500 quân của Việt Cộng và Bắc Việt bị giết chết, với giá phải trả là 350 sinh mạng người Mỹ. Tỷ lệ 10-1 này sẽ tiếp tục trong hầu hết thời gian của cuộc chiến tranh, nhưng “thời kỳ của những trận đánh lớn,” với tất cả quy mô và sức mạnh của nó, đã không thể làm thay đổi được đà của chiến tranh.

Bằng cách không bao giờ cho phép các đơn vị lớn của họ chạm trán với các đơn vị lớn của Mỹ, các đơn vị của Việt Cộng và Bắc Việt vẫn còn nguyên vẹn về mặt tổ chức và sống sót để chiến đấu vào một ngày khác. “Thời kỳ của những trận đánh lớn” được cho là nhằm để đặt người Mỹ vào một thế chủ động tấn công, nhưng 70 phần trăm các cuộc chạm trán là do Việt Cộng và Bắc Việt khởi đầu. Người cộng sản đã chiến đấu theo các quy luật riêng của họ và chọn lựa thời điểm, vị trí và thời gian kéo dài cuộc chiến đấu, điều mà cuối cùng sẽ dẫn đến chiến thắng.

Ron Milam là giáo sư lịch sử tại Texas Tech. Tác giả của cuốn “Không phải chiến tranh của một người đàn ông: “Not a Gentleman’s War: An Inside View of Junior Officers in the Vietnam War,” ông là một cựu chiến binh của Chiến tranh Việt Nam.

Phan Ba dịch

Nguồn: https://www.nytimes.com/2017/01/10/opinion/1967-the-era-of-big-battles-in-vietnam.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam và trang Tài Liệu

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s