Vinh Quang của sự Phi Lý (23)

Chương 10

Gái ca ve và sư đầu trọc nhẵn thín

Năm 1966 tôi trải qua tổng cộng tám tháng tại Việt Nam nhưng không phải liên tục trong cùng một lúc. Tôi đi lại giữa Sài Gòn và New York để làm phóng sự cho cả hai mặt của cuộc chiến bao gồm các hoạt động quân sự chính trị tại chỗ và những biến chuyển đáng lo ngại tại mặt trận nội bộ nước Mỹ. Hầu như mỗi lần trở lại Việt Nam tôi đều được đón tiếp một cách trang trọng khá bất thường đối với một phóng viên chiến trường trẻ tuổi như tôi. Lần nào tôi cũng được một vị trung tá người Đức đón tiếp trong một chiếc Mercedes Benz gắn máy lạnh mang biển số ngoại giao. Viên sĩ quan này là bạn tôi tên Joachim Tzschaschel, tùy viên quốc phòng Tây Đức và là viên chức duy nhất trong tòa đại sứ đã tỏ ý lo ngại là người Mỹ và đồng minh Việt Nam Cộng Hòa khó có thể giành được thế thượng phong tại Việt Nam. Anh ta đã thẳng thừng tuyên bố với các viên chức Hoa Kỳ từ hồi đầu 1966 là: “Người Mỹ các anh không thể nào thắng nổi cuộc chiến này nữa.”

Huế, 1-6-1966, sinh viên Phật tử Huế biểu tình bạo động xé cờ Mỹ trước khi đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ trên đường Đống Đa
Huế, 1-6-1966, sinh viên Phật tử Huế biểu tình bạo động xé cờ Mỹ trước khi đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ trên đường Đống Đa

Không phải là trung tá Tzschaschel muốn Việt Cộng thành công. Ngược lại là đàng khác. Nước Đức và Việt Nam đã chịu chung số phận bị chia cắt thành hai quốc gia tự do và cộng sản cho nên anh ta mong mỏi một cách tuyệt vọng là sự bi quan của anh sẽ không thành sự thật. Tuy nhiên Tzschaschel là một người thực tế. Anh đã nghiên cứu các tác phẩm của đối phương và công nhận tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá đúng là Hoa Kỳ không được trang bị về tâm lý đầy đủ để thắng một cuộc “chiến tranh giải phóng dân tộc” kéo dài. Do đó, viên sĩ quan Tây Đức này đã cùng quan điểm với các mối quan ngại của Sir Robert Thompson, chuyên viên chống nổi dậy người Anh, và Bernard Fall, sử gia người Pháp.

Đặc biệt có một nhận xét lạnh lùng của Mao Trạch Đông mà cả ba người Tzschaschel, Thompson và Fall vẫn luôn trích dẫn cho bạn bè thuộc giới chức quân sự Hoa Kỳ nghe là: ai mà không thắng trong một cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích thì sẽ thua và ai không thua thì sẽ thắng.” Tzschaschel có lần nói với tôi, “nhiều người trong số bạn bè thuộc giới quân sự Mỹ đã quá quen thuộc với nhận xét này, và nó đã làm họ trầm ngâm, bởi vì họ biết là tầng lớp tinh hoa và lãnh đạo nước họ đã thiếu quyết tâm để dành chiến thắng tại Việt Nam.”

Một người khác, có cùng lập luận hoài nghi tương tự là người bạn tên Adelbert Weinstein của Tzschaschel, phân tích gia quân sự tuyệt vời của tờ báo nổi tiếng Frankfurter Allgemeine Zeitung tại Đức. Ông đã từng là đại tá Trưởng ban 1 của một sư đoàn bộ binh Đức trong Thế Chiến Thứ Hai và sau này lên thiếu tướng trong quân đội trừ bị Tây Đức. Weinstein đã tường thuật cả hai trận chiến Đông Dương. Năm 1975 ông viết một bài bình luận đầy xúc động về cuộc thất thủ của Sài Gòn, kết thúc bằng một dòng chữ đầy bi thương: “Nước Mỹ đã không thể chờ đợi nổi.” Nói cách khác, Hoa Kỳ đã không đủ kiên nhẫn để kết thúc cuộc xung đột bằng một chiến thắng. Điều này làm cho người Tây Đức bối rối vì họ bị lệ thuộc hoàn toàn vào Hoa Kỳ để bảo vệ họ chống lại mối hiểm họa về sức mạnh quân sự từ Liên Sô.

