Vinh Quang của sự Phi Lý (26)

Chương 11

Các dạng nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe

Chỉ hai tháng sau vụ thập tử nhất sinh tại bệnh viện Hải quân Hoa Kỳ tôi đã trở lại nhiệm sở ở Việt Nam. Kết quả công việc điều trị y tế ở Hamburg thành công mĩ mãn và ba tuần lễ tại Áo với khí hậu ôn hòa, âm nhạc, thực phẩm và rượu ngon là cách nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe tốt nhất, còn gọi là “R&R” (Rest and Recuperation) theo lối gọi của dân nhà binh. Tôi cảm thấy sung sức trở lại. Trọng lượng trở lại 64kg, mức trung bình vào thời điểm đó trong đời tôi. Tôi còn mơ mộng là đã sẵn sàng để gặp lại cô y tá thiên thần tóc đen trong bộ quân phục Hải quân Hoa Kỳ với cấp bậc thiếu tá ngày trước. Nàng nỡ nào từ chối tấm lòng ưu ái của tôi, lại còn mỉa mai tình trạng đáng thương của thân thể nhiễm vi trùng amib của tôi vào hè trước đó nữa. Dĩ nhiên là tôi chẳng bao giờ gặp lại được cô ta.

Bầu cử Quốc Hội Lập Hiến ngày 11-9-1966
Bầu cử Quốc Hội Lập Hiến ngày 11-9-1966

“Anh có vẻ sẵn sàng ra trận được rồi đấy,” Trung tá Tzschaschel nhận xét với một nụ cười châm biếm trong lúc lái xe đưa tôi từ phi trường Tân Sơn Nhứt về khách sạn Continental trên chiếc Mercedes màu đen của anh.

“Có vẻ như vậy lắm,” tôi đáp lời. “Sao, có tin tức gì mới không?”

“Có tin vui là Kỳ đã tổ chức thành công tốt đẹp cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến mặc dù bọn Việt Cộng đã dùng bạo lực ngăn cản cử tri đi bỏ phiếu.”

“Còn tin không vui?” Tôi hỏi.

“Phong chào chống chiến tranh tại Hoa Kỳ và Tây Âu đang trên đà phát triển nhanh đến nổi tôi không nghĩ rằng các cuộc bầu cử tự do tại miền Nam Việt Nam sẽ có một tác động nào đáng kể. Thật là điên khùng, phải không?”

“Sao lại điên khùng?”

“Người Mỹ chịu ảnh hưởng xấu quá nặng nề của giới truyền thông báo chí nên họ phủ nhận mọi cố gắng và can đảm tổ chức bầu cử trong lúc đất nước còn đang chiến đấu vì sự sống còn. Anh nghĩ xem, ngay tại Anh Quốc nơi có một nền dân chủ lâu đời nhất của thế giới, các cuộc bầu cử quốc gia đều phải hoãn lại trong Thế Chiến Thứ Hai. Đó là người Anh không có lực lượng địch hiện diện trên hòn đảo của họ.”

“Đây là một điểm đáng chú ý,” tôi nói. “Thật lạ lùng là báo chí Mỹ không đề cập đến nước Anh trong bối cảnh chung này.”

“Anh có nhớ những gì cô bạn tôi tại phòng trà đã nói với anh trước khi người ta lôi anh ra khỏi xứ này trong tình trạng gần chết không?” Tzschaschel tiếp. “Những người này chỉ viết cho nhau đọc mà thôi.”

“Anh rất đúng ở chỗ này, hầu hết họ chỉ viết cho nhau xem,” tôi nói. “Nhưng chúng ta không thể vơ đũa cả nắm cho tất cả giới báo chí ở đây được. Có nhiều người cũng rất công bằng và có lương tâm nghề nghiệp chứ.”

“Đúng vậy, nhưng họ không phải là những người có ảnh hưởng lớn đến công luận tại Hoa Kỳ,” Tzschaschel tiếp tục.

“Chán nhỉ!”

Non một tháng sau đó, cuộc bầu cử hoàn tất. Chính quyền Sài Gòn ăn mừng một cách chính đáng tỷ lệ cử tri đi bầu lên tới tám mươi phần trăm. Một thành tích nói lên tinh thần dân chủ đáng ngưỡng mộ mặc dù đang đối mặt với các mối đe dọa khủng bố đến mạng sống và tài sản. Trong tuần lễ trước bầu cử, có 680 vụ khủng bố đã được ghi nhận trên khắp miền Nam Việt Nam, chứng tỏ cộng sản đã cố tình ngăn chặn dân chúng hợp thức hóa chính quyền Sài Gòn trong tinh thần dân chủ.

Một vài biến cố không đổ máu: Việt Cộng thiết lập các nút chặn để tịch thu căn cứ của hành khách đi trên những chiếc xe đò đường xa hay xe lam, một loại xe taxi ba bánh chuyên chở công cộng. Làm như vậy, bọn cộng sản muốn các cử tri không thể nào chứng minh được lý lịch tại các trạm bầu cử. Đáng ngạc nhiên là bộ phận chính quyền quản lý tưởng chừng như kém hiệu quả lại có cách để cấp ngay cho dân chúng những tấm căn cước tạm thời.

