Kỳ là ai?

Trong tất cả các phương ngữ của Đức, không có ngôn ngữ nào kỳ cục hơn là thổ ngữ Saxony, tiếng quê hương của tôi. Tôi đã đề cập đến chuyện này trong một chương trước, khi kể về cuộc gặp gỡ của tôi với một quân y sĩ tù binh Bắc Việt nói tiếng Saxony trong một trại tù trên đảo Phú Quốc. Phát ra nghe như tiếng cười tự chế diễu, cái giọng mũi kỳ lạ này tự nó đã tức cười rồi. Bây giờ nghe nó rít lên trong một khung cảnh Đông Phương từ một phụ nữ kém học đến từ vùng Dresden thì quả là một âm thanh đáng sợ.

Do đó hãy tưởng tượng nỗi kinh ngạc của tôi khi được phóng trở về thời thơ ấu bởi thứ âm thanh đó trong một hoàn cảnh bất ngờ nhất. Sáng sớm đầu hè hôm đó tôi đang ngồi thưởng thức cái giây phút hạnh phúc cô đơn trong căn suite 214 của khách sạn Continental Palace, chốn trú ẩn thuộc địa Pháp của tôi. Bên ngoài trời còn mát nên tôi để cửa sổ mở. Như thường lệ, tôi ngồi ăn sáng trên chiếc ghế da và ngắm cuộc “diễn hành” quyến rũ thường lệ của những tà áo dài trên hai vỉa hè đường Tự Do.

Bất chợt một giọng nói chói tay từ ngoài đường vòng vào phòng, vang cả khu phố với một chuỗi các phụ âm và nguyên âm với âm thanh như sau:

Quốc trưởng Thiệu và Thủ tướng Kỳ vào ngày 19/06/1966 (Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa)
Quốc trưởng Thiệu và Thủ tướng Kỳ vào ngày 19/06/1966 (Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa)

“Awwr, awwr, meinä Gudsdä: där Gie, där Gie! Nää wärglich! Ich gann Ihn’n saach’n: im Bädde issr cha guud, awwr als Brämchähminisd’r?” Dịch ra như sau: “Trời đất ơi! Ông Kỳ, ông Kỳ! Thật hết chỗ nói! Thằng cha này có thể là tay chơi, nhưng làm thủ tướng ư?”

Đó là lần đầu tiên tôi biết đến sự vinh thăng của thiếu tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ lên vị trí thủ tướng sau một loạt những cuộc đảo chính và chống đảo chính điên cuồng của các chính quyền Nam Việt Nam mà tuổi thọ trung bình không quá 70 ngày.

Không một chút khó khăn, tôi nhận ra ngay giọng nói đó là của bà L., bà vợ xồ xề của một tay tùy viên Tòa Đại sứ Tây Đức. Tôi vẫn luôn cảm thấy bối rối bởi sự thân thiện của bà ta với tài trăng hoa của ông Kỳ. Cung cách ăn nói sỗ sàng của mụ L. là một huyền thoại trong giới chúng tôi. Mới chỉ vài đêm trước bà ta đã làm chấn động giới người Đức tại Sài Gòn trong một buổi tiếp tân ngoại giao ở tư gia đại sứ Tây Đức Wilhelm Kopf. Bà phản đối anh bạn Fabian Fuchs cùng với cái giọng mũi đó về vấn đề hôn nhân với người bản xứ: “Vorsichd, Vorsichd! Die Fietnamäs’n sinn änne ganz verschlaachene Rasse” (Cẩn thận, cẩn thận! Người Việt là một giống dân rất quỷ quyệt.)

Bước lỗi nhịp này đã gây ra một sự im lặng bối rối trong phòng khách của ông đại sứ. Trong nhiều phút đồng hồ, người ta có thể nghe thấy tiếng máy bay cất cánh và hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhứt cạnh đó. Không giấu nổi vẻ xấu hổ, khách khứa cố gắng không nhìn vào những người Đức gốc Do Thái trong bọn họ, trong đó nhiều người là những nhân viên cao cấp của Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Chắc chắn đây không phải là những lời nói khéo mà họ muốn nghe từ vợ một viên chức ngoại giao của Tây Đức mới chỉ non 20 năm sau Thế Chiến Thứ Hai.