Đây là lý do tại sao trung tá Tzschaschel, mỗi lần lái xe đưa tôi từ Tân Sơn Nhứt về khách sạn Continental Palace đều háo hức truy tôi về tình hình tại Hoa Kỳ. Các phong trào hòa bình ra sao? Có dấu hiệu gì về sự mệt mỏi của chiến tranh chưa? Người Mỹ nghĩ sao về vụ tranh giành quyền lực dường như vô lý giữa thủ tướng Kỳ và kẻ thù bất cộng đái thiên của ông là Trung tướng Nguyễn Chánh Thi? Ông này mới bị Kỳ loại ra khỏi cương vị tư lệnh quân đoàn một tại vùng cực Bắc của miền Nam Việt Nam sau các cuộc đụng độ vũ trang giữa các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng Hòa với nhau. Điều gì tác động đến, nếu có, ý kiến công chúng ở Hoa Kỳ qua những biến động mới đây của Phật giáo, kết quả của sự tranh giành quyền lực này? Có đúng là người dân thường ở Mỹ cho rằng những sự tăng gia bạo động này là bằng chứng cho việc dân chúng đã mất niềm tin nơi chính quyền Kỳ và không đáng để người Mỹ đổ máu cho nữa?

Tất nhiên là Tzschaschel đã đọc các bài tường thuật của báo chí Mỹ và công văn từ tòa đại sứ của chúng tôi ở Washington nhưng anh muốn tìm hiểu thêm. Biết là tôi đã không giới hạn sự tìm tòi tại Washington và New York mà chu du khắp nước Mỹ, chú tâm vào tâm trạng của người dân ở sâu trong nội địa và trong các khu đại học, ông đã tra vấn tôi như một phóng viên dày dặn kinh nghiệm muốn biết người dân thường nghĩ ra sao.

Tuy nhiên, có một lần, lúc cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1966 đang lên cao độ nhất, sự sắp xếp giữa chúng tôi đã bị trở ngại. Như bình thường, tôi đánh điện ngày giờ trở lại Việt Nam của tôi đến địa chỉ điện tính của anh ta, Diplogerma Saigon nhưng không nhận được điện trả lời. Tôi linh cảm là anh không vui và đoán lý do là trong lúc tôi vắng mặt ở Sài Gòn, một ký giả tự do của tờ báo lá cải Bild am Sonntag, tờ báo chủ nhật lớn nhất của Đức thuộc nhóm Axel Springer, đã đến Việt Nam. Trước khi rời Hamburg anh ta đánh điện xin tôi danh sách một số địa chỉ liên lạc hữu dụng và tôi đã cho anh ta. Vụng về thay, tôi lỡ cung cấp tên của Tzschaschel, nghĩ rằng tay ký giả này sẽ không bao giờ chính thức nêu tên ông trung tá ra. Có nghĩa là Tzschaschel sẽ chỉ cho ý kiến ngoài lề, và danh tánh sẽ không bị tiết lộ. Thời đó, bảo vệ nguồn tin là một nguyên tắc đạo đức tất yếu trong nghề làm báo, và cũng là một điều danh dự mà ngày nay các siêu sao đầy cao ngạo về thông tin thường hay vi phạm. Tôi đã tin tưởng người đồng nghiệp Đức này phải tôn trọng điều đó.

