Vinh Quang của sự Phi Lý (27)

Hình ảnh hai người lính an ủi nhau trong u buồn đã day dứt tôi như là một trong những biểu tượng mạnh mẽ nhất của cuộc chiến Việt Nam trong suốt 40 năm sau đó. Đứng trên phương diện nhân bản, đó là một cảnh tượng đẹp đẽ, hai thanh niên khác biệt về văn hóa nhưng đã cảm thông nhau trong sự đau khổ và cùng chung một kẻ thù với những thủ đoạn tàn bạo mà Hương vừa mới diễn tả một cách linh hoạt chỉ bằng một vài câu ngắn ngủi.

Tuy nhiên cảnh này không phản ảnh được mối quan hệ chung giữa lính Mỹ và lính Việt Nam Cộng Hoà, cũng như không nói lên được sự tương quan giữa lính Mỹ và dân chúng Việt Nam. Trong năm thứ nhì khi Hoa Kỳ triển khai lực lượng tại Việt Nam, rất nhiều binh lính đã biểu lộ một thái độ thù địch mạnh mẽ đối với dân chúng của nước chủ nhà, theo một công trình nghiên cứu của sử gia Hoa Kỳ Guenter Lewy.

Lính TQLC Đại Hàn đang chuẩn bị vị trí phòng thủ ở gần Tuy Hòa
Lính TQLC Đại Hàn đang chuẩn bị vị trí phòng thủ ở gần Tuy Hòa

“Một cuộc khảo sát lính Thủy Quân Lục Chiến trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vào năm 1966 đã cho thấy rằng 40 % lính Thủy Quân Lục Chiến ghét người Việt Nam và thái độ này đặc biệt rõ rệt nhất đối với cấp chỉ huy các đơn vị nhỏ. Chỉ dưới một phần năm các hạ sĩ quan là có thiện cảm với lính Việt Nam Cộng Hòa hay địa phương quân,” Lewy viết trong cuốn sách Amerika in Vietnam (New York: 1978), một công trình mà tờ The Economist ca ngợi là “sáng suốt… trên nhiều mặt là một cuốn sách lịch sử hay nhất từ trước đến nay.”

“Thái độ thù ghét này thường là do tính kỳ thị chủng tộc”, Lewy tiếp tục, “đó cũng là hậu quả từ việc những người lính này… cảm thấy bị chìm ngập trong một biển thù nghịch, một tình trạng khiến họ không thể tin cậy bất cứ một người Việt Nam nào được.” Sau đó ông mô tả tình trạng mà các chiến binh Mỹ thường gặp phải: “Họ phải chịu đựng nỗi sợ hãi chết người vì hoạt động của địch quân – phục kích, bắn tỉa, mìn và bẫy cá nhân. Đồng đội bị ngã gục mà không thấy bóng dáng kẻ thù đâu cả để phục thù cho những mất mát này. Những người tưởng chừng là dân lành hóa ra lại là VC, là phụ nữ và trẻ em ném lựu đạn vào họ hoặc gài bẫy họ. Dần dần toàn bộ người dân Việt Nam đã trở thành mục tiêu cho nỗi sợ hãi và lòng thù hận.

Có lần tôi chứng kiến các bà nhà quê trông dáng dấp bên ngoài thì hiền lành nhưng bị bắt quả tang đang âm mưu cài bẫy. Họ dùng gai tre gọt thành mũi xiên, hơ qua lửa cho cứng lại và tẩm phân người lên đó. Hàng loạt những cái bẫy này được cài trong cỏ và đặt ở một góc độ thích hợp để có thể xuyên thủng giày bố của lính Mỹ và làm độc ngay lập tức. Nạn nhân phải được tản thương ngay và thường thì mất luôn bàn chân.

Lewy trích dẫn lời một thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đã kể với bác sĩ, “anh lội bộ qua những bụi cây ba ngày đêm không ngủ. Rồi thấy binh lính, đồng đội là những người lính trẻ bị trúng mìn bẫy cài bởi một bà già. Nổ tung lên trời cả hai thước và rớt xuống đứt cả đôi chân.” Tay thiếu úy này kết thúc cơn nóng giận bằng cách tuyên bố là cuối cùng rồi ai cũng phải kết luận rằng điều duy nhất cần làm là phải “giết sạch chúng nó.”

