Tôi đã từng yêu người cộng sản

Cao Giao

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 20 / 1985: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13513784.html

Người Việt Cao Giao viết về cuộc đời và những lần ở chốn lao tù của ông. Ông chiến đấu với người Nhật chống lại người Pháp và thông đồng với người Mỹ chống lại nhà độc tài Diệm: Cuộc đời của Cao Giao, một nhà trí thức Việt Nam, đã là người thông dịch cho tờ SPIEGEL ở Việt Nam, đại diện cho lịch sử của đất nước ông. Ông ngồi tù 21 lần như là tù chính trị, lần cuối cùng ở những người cộng sản. Mới đây, Cao Giao được phép rời khỏi quê hương của ông

Lúc nào cũng tối tăm nên tôi không bao giờ biết là ngày hay đêm. Không có cửa sổ, không có ánh sáng.

Tôi bị bắt và ngay lập tức bị biệt giam. Xà lim của tôi rộng 1,20 nhân 1,80, sàn bằng bê tông, ở một phía có một cái cửa ra vào lúc nào cũng đóng kính và ở phía dưới có một cái lỗ để đưa thức ăn vào; ở phía kia có một cái lỗ ở trên sàn, nơi tôi giải quyết các nhu cầu về vệ sinh của tôi.

Vào cái ngày mà người ta nhốt tôi ở đây, tôi đã tự nói với mình: “Mình sẽ không bao giờ còn sống mà ra khỏi nơi đây đâu.” Thế nhưng tôi vẫn còn sống. Một tuần, một tháng, một năm – một sự vô tận.

Vào buổi trưa bao nào cũng có một cái còi hú lên. Người ta có thể đếm ngày bằng cách này. Chỉ chủ nhật là không có còi. Người ta chờ, nhưng cái còi câm lặng. Rồi người ta biết hôm đó là ngày chủ nhật.

Hỏa Lò, Hà Nội, 1954
Hỏa Lò, Hà Nội, 1954

Trong xà lim riêng của tôi, tôi có nhiều thời gian để nghĩ về cuộc đời của tôi: hơn nửa thế kỷ chiến đấu cho nền độc lập của đất nước tôi, một cuộc đời ở giữa những lần vào tù và ra tù.

Thường thì cùng là những nhà tù đó, chỉ có những người canh là thay đổi – tùy theo chế độ. Vì nền độc lập của Việt Nam, trong Đệ nhị Thế chiến tôi đã cộng tác với người Nhật và sau đó là với người Mỹ. Tôi đã làm việc cùng với nhà độc tài công giáo Ngô Đình Diệm và rồi mưu phản lại ông ta.

Tôi đã ở trong tù 21 lần. Tôi đã bị tra tấn bằng điện ba lần. Và rồi tôi lại ngồi tù, lần này thì là tù nhân của những người cuối cùng đã mang lại nền độc lập: những người cộng sản.

Tôi chào đời vào ngày 20 tháng Ba năm 1917 trong một ngôi làng trên “đường Thiên Lý”, cách Hà Nội 50 kilômét về phía Nam. Ngày xưa, Nguyễn Huệ đã cùng quân đội của ông đi trên con đường này để tiến vào trận đánh chống người Trung Quốc triều nhà Thanh.

Họ tiến quân theo nhóm ba người: Một người lính nghỉ ngơi trên cái võng, hai người cáng người này đi. Chính Nguyễn Huệ đã này ra ý tưởng này. Nhờ ông mà người Việt đã gây bất ngờ cho người Trung Quốc qua lần hành quân thần tốc và đã có thể đánh thắng họ.

Thời đó, người ta cho rằng có 20.000 người chết ở bên phía Trung Quốc. Người Việt chất xác chết, người ta thuật lại như vậy, lên thành một ngọn đồi, rồi dựng một cái miếu ở trên đó – như là một tượng đài nhắc nhở tới những lần tấn công Việt Nam bị thất bại của Trung Quốc.

Tôi đã nghe được câu chuyện này từ khi còn nhỏ. Ở chúng tôi, nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có lẽ đó cũng là lý do, tại sao người gia đình tôi đã luôn tham gia vào trong tất cả các phong trào yêu nước Việt Nam, cả phong trào chống chủ nghĩa thực dân Pháp. Chỉ cha tôi là không. Ông là người con trai duy nhất. Để bảo đảm có người nối dõi, ông tôi đã cấm cha tôi tham gia cách mạng. Ông muốn cha tôi làm quan

Nhưng chính ông, ông nội tôi, thì đã tham gia “cuộc nổi dậy của những người có học” và đã chiến đấu chống lại người Pháp. Ở nhà, tôi luôn nhìn thấy ông ngồi trên những chiếc gối, ngay cả trong mùa hè, khi trời rất nóng nực. Mãi lúc ông qua đời, khi ông được ướp và bọc trong vải liệm và được đặt trở lại trên những cái gối đó, theo như phong tục của chúng tôi, thì tôi mới biết là ông không có mông nữa. Nó đã bị rách nát bởi một quả đạn pháo của người Pháp.