Tuy nhiên khi đọc bài viết của hắn hai tuần sau đó, tôi đã nổi điên lên. Bài viết huênh hoang là một “phóng sự độc quyền” nhưng thực tế là một bài bình luận thô sơ về những nhận xét bi quan của “trung tá Joachim Tzschaschel, tùy viên quốc phòng Đức Quốc.” Tôi lo ngại là bài viết ngu xuẩn trên trang chính này sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng nghề nghiệp và có thể cả sự nghiệp của anh bạn tôi. Cũng may là nó chứa đựng quá nhiều dữ kiện sai lạc thành thử cấp trên của anh trung tá tại Đức đã nhận ra ngay nguyên nhân chính của sự trục trặc này: tay ký giả tôi gửi đến Tzschaschel chỉ là một gã nghiệp dư muốn chơi nổi.

Cảm ơn Chúa là tôi đã dấu hắn một chi tiết quan trọng về Joachim Tzschaschel! Sự thật anh ta không phải là một viên sĩ quan cấp tá tầm thường hoạt động tại khu vực nhiệt đới mà là một ngôi sao của tình báo Đức. Anh chỉ huy văn phòng tại Sài Gòn của cơ quan BND Đức, một cơ quan tương tự như CIA của Mỹ vậy. Sáu năm trước đó, với cấp bậc thiếu tá trong đoàn tùy viên quân sự của tòa đại sứ Đức tại Paris, anh đã từng là một trong những sĩ quan liên lạc của BND hoạt động với Mossad của Do Thái trong “chiến dịch Eichmann”. Chiến dịch này sau đó đã dẫn đến việc bắt giữ và tử hình treo cổ tay đồ tể diệt chủng Eichmann. Vài năm sau này được thăng thiếu tướng, Tzschaschel trở thành nhân viên cao cấp của BND, cố vấn cho thủ tướng Helmut Schmidt.

Tôi lo lắng đã làm mất niềm tin của một trong những tay phân tích chiến lược giỏi nhất trong lĩnh vực tình báo và quan trọng hơn nữa là làm sứt mẻ tình bạn với một sĩ quan có đầu óc sắc bén phi thường nhưng lại có tính khôi hài. Cuối cùng té ra tôi lại được “thưởng” thay vì bị “phạt” và được tham dự thoáng chốc vào cái thế giới đầy thủ đoạn của anh. Khi chuyến máy bay Pan Am của tôi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, trung tá Tzschaschel không có mặt nhưng thượng sĩ Abraham, hạ sĩ quan tùy viên của anh ra đón tôi tại trạm kiểm tra quan thuế. Abraham lấy vali đưa tôi ra ngoài trạm ga hành khách đến một chiếc xe DKW Munga màu xám ô-liu, một loại xe chạy trong mọi địa hình nhưng khá yếu vì chỉ trang bị động cơ hai thì phun khói xanh tùm lum. Chiếc xe khá giống chiếc Jeep mang biển số đen trắng của quân đội Đức và có màu quốc gia đen đỏ vàng của Đức trông vui nhộn một cách đặc biệt lúc phun khói chạy khắp các đường phố hỗn loạn của Sài Gòn, thu hút các cặp mắt tò mò đầy kinh ngạc.

“Ông trung tá không được vui,” Abraham nói.

“Tôi biết, tôi đã làm một chuyện ngu ngốc là đưa tên ông ta cho cái thằng cà chớn từ Hamburg. Như người ta thường nói ở Sài Gòn: tôi rất ân hận về chuyện này.”

“Anh sẽ phải trả giá về chuyện này.” Thượng sĩ Abraham tháu cái tôi với vẻ mặt tỉnh bơ của một tay đánh xì phé.

“Bằng cách nào?

“Anh sẽ biết thôi,” Abraham nói. “Ông trung tá muốn anh phải đi tắm và thay đồ thật nhanh rồi đi gặp ông tại một tiệm ăn. Tôi sẽ chở anh đi. Ông ta lấy xe của anh rồi.”

“Còn chiếc Mercedes của ông ta thì sao?”

“Mang đi thay nhớt rồi.”

Cái nhà hàng mà thượng sĩ Abraham đưa tôi đến buổi chiều sớm hôm đó là một trong những nơi kỳ diệu rất đặc trưng của Sài Gòn. Đó là một phòng trà cổ điển với các món ăn Pháp tạm được, có một ban nhạc lớn và có ca sỹ hát những bản nhạc của thập niên 1950 với các giai điệu tango, valse, chachacha, rock’n roll nhẹ, thỉnh thoảng lại chơi twist nữa. Tại đó có một đám ca-ve, không phải là gái mại dâm mà là những phụ nữ đẹp với giá 200 đồng một vòng nhảy và phải trả trước cho một “tài pán” trước khi vào sàn nhảy.