Sự nhẫn tâm đối với người Việt Nam cũng được tạo ra bởi những bài viết và tuyên bố của nhiều nhà báo và chính trị gia Mỹ trong lúc tìm giải pháp chấm dứt sự tham gia của Hoa Kỳ, trong nhiều năm liền, đã phóng đại những lỗi lầm của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà và từ từ tạo ra hình ảnh một dân tộc không đáng được bảo vệ, nếu không nói là chẳng có một chút giá trị nào cả,” Lewy, một người tỵ nạn Đức Quốc Xã, tiếp. “Vì tất cả những lý do đó, một số người Mỹ đã coi người dân miền Nam Việt Nam còn kém hơn cả con người. Tuy nhiên, sự đồng tình với nguyên tắc ‘chỉ là bọn Việt’ có thể đã bị phóng đại lên. Bởi vì, đối lại với mỗi hành động độc ác hay mỗi trường hợp mất tin tưởng và thù địch, các nhà quan sát khách quan tại Việt Nam đều thấy có những ví dụ về tình hữu nghị và lòng quảng đại. Có những người lính Mỹ, hay đôi khi cả một đơn vị đã nhận nuôi trẻ mồ côi và các trẻ em khác, Đồng thời tham gia vào những chương trình dân sự vụ.”

Đó cũng là những gì tôi quan sát thấy trong nhiều năm làm việc tại Việt Nam. Tôi thường chứng kiến cảnh những người lính Mỹ bị thương nặng vì cố gắng bảo vệ dân lành không bị hại. Trong một trường hợp, tôi có mặt lúc Việt Cộng ném quả lựu đạn vào một trung đội Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đang bao quanh bởi một đám đông phụ nữ và trẻ em. Viên Trung uý Trung đội trưởng đã dùng thân mình để ôm lấy trái lựu đạn và chịu sức nổ bằng thân thể mình để tránh cho những người Việt Nam chung quanh không bị thương hoặc sát hại. Anh đã chết ngay lập tức, thân xác anh nát vụn vì mảnh lựu đạn, nhưng những người khác chẳng ai hề hấn gì. Nhiều phụ nữ khóc nức nở và ôm những anh lính Thủy Quân Lục Chiến còn đang bàng hoàng, biểu lộ lòng biết ơn tấm gương hy sinh của viên sĩ quan chỉ huy họ.

Sự ngu dốt là một lý do khác nữa cho việc tại sao nhiều người lính Mỹ đã miệt thị người Việt Nam bằng những từ ngữ như gooks, dinks, slopes và slants. Họ chưa bao giờ thấy, nghe hay đọc về lòng dũng cảm của các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa. Sự quả cảm này còn tiếp tục tồn tại cho đến ngày Sài Gòn thất thủ vào năm 1975 khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà đã chiến đấu kiên trì mặc dù biết rằng họ đã mất hết tất cả. Sự ngu dốt này một phần do tinh thần cục bộ của các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ, thậm chí ngày nay còn nặng nề hơn bốn thập niên trước. Khi lực lượng bộ binh Hoa Kỳ đổ bộ lên Việt Nam, rất ít phóng viên Mỹ bận tâm đến chuyện dành thời gian tìm hiểu các đại đội và trung đội Việt Nam Cộng Hoà cũng như sự hiện diện của một toán quân lớn người Thái Lan và thậm chí cả hai sư đoàn và một trung đoàn Đại Hàn rất đáng chú ý. Giống như những nước đồng minh của Hoa Kỳ tại chiến trường Afghanistan trong thời điểm bài viết này như Đức, Pháp, Úc, Hà Lan, Đan Mạch hay Na Uy, họ đã bị truyền hình và báo chí Mỹ bỏ quên một cách ngạo mạng.