Gia đình tôi là một gia đình phong kiến, một gia đình có học, có truyền thống lâu đời. Gia đình tôi chịu trách nhiệm dạy học trong làng, chịu trách nhiệm bảo quản Văn Miếu. Cha tôi là tác giả của một quyển từ điển Hán Việt.

Nơi tôi sinh ra đời có tên là Văn Phú. “Văn” có nghĩa là “văn học”, “Phú” là giàu có. Ngôi làng do tổ tiên của chúng tôi thành lập, là người dạy học cho một hoàng tử. Khi hoàng tử này lên ngôi vua, ông tổ của tôi vì khiêm nhường mà đã từ chối không muốn làm cố vấn cho nhà vua.

Thế là nhà vua đã tặng cho ông 10.000 mẫu đất – ở nơi mà ông được phép tự lựa chọn. Ông tổ tôi đã chọn vùng đất hoang vắng nhất của cả nước, nơi không có ai sinh sống. Nó là lòng chảo của vùng, nơi luôn bị ngập lụt.

Gò Đống Đa
Gò Đống Đa

Ngôi làng bị nước bao quanh và bị ngập bốn tháng trong một năm. Nhà của chúng tôi có một phần nằm rất cao. Ở chỗ chúng tôi thì đó không phải là căn gác áp mái nhà mà là một giàn giáo để chúng tôi cất giữ sách của chín thế hệ. Mỗi hè, trong lúc nghỉ hè, tất cả trẻ con đều phải giúp mang sách ra phơi nắng để giữ chúng không bị ẩm. Trong suốt thời thơ ấu của tôi, tôi đã sống chung với những quyển sách đó.

Nhưng thư viện này không phải là nơi mà tôi tìm thấy những quyển sách đầu tiên về chủ nghĩa cộng sản. Tôi tìm thấy chúng trong số những quyền sách mà người thư ký tòa án của cha tôi tịch thu ở các nhà cách mạng. Là quan tòa, cha tôi chịu trách nhiệm cho tất cả các tài liệu bị tịch thu trong vùng. Chồng sách cấm này, những quyển sách mà tôi có thể tiếp cận được, đối với tôi giống như một kho báu thật sự: tôi có thể đọc được mọi thứ, từ Stalin cho tới Trotsky.

Tôi say mê chủ nghĩa cộng sản, nhưng thời đó không muốn trở thành người cộng sản.

Truyền thống gia đình tôi đã có ảnh hưởng mạnh tới tất cả các quyết định của tôi. Tôi luôn muốn làm thay đổi sự việc, tôi cũng muốn bảo toàn chúng. Tôi chưa từng bao giờ là một nhà cách mạng thật sự, tôi nhiều lắm là một kẻ nổi loạn.

Ai trong chúng tôi đi vào một con đường sai lầm thì người đó gây nguy hiểm cho cả gia đình. Nhưng gia đình là một cái gì đó rất quý giá. Và cả nó cũng là một mâu thuẫn: Một mặt, người ta nổi dậy chống quân đội Pháp đang chiếm đóng, chống lại những bất công của một nền hành chánh nước ngoài; ở mặt kia thì người ta gắn kết rất mạnh với truyền thống, người ta bảo thủ. Và ở chúng tôi thì truyền thống là rất lâu đời.

Lúc đầu, gia đình tôi tự gọi mình đơn giản là Nguyễn. Nhưng vì tổ tiên tôi đã tham gia vào một phong trào cách mạng nên họ phải chạy trốn ra một vùng đất hẻo lánh. Ở đó, họ được một gia đình họ Trần thu nhận và đã lấy họ của gia đình này. Khi gia đình tôi được nhà vua cho phép trở về làng của mình sau một thế hệ thì họ lấy lại họ Nguyễn cũ, nhưng vẫn giữ lấy họ Trần từ lòng kính trọng và cảm kích.

Tất cả những điều đó đã được ghi lại trong biên niên sử của gia đình tôi. Một bản sao biên niên sử này với phả hệ gia đình, mà trong đó tên họ của tất cả các thân nhân đã chết và còn sống được ghi vào trong đó, được chôn trong một ngôi nhà tre hai, ba tháng trước sinh nhật của người trưởng gia đình.

Lúc tôi còn bé, người đứng đầu gia đình này là ông tôi. Tôi còn nhớ rõ, các văn kiện này được long trọng đào lên vào sinh nhật của ông như thế nào, và tất cả mọi người đều vui mừng vì quyển biên niên của tổ tiên chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn và quá khứ của chúng tôi không bị xóa mất.

Trong toàn bộ cuộc đời tôi, tôi chưa từng thuộc một đảng phái nào – ngay cả khi tôi ngưỡng mộ những người cộng sản. Người thầy giáo đầu tiên của tôi là người cộng sản. Người Pháp đã quản thúc tại gia người thầy của tôi và giao cho cha tôi chịu trách nhiệm về ông ấy, để cha tôi giam ông ấy. Sau đó, cha tôi đã giao ông ấy giảng dạy cho tôi những bài học đầu tiên. Ông có tên là Nguyễn Lương Bằng. 50 năm sau đó, ông trở thành chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ông qua đời vào ngày được bổ nhiệm.