Ở đây không phải là một quán rượu nhếch nhác cho đám lính Mỹ GIs mà là một lời trú ẩn cho những người Việt Nam và Châu Âu hoài niệm thời gian hạnh phúc xa xưa. Đây cũng là loại địa điểm mà các phóng viên chiến trường có thể gặp gỡ bí mật các đại diện của “Mặt Trận Giải Phóng”, một tổ chức chính trị của Việt Cộng. Nếu trường hợp này xảy ra thì chúng ta thường thấy một tổ chức tam tam cộng sản sẽ háo hức xuất hiện, gồm một tay công đoàn vạm vỡ, một tên thuộc hạng bộ đội khó chịu và một trí thức điển hình Á châu với gọng kính có cột dây. Trong bọn họ sẽ có một tên mang cái áo mưa khoác quanh tay, đó là dấu hiệu nhận dạng của họ.

Tôi không ngạc nhiên khi thấy trung tá Tzschaschel trong cái phòng trà này vì đây chính là một nơi vô danh thích hợp nhất cho các tay tình báo hoạt động. Ánh đèn mờ ảo, chủ nhà hàng kín đáo, Nhân viên phục vụ hiệu quả và khách hàng là một đám đông chọn lọc nhưng bàng quan không chú ý đến gã người Âu hói đầu trạc tuổi trung niên, tầm trung bình lại gặp kè hai bên là hai phụ nữ Việt Nam khả ái trong trang phục Tây Phương. Nhìn kỹ hơn chúng ta có thể nhận ra cái kỳ quặc của bộ ba trong ở nơi chốn này. Hai người phụ nữ có lẽ trong lứa tuổi ngoài 30, nói tiếng Pháp rất chuẩn của sinh viên tốt nghiệp đại học Sorbonne và có dáng dấp của những phu nhân các sĩ quan cao cấp hay có thể là goá phụ không chừng.

“Đây là Mai,”, Tzschaschel nói, vừa gõ vào cánh tay dưới của người phụ nữ bên trái. “Tôi nghĩ anh có thể có một buổi tối vui với cô ta,” anh tiếp lời với một nụ cười tinh quái. “Dĩ nhiên là anh biết rồi,” Uwe, “bữa ăn tối này là của anh đấy, Uwe, của anh đấy! Anh nợ tôi chầu này.”

“Tôi biết, Trung tá, tôi biết mà!” Tôi trả lời.

Tôi không biết là Tzschaschel có nhắc đến tên của cô kia hay không nhưng tôi nhớ cô rất nổi bật. Cặp mắt sáng, tò mò và vui vẻ nhưng cũng khá đoan trang. Cô này lập tức tiếp chuyện tôi về vai trò của truyền thông báo chí tại Việt Nam.

“Anh có biết thượng tọa Thích Tâm Châu không? Cô hỏi thăm.

“Vâng, tôi biết. Ông ta là một lãnh tụ phật giáo ôn hòa ở Sài Gòn này,” tôi trả lời. “Tôi có một mối quan hệ khá tốt với ông ta. Gần đây ông có mời tôi dạy tiếng Đức trong Viện Đại học Vạn Hạnh.”

“Thế ư! Mà tại sao lại là tiếng Đức? Cô hỏi

“Vì mục đích nghiên cứu. Tất cả các văn bản thiêng liêng quan trọng của Ấn Độ giáo và Phật giáo đều được biên soạn và nhận xét lần đầu tiên bằng tiếng Đức bởi nhà triết học Max Müller [1823-1900].”

“Nếu vậy thì có lý để các nhà học giả Phật giáo học tiếng Đức thật. Anh có biết là ông Thích Tâm Châu đã ra lệnh cho đệ tử của ngài chấm dứt các cuộc tuyệt thực chống chính phủ Kỳ và không được tự thiêu nữa không?” Cô hỏi thêm.