“À, hừm,” Đại sứ Kopf nói với tất cả chúng tôi, quý vị đã thấy mấy con báo của tôi chưa? Những chú mèo lớn đã thuần hóa này thật là đẹp! Đi xem chúng đi.” Ngay lập tức, trừ mụ L. ra, còn gần như tất cả mọi người kể luôn cả ông chồng mụ đều bước theo ông Kopf ra vườn để ngắm cái giống mèo tuyệt vời nổi tiếng với khả năng đạt vận tốc 62 dặm một giờ chỉ trong vòng 3 giây đồng hồ, tương tự như chiếc xe đua Ferrari vậy. Chúng là một món quà chia tay của vua Faisal nước Ả Rập Saudi mà trước kia ông Kopf làm việc tại đó.

Mụ L. không phải là người ngoại quốc duy nhất ghét cái anh chàng phi công ba mươi lăm tuổi ưa nổ vẫn thỉnh thoảng lái xe mui trần đưa cô vợ xinh đẹp tên là Tuyết Mai chạy khắp các nẻo đường Sài Gòn; hoặc lắc mông theo điệu “tuýt” tại Moulin Rouge, một hộp đen thời trang trong vùng Chợ Lớn, phố tàu của Sài Gòn; hoặc lên micro đọc thơ tình tiếng Pháp trong một quán rượu thời thượng ở trung tâm thành phố. Giới báo chí tự do Mỹ không ưa cái phong cách hào nhoáng của viên tướng thích dùng nước hoa này mà “nhãn hiệu cầu chứng” là chiếc khăn quàng màu hoa cà quấn quanh cổ. Stanley Karnow dè biểu ông là một “nhân vật chói chang trong một bộ quân phục loè loẹt và một bộ ria mép nham hiểm.” Neil Sheehan của tờ New York Times đã nhảy dựng lên khi Kỳ kêu gọi giải phóng miền Bắc Việt Nam: “Thằng khốn… Thằng ngốc chết tiệt!”

Bản thân tôi lại thích Nguyễn Cao Kỳ. Điều này không có nghĩa đó là một sự chứng thực mang tính đảng phái hay sự tán thành những lời nói và hành động thiếu thận trọng một cách nghẹt thở, chẳng hạn như vụ cắt đứt ngoại giao với Pháp, một quyết định điên rồ đã thúc đẩy tổng thống Charles de Gaulle buồn ra một câu nói nổi tiếng không quên được trong biên niên sử của sách vỡ chính trị là: “Qui est Kỳ?” (Kỳ là thằng nào kỳ vậy?). Vị trí của tôi là không muốn bênh ai trong những cuộc tranh chấp trong quá khứ giữa ông Kỳ và tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hay các cuộc tranh cãi lâu dài giữa những người theo và chống ông Kỳ trong cộng đồng người Việt lưu vong. Họp đó cũng không phải là một sự phản ánh cuộc đấu tranh quyền lực liều lĩnh của ông đối với nhân vật không kém sáng chói là Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Quân đoàn 1 ở phần đất cực Bắc của miền Nam Việt Nam.

Sau cùng, tôi không muốn phán xét liệu ông kỳ có phản bội chính nghĩa tự do của Việt Nam khi trở về quê hương dưới ách thống trị của cộng sản vào năm 2004 hay không. Bản thân tôi đã từng phải rồi bỏ quê hương vì nạn cộng sản từ thuở ấu thơ nên tôi rất thông cảm với ông. Nỗi nhớ nhà là một căn bệnh có thể đè bẹp bất cứ ai, nhất là khi tuổi đã xế chiều, vì vậy có ai nỡ lên án một người như vậy?

Kỳ chết vào năm 2012 tại Mã Lai Á và khi tro của ông được mang về Mỹ để cất trong nhà mồ Phật Giáo của nghĩa trang Rose Hills Memorial Park tại Whittier, California, Neil Shehan đã lên án ông là “một trong những kẻ tham nhũng Thổ tồi tệ nhất.” Tôi cho rằng những lời lẽ đó là một sự xúc phạm không cần thiết đối với một nguyên lý của hành vi xã hội từ thời cổ La Mã là “de mortuis nihil nisi bonum”. (Đối với người quá cố, không nên thốt lên điều gì ngoài những điều tốt lành, hoặc “nghĩa tử là nghĩa tận”). Hơn nữa, nếu vì lợi ích cá nhân đã thúc đẩy khi Kỳ còn nắm quyền hành, tại sao ông ta lại phải xuống dốc để điều hành một tiệm rượu ở Hurtington Beach sau khi trốn thoát khỏi Việt Nam bằng trực thăng vào năm 1975? Nếu quả thật ông ta đã biển thủ hàng triệu đô la ra nước ngoài trong lúc ông làm thủ tướng và phó tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, ông chắc chắn sẽ khá hơn thế với tư cách là một người tí nạn chính trị sau này.