Từ thủa bé, tôi đã có cảm giác phải đấu tranh chống lại chế độ thực dân Pháp. Ngay từ những năm sớm nhất, tôi đã mong muốn nước tôi được tự do, độc lập và được chính chúng tôi điều hành.

Tôi 14 tuổi khi bị người Pháp bắt giam lần đầu. Lúc đó, tôi đi học ở trường trung học của nước Pháp bảo hộ. Học sinh chúng tôi mang đậm tính dân tộc chủ nghĩa và không chịu đựng được việc phải học lịch sử Pháp, luôn bắt đầu với lời mở đầu nổi tiếng: “Tổ tiên của chúng ta, người Gaulois…”

Tổ tiên của tôi không phải là người Gaulois. Tổ tiên của chúng tôi là người Việt, đã đấu tranh để không bị người Hoa nô dịch. Cùng với bạn bè, tôi làm một tờ báo bí mật chống Pháp. Vào ngày in tờ báo, tôi rãi thuốc lào lên mắt để bị đau mắt đỏ và không phải đi học. Nhưng rồi có ai đó từ nhà in đã tố cáo tôi.

Công việc làm đầu tiên của tôi là làm báo tại một tờ báo tiếng Pháp nhưng chống Pháp ở Hà Nội, tờ “L’effort et L’essort”, có thể tạm dịch là “Nỗ lực và Khởi đầu”.

Năm 1941, khi người Nhật tiến quân vào Việt Nam, tôi nhận ra ngay lập tức rằng họ có thể giúp chúng tôi chống lại người Pháp, giành lại tự do cho chúng tôi.

Người Nhật tuyên truyền cho “Đại Á” của họ. Họ nói về sự độc lập với chủ nghĩa thực dân da trắng, điều tất nhiên là khiến cho giới trẻ chúng tôi rất hào hứng. Nước Nhật đã là huyền thoại: đất nước châu Á bé nhỏ này đã dám tấn công nước Nga rộng lớn và sau đó là Trung Quốc rộng lớn, vương quốc của các thần thánh. Đối với chúng tôi, người Nhật là những người anh hùng. Vì thế mà tôi đã chiến đấu cho thất bại đầu tiên của tôi.

Qua một người trong gia đình, một người anh em họ đã học đại học ở Tokio và trở về Việt Nam cùng với quân đội Nhật, tôi được giới thiệu vào Ủy ban Văn hóa Nhật ở Hà Nội. Lúc đầu, tôi chỉ biên dịch. Nhưng cuối cùng thì tôi giữ liên lạc với các phong trào quốc gia và theo Nhật ở Đông Nam Á.

Ủy ban Văn hóa Nhật thật ra là bộ chính trị của quân đội Nhật Hoàng cho Đông Dương. Đồng thời, tôi cũng lãnh đạo tờ báo L’action catholique.

Người cộng sản chống lại một sự hợp tác với người Nhật. Nhưng rồi khi nước Nhật đầu hàng trong tháng Tám 1945 và người cộng sản tiếp nhận quyền lực thì vào lúc ban đầu họ cần phải dựa vào chúng tôi là những người hợp tác, vì bản thân họ yếu và ít được biết tới.

Tôi còn nhớ chính xác ngày 2 tháng Chín 1945, khi Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc đó, người dân hỏi: “Ai là gã nông dân đó vậy? Ai là người Trung Hoa đó vậy?”

Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh lúc vừa đọc xong bản Tuyên ngôn Độc lập
Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh lúc vừa đọc xong bản Tuyên ngôn Độc lập

Người cộng sản gọi tôi, vì họ muốn in một tờ báo. Người Nhật đã dấu mọi thứ. Tôi là người duy nhất biết giấy, máy móc và mực in ở đâu.

Vì thế mà tôi đã trở thành thơ ký cho tờ nhật báo đầu tiên của chế độ mới “cộng hòa, nhân dân”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau này là chính ủy của tôi. Ông lãnh đạo tờ báo, nhưng tôi làm ra nó. Thế nhưng sau vài tháng thì tôi bị Việt Minh bắt và tra tấn vì là người hợp tác với Nhật.

Khi người Pháp trở lại Hà Nội trong tháng Mười Hai 1946, để tiếp nhận lại đất nước bảo hộ của họ, họ cũng bắt giam tôi ngay lập tức – lần này thì do tôi là người hợp tác với cộng sản. Sau đó, họ muốn trục xuất tôi và đưa tôi sang Pháp lưu vong.

Vợ tôi muốn đi, nhưng tôi chống lại. Lúc đó tôi không muốn sống lưu vong ở Pháp. Ngày nay, 40 năm sau đó, thì ngược lại, tôi rất muốn sang Pháp – lần này thì là như một người tỵ nạn. Đó là một mâu thuẫn nữa của cuộc đời tôi. Cuộc đời của mọi người Việt đều đầy những mâu thuẫn như vậy.