“Biết.”

“Nhưng giới truyền thông Hoa Kỳ không muốn tường thuật chuyện này. Tại sao vậy?”

“Họ có đề cập đến chứ, nhưng hầu hết không muốn làm lớn chuyện. Họ thích nhấn mạnh về chuyện quân đội với súng gắn lưỡi lê đang bao vây Viện Hoá Đạo trong đó có hàng trăm người đang có nguy cơ mắc bệnh thổ tả.”

Viện Hóa Đạo, hay Viện Truyền Bá Phật Pháp là nơi đang xảy ra những cuộc biểu tình bạo lực chống Kỳ và các đồng minh Hoa Kỳ.

“Những cuộc bạo động này không đúng tinh thần Phật giáo chút nào,” cô nói tiếp. “Tại sao giới ký giả Mỹ không biết điều này? Sao họ thiển cận vậy?”

“Có nhiều phóng viên Mỹ rất khá và không thiển cận nhưng đa số thì quả thật có thành kiến. Cô nói đúng! Tại sao vậy? Tôi đoán là họ chỉ muốn viết cho nhau đọc chứ không màng đến công chúng. Thật dễ dàng vô cùng khi diễn tả cuộc xung đột này là một cuộc đụng độ giữa văn hóa Phật giáo của Việt Nam và một chế độ áp bức quân sự. Tôi biết đây chỉ là một ví dụ sáo rỗng ngu ngốc. Nhưng nếu muốn yên thân về nghề nghiệp thì tốt nhất đừng đi chệch ra khỏi các khuôn mẫu của Zeitgeist (hướng suy nghĩ chung),” tôi giải thích.

“Thôi, mặc kệ Zeitgeist, anh đi xem tận mắt đi! Thật là hay nếu biết anh nghĩ sao về những người gọi là ‘nhà sư’ mà đi trang bị gậy gộc và xích xe đạp,” cô nói, kết thúc cuộc trao đổi với tôi.

Người phụ nữ “không tên” đứng lên cùng với Tzschaschel. “Chúng tôi phải đi đây,” anh nói. “Anh ở lại chơi một chút được không, mời Mai ra sàn nhảy vài bản đi, sau đó thì đưa cô ta về nhé? Nhà Mai ở đối diện với Viện Hóa Đạo trong một khu phố đang bị quân đội phong tỏa. Taxi, xích lô hay xe tư nhân đều bị cấm ra vào sau khi trời tối trừ phi có giấy phép lưu thông đặc biệt.”

Vừa cười khúc khích, Tzschaschel vừa tiếp: “Dĩ nhiên thượng sĩ Abraham có thể đưa mình đến đó nhưng nếu tụi mình xuất hiện ngoài chốt chận trong một cái xe Munga của quân đội Đức thì dễ bị chú ý lắm. Còn anh thì sẽ không gặp trở ngại gì với cái thẻ thông hành báo chí và nhãn tòa đại sứ trên kính chắn gió. Đó là lý do vì sao tôi đã mang cái xe Citroën cũ của anh đến đây tối nay. Nó đang đậu ngay ngoài cửa đó.”

Tzschaschel cười vui vẻ với tôi và cả hai bước thong dong ra phía cửa ra về trong tiếng nhạc rumba. Như đã dự định, tôi nhảy với Mai một vài bản rồi đưa nàng về. Gần đến nhà Mai, tôi phải lái qua những đám đông người biểu tình giận dữ và một loạt những nút chận kiểm soát của quân đội.

