Việt Nam: Cuộc chiến giết chết niềm tin

Di sản của cuộc chiến này vẫn còn định hình nước Mỹ, ngay cả khi hầu hết chúng ta vẫn còn quá trẻ để nhớ nó.

Karl Marlantes

Vào đầu mùa xuân năm 1967, vào lúc 2 giờ sáng tôi vẫn còn thảo luận sôi nổi với các sinh viên ở Đại học Yale về cuộc Chiến tranh Việt Nam. Tôi đến từ một thị trấn nhỏ ở Oregon, và tôi đã tham gia lực lượng dự bị của Thủy Quân Lục Chiến. Phần lớn bạn bè tôi chủ yếu đến từ các trường học ở East Coast. Một người nói rằng Lyndon B. Johnson đang nói dối chúng tôi về cuộc chiến. Tôi thốt lên: “Nhưng … nhưng một tổng thống Mỹ không nói dối người Mỹ!” Tất cả họ đều bật cười.

Khi tôi kể câu chuyện đó cho con tôi, tất cả chúng cũng cười phá lên. Tất nhiên là các ông tổng thống nói dối. Tất cả các chính trị gia đều nói dối. “Chúa ơi, bố, bố đến từ hành tinh nào thế?”

Trước Chiến tranh Việt Nam, hầu hết người Mỹ đều như tôi. Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, đa số người Mỹ giống như con tôi.

Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.
Lính Mỹ đang chờ trực thăng hạ cánh trong Chiến dịch Pershing ở Nam Việt Nam năm 1967.

Mỹ không chỉ thua cuộc chiến, và đánh mất cuộc sống của 58.000 thanh niên nam nữ; Việt Nam đã làm thay đổi chúng tôi như là một quốc gia. Qua nhiều cách, còn tồi tệ hơn thế: Nó khiến cho chúng ta trở nên đa nghi và không tin tưởng vào các cơ quan của chúng ta, đặc biệt là của chính phủ. Đối với nhiều người, nó đã xói mòn ý niệm, trước đây gần như là phổ quát, rằng phục vụ cho đất nước là một phần của việc là người Mỹ.

Nhưng không phải mọi thứ về cuộc chiến đều là tiêu cực. Là một trung úy Thủy Quân Lục Chiến tại Việt Nam, tôi đã thấy nó ném những người đàn ông trẻ tuổi từ nhiều sắc tộc và chủng tộc khác nhau vào với nhau và buộc họ phải phó thác cuộc sống mình cho nhau. Một cuộc thử thách sắc tộc đã đóng một vai trò lớn, ngay cả khi thường không được đánh giá cao, trong việc thúc đẩy nước Mỹ đi đến hợp nhất thật sự.

Và ngay cả khi Việt Nam tiếp tục định hình đất nước chúng ta, vị trí của nó trong ý thức quốc gia chúng ta đang trượt dốc. Khoảng 65 phần trăm người Mỹ dưới 45 tuổi và do đó không thể nhớ được cuộc chiến. Trong khi đó, những cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, sự can dự của chúng ta vào Syria, cuộc đấu tranh chống khủng bố của chúng ta – những xung đột này đang đẩy Việt Nam đi ra phía sau.

Chính vì vậy mà chúng ta cần phải nhắc lại cuộc chiến này và những hậu quả của nó cho ngày nay. Bài viết này mở đầu một loạt bài trên The Times, Vietnam’ 67, xem xét việc các sự kiện của 1967 và đầu 1968 đã định hình Việt Nam, Mỹ và thế giới như thế nào. Hy vọng là nó sẽ tạo ra những cuộc trao đổi về phần lịch sử này, bây giờ, sau nửa thế kỷ.

Độc giả mang về cho mình những gì từ các cuộc trò chuyện đó là một vấn đề khác. Nếu tất cả những gì chúng ta làm là tranh luận tại sao chúng ta đã thua cuộc, hay nói chung tại sao chúng ta lại có mặt ở đó, thì chúng ta sẽ đánh mất câu hỏi thật sự quan trọng: Chiến tranh đã làm gì với người Mỹ chúng ta?

Hoài nghi

Việt Nam đã làm thay đổi cách chúng ta nhìn nhận chính trị. Chúng ta trở nên quen thuộc với những lời nói dối của những người lãnh đạo chúng ta trong cuộc chiến: Sự kiện Vịnh Bắc Bộ được bịa đặt ra, con số của những “tỉnh được bình định” (thế nào đi nữa thì “bình định” có nghĩa là gì?), lạm phát  con số các xác chết đếm được.