Một số hành vi khủng bố khác thì không kém phần ghê tởm như vụ thảm sát gia đình xã trưởng mà tôi đã chứng kiến năm ngoái tại Trung Nguyên. Các cổ động viên bầu cử và ứng cử viên bị ám sát chết nhiều tới mức độ chính quyền phải cung cấp cho họ vũ khí để tự bảo vệ lấy. Vậy mà họ vẫn can đảm tiếp tục chiến dịch bầu cử. Một số tình nguyện viên có sáng kiến phát truyền đơn chỉ có hình và dấu hiệu của ứng cử viên mà không cần tên tuổi nhằm đáp ứng cho các cử tri không biết chữ. Công bằng mà nói, một vài phương tiện truyền thông Tây Phương cũng có đề cập đến bằng chứng của lòng dũng cảm này. Và khi 11 tháng sau đó, 83 % cử tri hợp lệ đã đi bỏ phiếu bất chấp sự đe dọa rộng lớn hơn của quân khủng bố cộng sản, ngay cả tờ báo tự do nhất như New York Times cũng phải ghi nhận sự khác biệt rõ ràng so với tỷ lệ đi bầu ít hỏi 62 % trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1964. Nhưng đó chỉ là một bản tin vặt thông thường. Hầu hết các ngôi sao truyền thông có uy tín, đặc biệt là các bình luận gia truyền hình, thì dửng dưng bỏ qua hiện tượng này.

Ngay sau cuộc bầu cử, tôi trở lại nhiệm vụ làm phóng sự tại những vùng chiến lược quan trọng ở Cao Nguyên Trung Phần, nơi vẫn làm tôi bị ám ảnh. Trong một chuyến bay C-130 của Không Lực Hoa Kỳ, tôi ngồi chen giữa hai binh nhì, một người Việt Nam tên là Hương và một lính Mỹ tự giới thiệu là Mike.

Hương là một anh lính trẻ với khuôn mặt buồn khắc khoải. Anh ôm trong lòng một cái lồng nhốt một con chim hoàng yến, miệng thì thầm những tiếng nghẹn ngào. Lính Việt Nam mang lồng chim ra tiền tuyến là một cảnh tượng khá quen thuộc và cảm động nhưng chuyện này thường bị các lính Mỹ chế diễu vì họ không biết rằng đôi khi những con chim đó là tất cả tài sản còn lại trong đời sống của những người đồng đội này. Đây chính là trường hợp của Hương. Cố gắng át tiếng ồn của bốn động cơ phản lực cánh quạt của chiếc máy bay không được cách âm đúng mức, Hương kể lại cho tôi câu chuyện của anh bằng một thứ hỗn hợp đứt đoạn tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Việt.

Anh đang trở về đơn vị sau một kỳ nghỉ phép đặc biệt để dự đám tang của mẹ và em gái, cả hai bị Việt Cộng sát hại vì đã tình nguyện làm cổ động viên cho cuộc bầu cử vừa qua.

“VC chặt đầu,” anh nói vừa diễn tả bằng cử chỉ là cả hai người đàn bà đã bị cắt cổ họng.

“Cả gia đình tôi đã bị giết,” anh tiếp tục. “Ba tôi tử trận năm ngoái. Ông là đại úy. Anh ruột tôi chết tháng trước. Anh là thiếu úy. VC đốt cháy nhà tôi. Tôi bây giờ còn lại một mình, không gia đình, không nhà cửa, chỉ còn lại nó mà thôi,” anh nói thêm, vừa chỉ vào con chim trong lồng. “Tôi chỉ còn lại nó.”

“Tại sao nó còn sống vậy?” Tôi hỏi.

“Hàng xóm vào căn nhà cháy sau khi tụi VC bỏ đi, họ cứu và giữ nó lại cho tôi.”

Thật là một câu chuyện buồn! Mike ngồi bên tay phải tôi nói, vừa lắc lư theo những cái giật của chiếc máy bay quân sự. Anh này rõ ràng đang trong tình trạng giã rượu. Mike trạt độ tuổi Hương, khoảng 20 ngoài và giống như Hương, là lính động viên đang trên đường trở về đơn vị sau một kỳ nghỉ phép, nhưng không phải là đi đám ma ai.

“Tôi mới đi nghỉ xả hơi một tuần ở Bangkok. Tiêu mẹ nó mất 900 đô la,” Mike khoe.

“900 đô la!” Hương buột miệng, “còn nhiều hơn cả một năm lương của tôi!”

“Anh đã làm gì với 900 đồng đó?” Tôi hỏi Mike.

“Uống rượu và ăn chơi thoải mái. Ba, bốn cô mỗi ngày.”

Hương lườm anh ta.