Căn phòng khiêm nhường của Mai ở trên một cửa hàng đối diện với Viện Hóa Đạo. Bên trong làm tôi ngạc nhiên vì nó sạch sẽ một cách bất thường và không có vẻ gì là của người Việt Nam cả. Phòng khách được trang bị đơn giản với một bộ bàn ghế theo kiểu thập niên năm mươi gồm một cái ghế bành dài sofa và một cái bàn nhỏ hình trái thận trên đó có đặt từng chồng những bài báo cắt ra từ báo chí và được xếp rất ngăn nắp. Tuy nhiên điều làm tôi ngạc nhiên nhất tại đây là cái điện thoại đặt trên một cái kệ bên cạnh cửa sổ. Đó là một cái máy hết sức tối tân với hai chữ T và N trong một hình thoi. Đó là huy hiệu của công ty sản xuất tại Frankfurt mang tên Telefonbau und Normalzeit GmbH. Một chỗ duy nhất khác mà tôi thấy có cái điện thoại tương tự ở Sài Gòn là tòa đại sứ Đức.

Mai đưa cho tôi một chai bia Löwenbräu và đề nghị: “Anh đừng quay lại khách sạn đêm nay. Giờ này ra ngoài đường nguy hiểm lắm. Ở lại đây với em đi. Anh ngủ ngoài ghế dài nhé.” Qua thái độ của nàng tôi cũng hiểu được là nàng không có ẩn ý gì. Ham muốn thể xác không nằm trong chương trình của nàng tối nay. Sau đó, Mai mang lại cho tôi một cái bàn chải đánh răng mới, hai cái khăn tắm, một cái gối, chăn đắp và đi vào phòng ngủ.

Tiếng reo của cái điện thoại Đức làm tôi tỉnh giấc sáng sớm hôm sau. Tzschaschel gọi tôi.

“Sao, ngủ ngon không?” Anh ta hỏi.

“Ngon không ngờ, cho dù bị trái múi giờ.”

“Coi bộ đúng như vậy,” Tzschaschel cười nhẹ. “Nếu không anh đã bị đánh thức giấc bởi tiếng ồn bên ngoài cửa sổ rồi. Ngó cái xem.”

Bên dưới cửa sổ nhà Mai, tôi thấy một đám đông ồn ào đối diện với một toán quân trang bị súng có gắn lưỡi lê. Phần lớn những người biểu tình là các nhà sư trẻ, trong đó có nhiều người mang gậy gộc và dây xích xe đạp.

Họ múa may vũ khí tấn công loạn đả, ngay cả về phía những phóng viên đang đổ dồn tới Viện Hóa Đạo, mong đợi một cuộc tự thiêu nữa của tu sĩ Phật giáo. Ngay phía dưới đường, tôi nhận ra Horst Faas, phóng viên nhiếp ảnh của Associated Press (AP), người đã từng đoạt giải Pulitzer. Horst và tôi là bạn từ thuở chúng tôi làm việc chung ở AP tại Đức. Anh là một phóng viên tạng người lực lưỡng, dũng cảm, nhưng rất hiền lành không bao giờ tấn công một người vô tội. Nhưng bây giờ tôi thấy anh hung dữ đập cả cái máy ảnh to nặng lên đầu trọc của những gã sư trẻ đang giận dữ muốn giật lấy máy ảnh của anh. Tôi mô tả cảnh này cho Tzschaschel.

“Anh có thấy màu da đầu của bọn sư không?” Ông hỏi.

“Nói chung là đầu trọc nhẵn thính.”

“Điều đó nói lên cái gì?” Tzschaschel truy tôi.

“Họ mới cạo trọc.”

“Và…?”

“Trước đây họ chưa cạo đầu.”

“Thì sao?”

“Đây có lẽ không phải là sư thật. Họ trông giống như Việt Cộng đội lốt nhà sư.”

“Hoan hô, Uwe! Đó là những gì tôi nghi ngờ,” Tzschaschel nói với tôi. “Điều này chứng tỏ có một âm mưu giả dối nhắm vào công chúng ở Hoa Kỳ, và nhiều phóng viên Mỹ dường như muốn đồng lõa trong việc lừa đảo này.”

“Buồn nhỉ,” tôi trả lời.

“Đúng vậy, thật rõ chán. Nhưng tôi có nguồn tin thú vị cho anh đây. Chiều hôm qua có một nhà sư trẻ được chở đến bệnh viện Grall với độ bỏng cấp ba toàn thân. Điều lạ lùng là sư này thuộc phái Tiểu Thừa Phật giáo thường thấy trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Họ không liên quan đến các cuộc nổi loạn của phái Đại Thừa ở Huế vào Sài Gòn. Tôi biết anh ta đã tỉnh lại và nói chuyện được rồi.”