Tôi còn nhớ, rằng tôi đang ở Hà Nội năm 1954, vào ngày của Điện Biên Phủ – trong tự do. Tôi sẽ không bao giờ quên được cái ngày đó. Tôi đang đi dạo trên đường phố khi một người bạn, một người Việt, phấn khích chạy tới với tôi: “Thắng rồi, thắng rồi!” “Ai thắng?” tôi hỏi ông. “Thắng rồi, thắng rồi!”, ông chỉ lập lại.

Vào chiều tối, ông ấy mời chúng tôi đến nhà. Khi chúng tôi bắt đầu ăn mừng lần chiến thắng người Pháp thì ông xếp đồ đạc vào va li. Ông ra đi vào ngày hôm sau – sang Pháp.

Thay vì đi Pháp, tôi vào miền Nam Việt Nam. Là người Việt, tôi rất hãnh diện trước chiến thắng của Việt Minh. Nhưng tôi không phải là người cộng sản và không thể sống dưới những người cộng sản. Tôi đã mua vũ khí cho họ và đã thương lượng với người Nhật vì chuyện này. Nhưng tôi cũng quen biết gần gũi với họ, những người cộng sản.

Vào thời tôi còn trẻ, trong số sinh viên cũng có những người tự gọi mình là người theo Trotsky. Lúc nắm lấy quyền lực, người cộng sản đã bắt giam và thủ tiêu tất cả những người này. Trong thời cải cách ruộng đất, họ cũng đã giết hàng ngàn người. Bức ảnh cha tôi, đã qua đời trong thời gian đó, bị họ đặt tại một ngã tư trong ngôi làng nơi ông sinh ra, để người dân tiểu tiện lên đó.

Mục đích của cuộc cải cách không phải là tái phân chia đất đai, mà là đập tan uy quyền của những gia đình xưa cũ như gia đình chúng tôi. Đối với người anh em của tôi thì điều đó không có gì là tệ hại cả. Ông ở lại Hà Nội và trở thành đảng viên. Nhưng tôi thì quyết định vào Nam.

Cải cách ruộng đất ở miền Bắc
Cải cách ruộng đất ở miền Bắc

Ở đó, tôi thay đổi tên họ và lấy bút danh Cao Giao của tôi, dựa vào tựa của quyển sách chính trị đầu tiên có nguồn gốc từ Trung Quốc “Le Cao Giao Mo”, có nghĩa như “kế hoạch của Cao Giao cho hạnh phúc của con người”. Tôi đã sở hữu một thư viện riêng với 20.000 quyển sách mà tôi phải bỏ lại.

Lúc vào tới Sài Gòn, đầu tiên là tôi mua một quyển sách hướng dẫn sửa chữa tủ lạnh. Chúng tôi không có tiền, và trời thì rất nóng nực. Vì vậy mà tôi nghĩ rằng đó là một việc tốt, sửa chữa tủ lạnh. Nhưng không thành công. Vì vậy mà tôi làm báo trở lại và chẳng bao lâu sau đó lại vào tù.

Tổng thống Diệm là người cho bắt giam tôi năm 1958. Tôi quen biết ông từ những năm bốn mươi, khi cả hai chúng tôi hợp tác với người Nhật. Ở Hà Nội, tôi đã từng là người đại diện cho ông. Tôi cũng đã tổ chức cuộc gặp gỡ giữa Ngô Đình Diệm và người Ấn lãnh đạo phong trào quốc gia chủ nghĩa theo Nhật Chandra Bose ở Singapore.

Diệm là người công giáo và chống cộng sản kịch liệt. Thế nhưng ông sợ người cộng sản và theo đuổi một chính sách củng cố sự chia cắt đất nước đã được đưa ra trong các hiệp định Genève: ở miền Bắc là người cộng sản, trong miền Nam là những người chống cộng sản. Tôi thì ngược lại muốn thống nhất đất nước bằng mọi giá, qua đấu tranh hay thỏa hiệp, nhưng không bao giờ chia cắt.

Nước Đức là một đất nước chiến bại bị các thế lực chiến thắng quyết định chia cắt. Triều Tiên là một thuộc địa cần phải chia cắt. Việt Nam ngược lại thì đã chiến đấu cho nền độc lập trong sự thống nhất của nó.

Chúng tôi phân tán truyền đơn yêu cầu thống nhất – bằng bất cứ phương tiện nào. Nhưng đối với Diệm thì “thống nhất” là một khẩu hiệu cộng sản. Vì vậy mà ông đã cho người bắt tôi như là bắt một “người cộng sản”. Tôi bị tra tấn bằng điện, để thừa nhận mình là một điệp viên bí mật của Hà Nội. Sau bảy tháng tôi được thả ra – lại chính là từ anh em của Diệm.

Năm 1963, tôi đứng gần giới làm đảo chính lật đổ Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ. Ảnh hưởng của những người cộng sản ngày một to lớn hơn trong miền Nam. Họ luôn luôn ở thế tấn công, chúng tôi chỉ ở trong thế phòng thủ. Điều này phải thay đổi. Chính chúng tôi phải tấn công miền Bắc. Để làm được điều này thì chúng tôi cần sự tin tưởng và vũ khí. Người Mỹ có dư thừa những thứ đó. Lý do cho cuộc đảo chính 1963 đã có.