“Liệu có phải là điều tốt không?” Tôi hỏi

Mike trầm ngâm: “Không, không hẳn như vậy. Tôi chỉ muốn trả thù Amanda.”

“Amanda?”

“Người yêu của tôi ở Madison, Wisconsin. Cô ta cắt đứt liên lạc với tôi và gọi tôi là đồ giết con nít. Tôi đã nổi điên khi nhận được bức thư nó chụp hình chung với thằng bạn trai mới, một kẻ híp-py nào đó.”

Đây là lần đầu tiên tôi biết đến hiện tượng mà Emmanuel Tanay, bác sĩ tâm thần tại Detroit, đã mô tả là “hội chứng Dear John”, tức một loạt các lá thư vĩnh biệt, đa số là hằn học, do các cô bên Mỹ gửi cho chồng hay người yêu đang phục vụ ngoài mặt trận. Đã từng có nhiều lá thư kiểu “Dear John” trong mỗi cuộc chiến của thế kỷ thứ 20 nhưng theo Tanay, chưa bao giờ rầm rộ như trong thời kỳ Việt Nam, một sự kiện mà ông cho rằng vì không có sự hỗ trợ của dân chúng đối với sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Dương.

Một trong những mặt khó hiểu nhất của những lá thư “Dear John” là sự tàn nhẫn cực độ của chúng. “Những lá thư thật là cay đắng,” Tanay kể lại với Associated Press, “rõ ràng là những lá thư này được viết ra với mục đích làm tổn thương hay gây đau đớn cho người nhận thư. Những phụ nữ thường trong khoảng tuổi đời đôi mươi, họ thành hôn chưa đủ lâu để có những niềm căm hận như vậy. Nhưng nó là như vậy. Một số lại còn gửi những tấm hình của họ chụp chung với những người đàn ông khác trong những tư thế không hay chút nào. Nhiều người còn gởi những cuốn bằng thu âm các cuộc trao đổi với người đàn ông khác.”

Tôi thử đặt tôi vào tâm trạng của anh lính trẻ này. Tôi tưởng tượng anh ta trở về căn cứ sau một cuộc hành quân trong rừng sâu, vội vàng đi nhận thư từ và bới đống bưu phẩm và kiện hàng ra. Anh nhặt ra cái thư mang chữ viết của người yêu đặt lên gối ngủ. Sau đó đi tắm rửa sạch sẽ, cạo râu, thay vào bộ đồ trận mới, nằm thoải mái xuống giường và mở thư ra. Đầu tiên là tấm hình gớm ghiếc rơi ra và sau đó anh đọc cái tin tàn nhẫn là Amanda đã bỏ anh để đi theo cái gã phản chiến trong hình.

“Hậu quả những chuyện này đối với người nhận rất nguy hại,” Tanay nói. “Họ cảm thấy bất lực để đối phó vì ở xa quá.” Tanay bổ túc là ông đã chú ý đến hiện tượng này trong một lần đến Việt Nam để làm chứng tại tòa án quân sự trong một vụ án có một Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã xách súng M-16 chạy ra ngoài căn cứ bắn loạn đả vào dân thường Việt Nam, giết hại bốn người sau khi nhận được một lá thư “Dear John” kiểu như vậy.

Hương choàng qua người tôi vỗ lên tay trái của Mike: “Xin lỗi về chuyện đó, Mike,” anh nói, “xin lỗi, xin lỗi nhiều.”

Mike gật đầu tỏ ý cảm ơn và tiếp tục câu chuyện:

“Chưa hết đâu. Anh biết đó, trước khi tôi nhận được thư của Amanda, một chuyện tồi tệ đã xảy ra cho tôi trong một lần dừng quân ngoài chiến trường. Chúng tôi đang lấy lương khô C ra ăn. Tôi chọn ngay hộp trái cây giống như chúng tôi vẫn thường làm. Lạ một cái là tôi cảm thấy nó rất kỳ – nhẹ hửng, như hộp không. Rồi khi mở ra thì chẳng thấy trái cây đâu mà chỉ có một mảnh giấy ghi hàng chữ ‘mày mà sống như con chó thì sẽ chết như con chó!’ Tôi đã nổi điên lên, và các đồng đội của tôi cũng vậy. Đại đội trưởng phải vội vàng kéo tiểu đội chúng tôi ra khỏi trận địa và ra lệnh cho chúng tôi trở về căn cứ. Sau đó thì tôi nhận được thư của Amanda… Mẹ kiếp! Đó là lý do tại sao tiểu đoàn cho tôi nghỉ phép.”

“Thành thật xin lỗi bạn, Mike,” Hương nhắc lại, “xin lỗi, xin lỗi thật nhiều.” Sau đó chúng tôi đáp xuống Pleiku và tôi chứng kiến hai chiến binh u sầu sát cánh nhau bước ra khỏi phi đạo. Mike choàng cánh tay khổng lồ qua vai Hương, và Hương thì ôm cái lồng chim trong lòng.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (25)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (27)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (26)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s