Người dân nói về “khoảng cách đáng tin cậy” của Johnson. Đây là một cách nói lịch sự rằng Tổng thống đang nói dối. Mặc dù vậy, một khoảng cách đáng tin cậy được coi là bất thường và xấu xa. Vào cuối cuộc chiến, nó vẫn còn được coi là xấu, nhưng nó không còn là bất thường nữa. Ngày nay, khi các chính trị gia nói dối, những người kiểm tra sự việc có thể chỉ ra điều gì là đúng, nhưng sau đó thì ai cũng tiếp tục.

Chúng ta đã chuyển từ ngây thơ sang hoài nghi. Người ta có thể lập luận rằng họ là những đối lập, nhưng tôi không nghĩ vậy. Với sự ngây thơ,  bạn có nguy cơ bị vỡ mộng, đó là những gì đã xảy ra với tôi và nhiều người thuộc thế hệ của tôi. Tuy nhiên, hoài nghi ngăn cản bạn trước khi bạn bắt đầu. Nó làm cho chúng ta xa lánh “chính phủ”, một cụm từ mà hôm nay có ý nghĩa là một vũng lầy quan liêu. Nó đe dọa nền dân chủ, bởi vì nó phá huỷ sức mạnh của người dân thậm chí còn muốn thay đổi.

Bạn không thể hoàn thành hệ thống đường cao tốc lớn nhất thế giới, xây dựng một số lượng thật lớn những trường công lập và đại học, thành lập Xã Hội Lớn, chiến đấu trong một cuộc chiến lớn, và lên Mặt Trăng, những điều mà chúng tôi đã làm trong những năm 1960 – đồng thời – nếu bạn hoài nghi chính phủ và chính trị gia.

Tôi sống gần Seattle, hầu như không phải là lãnh thổ của Donald J. Trump. Hầu hết những người bạn của tôi đều hoài nghi cười nhạo câu khẩu hiệu của ông Trump, đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại, trích dẫn tất cả những gì sai lầm trong những ngày trước. Thật vậy, nó không phải là thiên đường, đặc biệt là cho các thiểu số. Nhưng có một sự thật nhất định ở đó. Lúc đó chúng tôi vĩ đại hơn. Cuộc chiến – chứ không phải chủ nghĩa tự do, không phải là nhập cư, chứ không phải toàn cầu hóa – đã làm thay đổi chúng ta.

Chủng tộc

Tháng 12 năm 1968, tôi đang ở trên một ngọn đồi trời đánh thánh vật, xa xôi và có rừng rậm rạp bao phủ, cách khu phi quân sự khoảng một ki-lô-mét. Một chiếc trực thăng thả xuống ba tuần thư từ bị ướt đẫm và những thùng thức ăn đã nhàu nát. Trong đống đó có một gói cho Ray Delgado, một anh chàng gốc Tây Ban Nha 18 tuổi từ Texas.  Tôi nhìn Ray xé cái bao nhôm nha và há miệng cười, giơ một cái gì đó lên để tôi trông thấy.

“Cái gì vậy?” Tôi hỏi.

“Đó là tamales. Do mẹ tôi làm.”

“Tamales là gì?”

” Trung úy có muốn thử nó không?” Anh ta hỏi.

“Chắc chắn rồi.” Tôi xem xét nó, lật lại, rồi nhét nó vào trong miệng tôi và bắt đầu nhai. Ray và những người bạn Tây Ban Nha khác của anh ta hầu như không còn có thể tự kiềm chế được nữa trong khi tôi vừa nhai vừa nghĩ rằng “Thật không có gì ngạc nhiên khi những người Mexico này có răng như vậy”.

“Trung úy,” Ray cuối cùng cũng nói. “Trung úy phải bóc lớp vỏ ngô ra.”

Tôi đến từ một thị trấn khai thác gỗ ở bờ biển của Oregon. Tôi đã nghe nói về tamales, nhưng tôi chưa bao giờ thấy chúng. Cho đến khi tôi gia nhập đại đội Thủy Quân Lục Chiến của tôi ở Việt Nam , tôi thậm chí chưa bao giờ nói chuyện với người Mexico. Vâng, những người như tôi gọi những người như Ray là “người Mexico”, mặc dù họ là người Mỹ như bánh táo – và tamales. Căng thẳng chủng tộc nơi tôi lớn lên là việc người Thụy Điển và người Na Uy tập trung chống lại người Phần Lan vào mỗi tối thứ bảy trên bãi đậu xe ở ngoài cuộc khiêu vũ trong Labor Temple.