“Tôi sẽ cố gắng phỏng vấn anh ấy. Mai có thể thông dịch được.”

Vào khoảng trưa thì quân đội Nam Việt Nam tạm ổn định được tình hình bên ngoài Viện Hóa Đạo đủ để chúng tôi lái xe đến cái bệnh viện Pháp nổi tiếng được thành lập năm 1861 đó.

Đi tìm vị sư bị thiêu không khó chút nào. Chúng tôi chỉ việc đi theo đoàn người bao gồm cảnh sát, nhân viên điều tra, bác sĩ và các sư sãi đang di chuyển về phía phòng anh ta. Chúng tôi ngạc nhiên được phép nói chuyện một chút với nhà sư này. Giọng nói của anh ta khá yếu ở khiến tôi không bắt được một chữ, nhưng Mai cuối sát đầu và cố gắng hỏi ra được đầu đuôi câu chuyện.

Anh vốn ở một tịnh xá gần Mỹ Tho vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sư chủ trì phái anh lên Sài Gòn để làm chuyện của chùa. Mặc bộ áo cà sa màu vàng nghệ, anh đáp chuyến bay Air Vietnam xuống Tân Sơn Nhứt và đi bộ đến một ngôi chùa nhỏ, chi nhánh phái Phật giáo anh.

“Một chiếc xích lô đạp dừng lại bên cạnh tôi, trên đó có một ông sư khoác áo nâu. Ông ta hỏi tôi có muốn quá giang không,” vị sư trẻ nói với Mai. “Vì vậy tôi bước lên chiếc xích lô ngồi bên cạnh ông ta ở ghế hành khách. Điều tiếp theo tôi biết là lửa cháy đầy người tôi. Người đi đường đổ xô đến cứu tôi và lấy tấm vải lớn quấn quanh tôi để dập tắt ngọn lửa. Ông sư kia và tay lái xích lô thì biến mất trong đám đông.”

Nói đến đây bệnh nhân yếu dần và một tay thám tử đang theo dõi cuộc phỏng vấn bổ túc câu chuyện: “Gã sư kia rõ ràng là sư giả. Có lẽ là Việt Cộng giả một cuộc tự thiêu để lừa báo chí. Chúng muốn chứng tỏ cho dư luận thế giới biết là phong trào chống đối của Phật giáo không hề suy giảm và chính quyền đang mất lòng dân hơn bao giờ hết. Điều rắc rối là chúng chọn lầm người và đánh giá sai quyết tâm của người đi đường đã ngăn chặn âm mưu bọn nó và cứu được vị sư trẻ tội nghiệp này.”

Tôi báo cáo ngay lập tức câu chuyện thương tâm này sau khi từ giã Mai nhưng bài báo của tôi không bao giờ được đăng. Những tay biên tập nước ngoài ở Hamburg mặc dù nói chung ủng hộ sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Việt Nam nhưng đơn giản là họ không thể nào hiểu nổi ý nghĩa câu chuyện tôi kể về các nhà sư giả với đầu cạo trọc nhẵn thính và vị sư thật bị đốt cháy vô cớ ngoài ý muốn của mình. Trong một lần nghỉ phép tôi hỏi tại sao vứt bài viết của tôi đi. Họ trả lời là họ không thể nào tìm được những biến cố như vậy trên các tờ New York Times, Washington Post cũng như Los Angeles Time. Mãi vài năm sau họ mới hiểu ra là các phương tiện truyền thông chính thống của Mỹ đã theo đuổi một đường lối không như họ tưởng. Vì ngây thơ tin tưởng vào sức mạnh của truyền thông Hoa Kỳ hơn là phóng viên của mình, họ đã vô tình tiếp tay cho cái thói khó hiểu của một số ký giả Mỹ, chỉ muốn làm suy yếu vị trí của chính quốc gia mình và đồng minh Nam Việt Nam.

(Còn tiếp)

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (22)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (24)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (23)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s