Trong trường hợp của những người Nam Hàn thì thật là khó hiểu vì có lẽ họ là lực lượng chiến đấu hiệu quả nhất trong toàn cuộc chiến. Họ chiến đấu dữ dội đến nỗi chỉ huy cộng sản phải ra lệnh cho lính phải rút lui chứ không nên đụng vào những người Á châu đáng sợ này nếu chẳng may chạm họ ngoại trận địa. Lần đầu tiên tôi đến thăm bản doanh của Sư đoàn 9 Bộ binh Đại Hàn, mệnh danh là “Sư đoàn Bạch Mã” ở Ninh Hòa, tôi được họ cắt cử một tùy viên nằm ngủ dưới chân giường trong một doanh trại thật sạch sẽ không một cọng rác nào của sư đoàn. 5 giờ sáng hôm sau, anh tùy viên đánh thức tôi dậy ra ngoài để xem một cảnh tượng đáng kinh ngạc: tất cả mọi người, từ cấp chỉ huy trưởng trở xuống cho đến anh lính trơn đều đang tập Thái Cực Đạo, một trường phái Karate của người Đại Hàn. Trong những thế võ có động tác chặt gạch bằng tay không, một kỹ năng mà họ rất thích sử dụng ngoài chiến trường.

Tôi tháp tùng một trung đội Bạch Mã đi tuần tra. Trước khi di chuyển, thuyết trình viên báo với tôi là có thể chỉ là một cuộc di hành thong thả như một cuộc dạo chơi trong công viên. “Khi chúng tôi triển khai lực lượng, bọn cộng sản sẽ triệt thoái đi chỗ khác,” anh ta cười khàn với tôi. Tuy vậy, rõ ràng có một tên lính Việt Cộng không nhận được lên đó. Khi chúng tôi vượt qua một trảng trống, có tiếng bắn sẻ từ hàng cây vọng qua.

Giận dữ, tay Trung đội trưởng ra lệnh cho cả toán 40 người núp xuống. Anh cởi hết quần áo chỉ còn mặc bộ đồ lót trườn mình như một con mèo rình mồi, bò nhanh đến cái cây mà anh đã phát giác ra tên bắn lén. Ngậm con dao găm trong miệng, anh trèo lên cây. Sau đó là cái thủ cấp của tên giặt bị cắt rơi xuống và tiếp theo là cả thân mình hắn.

“Tốt, tốt lắm,” anh trung sĩ trung đội thì thầm với tôi, lòng đầy thán phục. “Trung uý tôi đã chặt đầu thằng VC bằng một thế Teakwondo. Ông ta vô địch trong vụ này.”

“Nhưng làm sao cắt đứt được da bằng cách đó?” Tôi hỏi.

“Không, chúng tôi dùng dao găm hay đôi khi cả răng nữa để làm chuyện này. Có lẽ lần này ông Trung Quý đã dùng dao.”

Tay Trung đội trưởng quay lại, cắm con dao găm xuống mặt đất nhiều lần để lau sạch máu. Mặc lại bộ quân phục, anh tuyên bố điều hiển nhiên:

“Không còn VC trong vùng tôi phụ trách nữa.”

Thế là chúng tôi tiếp tục cuộc tuần tra.

“Họ là những người đáng sợ lắm,” anh Lành thông dịch viên của tôi kể lại sau này khi tôi trở lại Sài Gòn. “Nhưng dân địa phương rất thích lính Đại Hàn vì họ giữ an ninh và ngăn chận được những vụ xâm nhập ghê rợn vào ban đêm của bọn khủng bố Việt Cộng. Lính Đại Hàn cũng tỏ ra hữu sự trong sinh hoạt hằng ngày ngoài đồng quê. Rất nhiều lính Đại Hàn vốn là nông dân trồng lúa. Vào mùa gặt, họ giúp dân làng trong công việc của họ, mang theo máy giã lúa chạy bằng chân đạp nhưng hiệu quả gấp 10 lần cách đập lúa cổ truyền mà lại không cần đầu tư tiền bạc sân nhất gì cả. Thật là một chính sách rất khôn ngoan, đúng không?”

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (26)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (28)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (27)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s