Tổng thống Harry Truman ra lệnh hội nhập quân đội năm 1948. Vào thời gian của cuộc Chiến tranh Việt Nam, các chủng tộc cùng nhau phục vụ. Nhưng đặt mọi người vào trong cùng một đơn vị thì rất khác với việc khiến cho họ cùng nhau làm việc như một đơn vị.

Ký ức về sự hội nhập quốc gia của chúng ta chủ yếu là về những người dũng cảm trong phong trào dân quyền. Cứ tưởng tượng rằng bạn trang bị cho tất cả các học sinh trung học ở Birmingham, Ala – trắng và đen – bằng vũ khí tự động trong một môi trường mà sử dụng những thứ vũ khí đó cũng thông thường như ăn trưa và tất cả đều được kích lên bởi testosterone. Đó mới là căng thẳng chủng tộc.

Trong thời gian của cuộc chiến đã có hơn 200 vụ cố ý giết bạn đồng ngũ trong Quân đội Mỹ – những vụ giết người được tiến hành bằng lựu đạn, khiến cho người ta không thể xác định được kẻ giết người. Hầu như tất cả những vụ giết người đồng ngũ này, ít nhất là khi thủ phạm bị bắt, đều có động cơ chủng tộc.

Tuy vậy, trải nghiệm phổ biến hơn trong chiến đấu là hợp tác và tôn trọng. Nếu như tôi bị ghìm chặt bởi hỏa lực đối phương và tôi cần tay M-79, tôi sẽ hét gọi Thompson, vì anh ta là người giỏi nhất. Tôi không hề nghĩ màu da Thompson là màu gì.

Những người da trắng đã phải nghe nhạc soul và những người da đen đã phải nghe nhạc country. Chúng tôi không sợ nhau. Và trải nghiệm đã gắn bó với chúng tôi với nhau. Hàng trăm ngàn con người trẻ tuổi trở về từ Việt Nam với những ý nghĩ khác nhau về chủng tộc – một số thì tồi tệ, nhưng phần lớn là tốt hơn. Sự phân biệt chủng tộc đã không được giải quyết ở Việt Nam, nhưng tôi tin rằng đó là nơi mà đất nước chúng tôi cuối cùng đã học được rằng, tất cả chúng tôi chỉ có thể đi cùng với nhau.

Phục vụ

Mới đây, khi tôi đọc sách ở Fayetteville, N.C., có một đôi trẻ xuất hiện tại bàn ký tên. Anh ta đang đứng thẳng và cao trong bộ quân phục. Cô ấy bế một đứa bé sơ sinh trên một tay, tay kia dắt một đứa mới biết đi. Cả hai đều có vẻ như mới học xong trung học hai năm trước đây. Người phụ nữ bắt đầu khóc. Tôi hỏi cô ấy có chuyện gì không ổn, và cô ấy nói, “Chồng tôi lại phải đi, ngày mai.” Tôi quay lại và nói, “Wow, lần thứ hai của anh à?”

“Không, thưa ông,” ông trả lời. “Lần thứ bảy của tôi.”

Lòng tôi nặng trĩu. Đây có phải là một nước cộng hòa không?

Chiến tranh Việt Nam đã dẫn tới việc kết thúc chế độ quân dịch, và đến lần sáng tạo ra cái mà Lầu Năm Góc gọi là gọi là “quân đội toàn người tình nguyện”. Nhưng tôi thì không gọi nó như thế. Tôi gọi nó là quân đội toàn người tuyển dụng. Tình nguyện viên là những người vội vàng chạy xuống sở bưu điện để đăng ký sau trận Trân Châu Cảng hay sau khi Trung tâm Thương mại Thế giới bị đánh bom. Tuyển dụng phức tạp hơn.

Khi tôi lớn lên, hầu như mọi người bạn của cha hoặc chú đều đã phục vụ trong Thế chiến II. Tất cả phụ nữ trong thị trấn biết rằng một tàu khu trục nhỏ hơn một chiếc tàu tuần dương và một trung đội thì nhỏ hơn một đại đội, bởi vì chồng họ đều ở trên một chiếc tàu khu trục hay trong một trung đội. Sau đó nó được gọi là “phục vụ”. Ngày nay, chúng ta gọi đó là “quân đội”.