Dinh Gia Long trong lúc đảo chánh năm 1963
Dinh Gia Long trong lúc đảo chánh năm 1963

Người Mỹ không như người Nhật. Họ không có huyền thoại bao bọc, không phải là samurai. Họ không phải là người Á châu như người Nhật và chúng tôi – người ta không được phép quên rằng chúng tôi là những người phân biệt chủng tộc. Nhưng chúng tôi nhất định phải cần họ.

Sự xuất hiện của người Mỹ đã làm tổn hại rất nhiều tới bản sắc của miền Nam. Hậu quả về văn hóa rất là to lớn. Sự hiện diện của người Mỹ đã làm hỏng xã hội Việt Nam, làm cho nó xa lạ. Các cô con gái kiếm được nhiều tiền hơn là cha mẹ, gia đình Việt Nam đã bị tan vỡ.

Thế nhưng về mặt quân sự thì việc người Mỹ đưa quân vào đã tạo hy vọng mới cho chúng tôi. Các sĩ quan của miền Nam chán nản và mất tinh thần tới mức về mặt tâm lý cũng thậm chí không có khả năng nghĩ tới một cuộc chiến đấu thắng lợi chống người cộng sản, những người chiến thắng Điện Biên Phủ trước kia. Bản thân tôi luôn tin rằng có thể đánh bại được người Cộng Sản. Năm 1968, với cuộc tấn công vào dịp Tết, người cộng sản đã thất bại trong việc kích động người dân miền Nam.

Các hiệp định của Paris năm 1973 và việc người Mỹ rút quân mới giúp người cộng sản chiến thắng được – một chiến thắng mà họ xứng đáng với nó về mặt đạo lý.

Những người cộng sản này! Tôi đã còn yêu họ nữa. Họ là những người duy nhất bén rễ sâu vào trong đất nước của chúng tôi và vào trong phong trào quốc gia. Họ không phải là một sản phẩm của Moscow hay của Bắc Kinh, họ có sự tự chủ của họ. Vì vậy mà họ có khả năng tiến hành chiến tranh 30 năm trời, vì vậy mà người dân đi theo họ. Họ có niềm tin và lý tưởng. Tôi đã ngồi tù cùng với họ. Họ đã không gãy gục khi bị tra tấn

Năm 1975, người cộng sản đánh thức dậy nhiều hy vọng to lớn. Khi tôi tin chắc rằng họ sẽ chiếm Sài Gòn và thắng cuộc chiến, tôi không hề nghĩ tới chuyện rời bỏ đất nước.

Từ năm 1963, tôi là một nhà báo làm việc cho Đài Phát thanh Bayern [của nước Đức], cho “Newsweek” và cuối cùng cũng cho tờ Spiegel. Thế nhưng tôi tin rằng không cần phải sợ người cộng sản, ngay cả khi tôi có một quan điểm chính trị khác với họ. Người cộng sản sẽ mang lại điều mà tôi luôn mong muốn: thống nhất Việt Nam.

Khi họ nói về hòa giải dân tộc, tôi thật sự có ấn tượng là sự hòa giải này đối với chính họ cũng là một sự cần thiết, khi họ muốn tái xây dựng đất nước.

Tôi đơn giản là không thể rời bỏ Việt Nam.

Những tháng đầu tiên thật là tuyệt vời. Người cộng sản biểu hiện một lối cư xử tốt. Họ còn yếu và vì vậy mà không thể mạo hiểm bất cứ điều gì. Lúc tiến quân vào Sài Gòn, họ có chưa tới 2000 cán bộ chính trị để kiểm soát thành phố. Cơ cấu chính trị của họ đã bị phá vỡ qua những đợt bắt giam của chế độ Thiệu và bởi những chiến dịch thủ tiêu có hệ thống của cái được gọi là chiến dịch “Phượng Hoàng” do người Mỹ lãnh đạo.

Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hình: AFP
Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hình: AFP

Vì vậy mà họ bị bắt buộc phải điều hành sự việc hết sức cẩn thận. Bởi vậy mà cũng đã không xảy ra những vụ tàn sát như ai cũng dự đoán. Các cuộc bạo loạn đẫm máu ở Huế 1968, những cái đã gây hại cho họ rất nhiều, đơn giản là không được phép lập lại. Lúc chiếm thành phố của các hoàng đế ngày xưa, họ đã hành quyết trên 20.000 người chỉ trong vòng vài ngày và qua đó đã đánh mất rất nhiều uy tín. Họ muốn tránh điều đó ở Sài Gòn trong bất cứ trường hợp nào.

Thế nhưng uy tín của họ dần xấu đi. Kinh tế sụp đổ, và huyền thoại về một người lính cộng sản khổ hạnh đã tan vỡ. Vì vậy mà họ gởi kẻ cận thần và cũng là người sếp về tư tưởng của họ từ Hà Nội vào, Nguyen Khac Vien, người mà đã tuyên bố rằng những kẻ có lỗi chính là chúng tôi, giới trí thức của Sài Gòn, những kẻ thất bại chủ nghĩa.