Nhân vật Nguyễn Cao Kỳ mà tôi được giới thiệu bởi người tùy viên “thích rượu sâm banh” vào năm 1965 là một người đỏm dáng như một con công, đó là sự thật. Nhưng chắc chắn ông ta không phải là “con công” đầu tiên và duy nhất trong quân sử. Bạn có thể nhét đầy vào một bảo tàng viện tầm cỡ như bảo tàng Le Louvre với đầy chân dung của các tướng tá huênh hoang, sặc sỡ mọi thời đại của các quốc gia khác nhau như: Hy Lạp, La Mã, Pháp, Ý, Anh Quốc, Đức, Mỹ, Nga Sô và ngay cả Bắc Việt, nếu xem những tấm hình mới nhất của tay cựu thầy giáo và du kích quân Võ Nguyên giáp trong bộ quân phục trắng tinh với cầu vai vàng chói đính bốn sao trên đó. Phải công nhận, Nguyễn Cao Kỳ có lẽ là con công duy nhất đã lái máy bay chiến đấu trong một bộ đồ bay màu đen may riêng và bộ giầy da tự sáng chế ra. Ông ta đã bận bộ trang phục này khi lái chiếc phóng pháo cơ A-1 Skyraider dẫn dắt cuộc không kích duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa ra miền Bắc Việt Nam. Ông cũng từng cho bà vợ Tuyết Mai bận bộ đồ bất thường này khi hai người xuất hiện trong những dịp lễ quân đội chung với nhau. Chậc, chậc, chậc: trai tài gái sắc đồng bộ trong trang phục màu đen! Một số đồng nghiệp Hoa Kỳ của tôi cho rằng điều này không thích hợp chút nào.

Đối với tôi thì sự kiện này chỉ làm tôi mỉm cười, giống như tôi đã rất thú vị khi được biết lúc ông còn đang tán tỉnh cô tiếp viên hàng không Air Vietnam, ông đã mang cả phi đội bay sát nóc nhà nàng để chào người đẹp sau khi trở về từ một phi vụ chiến đấu. Thật là một cử chỉ hiệp sĩ hào hoa theo lối cổ điển rất đẹp! Mặt khác tôi thừa nhận rằng khi trông thấy một tấm hình của dịch vụ truyền thông chụp Nguyễn Cao Kỳ mặc bộ Barong Tegalog trắng của Phi Luật Tân với mái tóc ép sát bằng cả nửa cân brillantine, đưa đẩy bà vợ tổng thống Johnson trên sàn nhảy trong một buổi tiếp tân họp thượng đỉnh, tôi đã phải nghĩ lại. Tôi tự hỏi giới thượng lưu chuộn lề lối tập tục của xã hội Việt Nam sẽ phản ứng ra sao khi thấy ông thủ tướng của họ “đú đởn” với phu nhân của tổng thống Hoa Kỳ?

Điều đó nói lên là Nguyễn Cao Kỳ rất ưa thích màu mè bên ngoài. Ông ta và bà Tuyết Mai thật đúng là cặp bài trùng như báo chí chúng tôi vẫn thường nói. Đây cũng là lý do tại sao ông Kỳ được dành nhiều phần trong cuốn sách này hơn đối thủ của ông là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, một người điềm đạm, thận trọng và rất có tư cách lãnh đạo của một vị tổng thống. Tôi đã gặp Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần. Các cuộc phỏng vấn luôn luôn dễ chịu và chứa đựng nhiều thông tin nhưng không bao giờ đưa đến những bài báo có tựa đề hấp dẫn được. Chúng không bao giờ lên nổi trang nhất của những tờ báo đã gửi tôi đến Việt Nam, cũng như chưa lần nào dẫn nổi trang ba, chỗ mà báo chí Đức truyền thống dành cho những bài về chính trị quan trọng nhất.