Sự thay đổi trong ngôn ngữ cho thấy một sự thay đổi sâu sắc trong thái độ của nền cộng hòa đối với lực lượng vũ trang của nó. Chế độ quân dịch là không công bằng. Chỉ có nam giới mới được gọi đi lính. Và những người đàn ông có thể đủ khả năng để vào đại học thì đã không được gọi đi lính, cho đến cuối của cuộc chiến, khi đánh nhau đã giảm đi.

Nhưng việc loại bỏ quân dịch đã không giải quyết bất công.

Các tầng lớp thượng lưu của Hoa Kỳ hầu như không phục vụ trong quân đội. Được khắc lên trên tường của Woolsey Hall ở Yale là tên hàng trăm người của Đại học Yale đã chết trong Thế chiến I và II. Ba mươi lăm người đã chết ở Việt Nam, và không có ai kể từ đó.

Thay vào đó, tầng lớp lao động Mỹ ngày càng phải gồng gánh nhiều hơn cho chết chóc và thương vong kể từ Thế chiến II. Trong một nghiên cứu tại Đại học Memphis Law Review, Douglas Kriner và Francis Shen đã xem xét khoảng cách thương vong thu nhập, sự khác biệt giữa thu nhập trung vị của hộ gia đình (theo giá trị đồng dollar năm 2000) của những nhóm người có thương vong cao nhất (25% đầu) và tất cả các nhóm khác. Bắt đầu từ sự cân bằng  trong Thế chiến thứ II, khoảng cách thiệt hại là 5.000 USD trong Chiến tranh Triều Tiên, 8.200 USD trong Chiến tranh Việt Nam, và bây giờ là hơn 11.000 USD ở Iraq và Afghanistan. Nói cách khác, ba nhóm 10% có thu nhập thấp nhất đã phải chịu tổn thất nhiều hơn 50 phần trăm so với ba nhóm 10% có thu nhập cao nhất.

Nếu những bất bình đẳng này tiếp tục phát triển, sự oán giận sẽ tăng lên cùng với nó. Với sự oán hận ngày càng gia tăng, sự ngăn cách hiện giờ đã rộng lớn giữa quân đội và dân thường cũng sẽ tiếp tục rộng lớn ra. Đây là cách mà những nền cộng hòa sụp đổ, với quân đội và nhiều phần của đất nước trung thành với người chỉ huy hơn là với đất nước của họ.

Chúng ta cần trở lại với tinh thần của chế độ quân dịch, và việc người dân có cảm nghĩ như thế nào về việc phục vụ cho đất nước của họ. Chế độ quân dịch hầu hết chúng ta nhìn theo cách chúng ta nhìn thuế thu nhập. Tôi sẽ không trả thuế của tôi nếu như không có mối đe dọa phải đi tù.  Nhưng là một công dân có trách nhiệm, tôi cũng thấy rằng đóng thuế là cần thiết để góp tiền cho chính phủ – chính phủ của tôi.

Mọi người vẫn càu nhàu. Chúng tôi than phiền về thuế. Mọi người vẫn sẽ cố gắng nhờ những mối quen biết để được phân công sao cho dễ chịu. Nhưng mọi người sẽ phục vụ. Họ sẽ làm việc cho “chính phủ” và có thể bắt đầu xem đó là “chính phủ của chúng tôi”. Nếu bạn cống hiến hai năm của cuộc đời mình để làm cho nó tốt đẹp hơn thì sẽ rất khó hơn để mà hoài nghi về đất nước của bạn.

Hãy để việc phục vụ trong quân đội chỉ là một trong nhiều cách để những người trẻ tuổi có thể phục vụ đất nước của họ. Với việc phục vụ trở thành phổ thông, những anh chàng từ Seattle có thể nhìn thấy mình đang chia sẻ một tamale với một số cô gái Hispanic từ El Paso. Những người bảo thủ và những người tự do sẽ học cách làm việc cùng nhau vì một sự việc chung. Chúng ta có thể trở lại với tinh thần của những người thuộc các chủng tộc khác nhau đã học cách cùng nhau chiến đấu trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam tiếp tục định nghĩa chúng ta, ngay cả khi chúng ta đã quên mất như thế nào. Nhưng không phải là quá muộn để nhớ, và làm gì đó về nó.

Karl Marlantes, tác giả cuốn sách “What It is Like To Go to War” và tiểu thuyết “Matterhorn,” từng là một lính Thủy quân lục chiến trong Chiến tranh Việt Nam.

Phan Ba dịch từ https://www.nytimes.com/2017/01/07/opinion/sunday/vietnam-the-war-that-killed-trust.html?_r=0

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam và trang Tài Liệu

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s