Rồi khi đàn áp bắt đầu thì chúng tôi là những người đầu tiên bị bắt giam. Điều đó đến với tôi vào ngày 18 tháng Sáu 1978. Lúc sập tối, công an bao vây căn hộ của tôi. Họ dẫn tôi đi vào lúc trời hừng sáng. Một chiếc xe tải nhỏ chạy tới, để mang đi tất cả văn kiện, sách vở và bản thảo từ phòng làm việc của tôi – trên 100 kílô trong thùng các tông.

“Cấm không được khóc!” viên sếp công an nói với gia đình tôi. “Chúng tôi đã quen rồi”, vợ tôi đáp trả, “sẽ không có ai khóc đâu. Ông cứ dẫn chồng tôi đi đi!” Bà biết nhu cầu của tôi trong những trường hợp như vậy và đã ấn vào tay tôi một gói thuốc lá nhỏ.

Tôi được mang về trụ sở chính của an ninh Sài Gòn và bị biệt giam ngay lập tức.

Trong bóng tối hoàn toàn ở tại những nhiệt độ dao động giữa hết sức lạnh và hết sức nóng, tôi nghĩ là với tuổi của tôi thì sẽ không còn sống mà ra khỏi cái phòng giam này. Đầu tiên thì người ta luôn nghĩ tới điều đó: sống và chết. Rồi người ta quen dần và học cách giải quyết các vấn đề trước mắt – ví dụ như vấn đề với những con chuột chui vào trong qua cái hố ở đưới đất để làm hố xí cho tôi và chạy trên thân thể tôi suốt ngày đêm, 24 giờ liền.

Tôi sợ mình thiếp ngủ đi. Vì vậy mà lúc đầu tôi đã dùng áo của tôi bịt cái lỗ lại. Cuối cùng, tôi có thể giữ lại được một cái chén bằng nhựa mà người ta dùng nó để mang thức ăn vào cho tôi. Tôi dùng nó che cái lỗ lại.

Rồi kiến kéo tới, hàng đoàn kiến, nhất là vào mùa mưa. Khắp nơi đều đầy kiến, ngay cả trong thức ăn. Trong bóng tối hoàn toàn, người ta cảm nhận được chúng chạy qua trên tay trên miệng như thế nào.

Cửa chỉ được mở ra khi người ta dẫn tôi đi hỏi cung. Để tôi không bị mù vì có ánh sáng đột ngột, người ta thắt cho tôi một cái băng vải lên mắt.

Những lời buộc tội lúc nào cũng như nhau: là gián điệp của CIA, gián điệp của “Hắc Long”, của mật vụ Nhật, gián điệp của người nước ngoài (vì những mối liên hệ của tôi với các nhà báo người nước ngoài như Robert Shaplan của tờ “New Yorker” và Frances Fitzgerald, nữ tác giả của quyển “Fire in the Lake”).

Vào lúc đầu, chúng tôi còn có gạo trắng để mà ăn, thỉnh thoảng còn có những miếng cá nhỏ ở trong canh nữa. Nhưng rồi chúng tôi chỉ còn nhận gạo từ Ấn Độ, thứ chỉ cho gia súc ăn và rất khó tiêu hóa.

Con số tù nhân tăng lên từng ngày. Tuy tôi không bao giờ bị tra tấn thể xác nhưng bị áp lực rất nặng. Lúc nào cũng cùng những câu hỏi đó, lúc nào củng cùng những câu trả lời đó. Tôi chọn một chiến lược bảo vệ mà tôi biết là có tác dụng: phủ nhận hết, không nói gì hết. Tôi nghĩ cuối cùng thì họ cũng sẽ ngán ngẫm.

Một trại cải tạo ở Long Thành
Một trại cải tạo ở Long Thành

Một ngày nào đó, tôi được dẫn trở về phòng giam của tôi và rồi không được gọi đi nữa. Bốn tháng trời, cánh cửa không còn mở ra nữa. Có lẽ họ nghĩ rằng tôi đã chết rồi.

Một luật sư trẻ tuổi trong phòng giam đối diện với tôi chỉ chịu đựng được ba ngày. Một người bạn cũ, một bạn tù, xuất hiện hai lần trước phòng giam của tôi để nói với tôi rằng: “Cậu điên rồi à! Cậu phải thú nhận cậu là gián điệp của CIA. Trông tớ đây này, tớ được đối xử rất tốt. Tớ sống ở đây như một ông vua. Tớ có riêng một phòng 5,8 mét vuông cho tớ đấy.”

Người bạn tù này là một luật sư nổi tiếng, một ứng cử viên tổng thống yêu chuộng hòa bình đã từng ra tranh cử với Kỳ và Thiệu. Con trai của ông là gián điệp Việt Cộng bị Thiệu bắt, chính ông thì lại bị Việt Cộng bắt như là gián điệp của người Mỹ. Ông đã viết bản thú tội dầy 6000 trang. Nhưng tôi vẫn tiếp tục từ chối, ngay cả ký tên vào một biên bản hỏi cung cũng không.

Một ngày nào đó, sau hơn 13 tháng, tôi được dẫn ra khỏi phòng giam và đưa vào nhà tù Chí Hòa, nơi mà tôi đã từng nhiều lần ở trong đó.

Ở đó, tôi ngồi chung với 72 tù nhân trong một phòng giam. Chúng tôi có một chiếc chiếu nhỏ duy nhất để ngủ. Tức là chúng tôi phải thay nhau. Nhờ tuổi tác của tôi mà tôi được ưu đãi: những người khác để cho tôi ngủ từ nửa đêm cho tới ba giờ sáng, theo ý của các tù nhân thì đó là thời gian tốt nhất.

Chúng tôi sống không tệ. Tuy vậy, chúng tôi không được phép viết, và chỉ nhận được tin tức từ thế giới bên ngoài qua một sự sắp xếp nhỏ với những người canh tù: chúng tôi đổi một chiếc áo lấy vài tờ báo.

Trong số những người cùng ngồi tù với tôi là người trưởng địa phận dòng Tên, Nguyen Cong Doan, cựu chính trị gia, là người Hoa bị kết tội là gián điệp của Bắc Kinh, vâng, chính là một đại tá Việt Cộng, một trong những người sếp đầu tiên của Sài Gòn được giải phóng.

Vào một ngày nào đó, tôi được gọi lên lãnh đạo trại giam và được giới thiệu cho ba người ở đó, những người mà tôi chưa từng nhìn thấy trước đây. Đó là một phái đoàn của amnesty international, đã nhận tôi như là một người tù chính trị. Vài tuần sau, tôi nhận được vitamin – và hiểu rằng người ta sẽ trả tự do cho tôi.

Sau ba năm rưỡi, tôi nhận được lời khuyên hãy quên tất cả những gì mà tôi đã phải chịu đựng và được thả về nhà. Đối với tôi, lần trở về nhà này có nghĩa là: giám sát đặc biệt, không có việc làm, không có hy vọng.

Tôi đã học được nhiều thứ sau khi Sài Gòn thất thủ và trong nhà tù. Tất cả chúng tôi đã học được nhiều thứ.

Có vẻ như ngu ngốc, nhưng cho tới 1980 nhiều người, ngay cả sĩ quan cũ của chính quyền Thiệu trước đây, vẫn đơn giản không tin là người Mỹ đã thật sự bại trận. Chúng tôi nghĩ rằng người Mỹ chỉ giả vờ rời đất nước này, để cho người Việt có cơ hội tự trải nghiệm chủ nghĩa cộng sản, để sau đó tự bảo vệ mình chống nó tốt hơn. Chúng tôi tin chắc rằng người Mỹ sẽ trở lại và không chờ đợi gì ngoài lần quay trở lại của họ.

Ngày nay, chúng tôi biết được tình hình thật. Ngày nay, chúng tôi hiểu rằng chính chúng tôi phải làm gì đó.

FULRO Linh mục Công giáo tại nhà thờ ở trong rừng, nơi họ chạy trốn khỏi cuộc đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Hình: Nate Thayer
FULRO Linh mục Công giáo tại nhà thờ ở trong rừng, nơi họ chạy trốn khỏi cuộc đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Hình: Nate Thayer

Cũng có chống đối. Ở trong tù tôi đã gặp hàng chục đại diện của các nhóm đối lập. Mối nguy hiển cho những người cộng sản xuất phát từ giới trẻ, những người không còn có những cảm giác tự ti đối với họ nữa. Một vài người trốn vào bí mật. Vũ khí không phải là vấn đề, khắp nơi đều có những chỗ chôn dấu vũ khí.

Cái kỳ lạ trong cuộc kháng chiến chống cộng sản này là nó lại ẩn náu trong các thành trì mà ngày xưa người cộng sản cũng đã dấu mình ở đó. Ví dụ như cạnh con đường đi Vũng Tàu có một vùng nổi tiếng của Việt Cộng mà người Mỹ và người Sài Gòn chưa từng bao giờ kiểm soát được. Các kháng chiến quân mới cũng trốn đúng về đó.

Trên cao nguyên là các nhóm Fulro của người thiểu số, đã luôn là một vấn đề cho các cơ quan ở Sài Gòn, bây giờ là một vấn đề cho người cộng sản. Những người kháng chiến này còn tấn công vào các trại cải tạo để giải phóng tù nhân nữa.

Không còn nhiều người của chế độ cũ ngồi trong các trại này nữa, chỉ còn nhiều nhất là 20.000 người. Phần lớn tù nhân ngày nay là tù chính trị – những người đã tham gia các phong trào kháng chiến hay những nhóm tôn giáo như Hòa Hảo, Cao Đài và Công giáo, hiện là các mục tiêu đàn áp của chế độ.

Nước Việt Nam ngày nay là một đất nước của nhà tù. Mỗi huyện có nhà tù riêng, mỗi tỉnh có trại tập trung và trại lao động riêng. Chỉ riêng quanh Sài Gòn là đã có 21 trại giam. Tôi đoán rằng Việt Nam ngày nay có nhiều tù chính trị hơn là dưới thời chính quyền Thiệu.

Uy tín của Đảng đã giảm nhiều kể từ khi họ chiếm được quyền lực. Tham nhũng là một bệnh dịch, ngay cả trong số các thành viên của Bộ Chính trị. Điều đó ai cũng biết. Chính vợ của tổng tư lệnh quân đội, bà Dung, tổ chức những vụ ăn cắp vật dụng khổng lồ trong quân đội.

Để hiểu thấu được toàn bộ quy mô của sự tham nhũng này thì cần phải hình dung lại thời gian trước khi chiếm được Sài Gòn. Sau khi các hiệp định được ký kết ở Paris năm 1973, tướng Võ Nguyên Giáp muốn trước hết là thanh lọc Đảng. Ông đã nhận ra rằng tham nhũng dần dần rồi cũng lan tràn ra tới các hàng ngũ cao nhất. Ông không muốn chuyển sang xâm chiếm miền Nam khi chưa dọn dẹp sạch sẽ.

Nhưng Giáp không đạt được điều này. Lần thanh lọc lớn đã không diễn ra. Những người lẽ ra phải được loại trừ, nhất là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thúc giục tấn công miền Nam và chẳng bao lâu sau đó đã nhờ vào những huân chương mà họ giành được trong lúc chiếm Sài Gòn mà không còn có thể bị công kích được nữa. Điều này đã làm suy yếu chế độ.

Những người lý tưởng, những người cộng sản yêu nước thời trước, hầu như đã hy sinh gần hết trong chiến tranh. Nhưng những người trốn lánh, những người để cho người ta gửi sang các sứ quán trong các nước khối Đông Âu và qua đó tránh được nguy hiểm, thì lại tạo thành giới tinh hoa ngày nay của Việt Nam.

Đặc biệt giới cán bộ Đảng bậc trung là những người cơ hội và cu li. Đó chính là những người không bảo vệ quốc gia mà bảo vệ vẻ ngoài và lợi ích riêng của họ. Tấn bi kịch của Việt Nam là không còn thế hệ nào mà có thể mang lại cho đất nước một dòng máu mới và những ý tưởng mới.

Sự bất bình ngày càng lớn hơn. Người cộng sản, những người đã chiến thắng “thực dân Pháp”, “đế quốc Mỹ” và mới đây là “bành trướng Trung Quốc”, đã đánh mất uy tín của họ trong nhân dân.

Ngay cả vinh quang của họ, đã tặng cho đất nước nền độc lập, cũng đã biến mất rồi, vì nền độc lập này ngay từ đầu đã phải chịu một gánh nặng thế chấp: lãnh thổ Việt Nam bị từ bỏ; vịnh Cam Ranh ngày nay là một căn cứ quân sự thuần túy của Liên Xô mà không người Việt Nam nào được phép bước vào.

Đại tướng Văn Tiến Dũng trên boong chiến hạm BPK "Gnevnyi" tại Cam Ranh ngày 26/4/1984
Đại tướng Văn Tiến Dũng trên boong chiến hạm BPK “Gnevnyi” tại Cam Ranh ngày 26/4/1984

Sau khi được thả tự do, tôi chỉ còn nghĩ đến việc bỏ trốn. Chúng tôi đã cố thoát đi qua đường biển. Con trai út của tôi đã thành công. Sau khi tôi bị bắt, con tôi đã hiểu rằng trong đất nước của chúng tôi không còn cơ hội cho nó nữa. Con tôi đã trốn đi một mình với boat people, tới Thái Lan và sau một tháng ở trại đã sang Pháp.

Vợ tôi và tôi đã cố gắng nhiều lần và đã trả tiền nhiều lần cho một chỗ trên thuyền. Thế nhưng thậm chí tới biển chúng tôi cũng chẳng nhìn thấy được.

Các con tôi đã có thể rời đất nước năm 1983 nhờ vào sự giúp đỡ của cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Nhờ [hội từ thiện] Caritas giúp đỡ mà họ có thể sang Bỉ với hai người anh của chúng, đã đi du học trước đây 15 năm. Cuối cùng, vợ tôi và tôi nhờ sự can thiệp liên tục của amnesty international mà chính thức được phép rời bỏ đất nước.

Tôi mừng là đã được tự do. Lần đầu tiên trong đời, tôi bước chân lên đất Pháp. Mặc cho lần chiến đấu chống người Pháp trước đây, tôi đã lại tìm thấy chính mình ở đây và có cảm giác gần giống như ở nhà. Thế nhưng tôi không thể làm quen với ý nghĩ phải chấm dứt cuộc đời tôi như là một người tỵ nạn.

Có quá nhiều điều gắn kết một con người với phong cảnh và lịch sử của đất nước của người đó. Người ta không thể đơn giản là bỏ đi mà không mơ ước một ngày nào đó sẽ trở về.

Nếu không thì làm sao mà tôi có thể sống sót được, sau khi đã làm quen với bao nhiêu nhà tù đó và đã hy sinh một cuộc đời trong cuộc chiến đấu cho đất nước Việt Nam xấu số này?

Cao Giao

Phan Ba dịch từ báo Spiegel số 20 / 1985:

http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13513784.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s