Thiệu cũng có một người vợ xinh đẹp, vương giả và thanh lịch tên là Nguyễn Thị Mai Anh. Bà không có vẻ đẹp minh tinh như bà Kỳ nhưng phù hợp hơn với khuôn mẫu của một người đàn bà Việt Nam đầy quyền lực. Giới báo chí Âu Châu tại Sài Gòn thích đùa rằng các quyết định chính trị quan trọng ở Sài Gòn không được thực hiện trong những buổi họp nội các của Thiệu mà thường tại những buổi tiệc trà của bà vợ trong vườn hoa của phủ tổng thống. Tôi gặp bà Kỳ nhiều hơn là bà Thiệu và có lần được ngồi cạnh bà Kỳ nhiều tiếng đồng hồ trong một chuyến bay của Air France từ Paris về Sài Gòn. Tôi thấy bà có duyên thầm nhưng nói chung lại có vẻ nhút nhát. Những điều này không áp dụng đối với bà Thiệu được. Với tất cả sự duyên dáng cần thiết, bà luôn để lại trong lòng khách cảm giác không thể chối cãi là họ đang đứng trước một nhân vật quan trọng với một cá tính cương quyết.

Chúng ta hãy quay trở lại với Nguyễn Cao Kỳ bởi vì ông, chứ không phải ông Thiệu, là biểu hiện của một sự tương phản chung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Nhân vật Nguyễn Cao Kỳ mà các nhà báo Phương Tây mô tả có vẻ như không phù hợp với với Nguyễn Cao Kỳ đích thực chỉ có thể phát hiện ra sau khi đã lột bỏ hết những bề ngoài che đậy.

Một ngày nọ, Kỳ mời tôi đến chơi nhà ông và tôi hết sức ngạc nhiên về sự giản dị của nó. Ông đã từ chối ở trong phủ thủ tướng tại trung tâm thành phố mà dọn về hai căn trại dã chiến Quonset sơ sài trong căn cứ quân sự Tân Sơn Nhứt. Lúc bấy giờ ngôi nhà tiền chế của ông gần đó đang được trang bị sửa chữa lại. Bên ngoài chỗ ở đơn giản đó có hai con nai cái đang gặm cỏ, quà tặng của lính. Sau này khi ông chính thức dọn vào ở đây ở, ông thường mời bạn bè đứng ngoài hiên để bắn heo rừng do đầy tớ thả ra từ một cái chuồn trong vườn. Trò chơi này tôi không thích thú lắm nhưng cũng thấy vô hại.

Lạ lùng thay là trong những năm kể từ khi rời khỏi Việt Nam, tôi đã suy nghĩ về Kỳ nhiều hơn bất cứ chính trị gia nào mà tôi đã từng được gặp, chính bởi vì những nét mâu thuẫn của ông. Ở trong nhà, những nét hài hước của ông biến mất, chẳng hạn như gã tay chơi nhảy tuýt ở Le Moulin Rouge hay thói đọc thơ tình trong quán rượu. Ông trở về bản chất của một người lính chân chính với ước mơ sử dụng món vũ khí sở trường của mình: điều khiển máy bay chiến đấu mà ông đã học đầu tiên với không lực Pháp tại Marốc và sau đó tại Hoa Kỳ. Điều này đã trở thành nền tảng cho tất cả các cuộc phỏng vấn của tôi đối với ông.

Tôi tìm thấy trong đống hồ sơ lưu trữ của tôi câu chuyện dài dòng đầu tiên về Nguyễn Cao Kỳ. Nó được xuất bản như một bài bốn trang trên tờ Bild am Sonntag một tờ báo lớn phát hành ngày chủ nhật, số ngày 22 tháng 8 năm 1965. Tựa đề là “Der Tänzer auf dem Pulverfass” (Chàng vũ công trình thùng thuốc súng). Đọc lại bài báo này sau gần năm thập niên khiến tôi phân vân khi biết Neal Sheehan bôi nhọ Kỳ như là một kẻ tham nhũng Thổ Nhĩ Kỳ sau cái chết của ông. Trong câu chuyện của tôi, cũng như các mẩu chuyện khác về Kỳ sau đó, mối bận tâm lớn nhất của ông là sự suy đồi của xã hội miền Nam. Ông đã nổi giận trước sự kiện các viên chức chính phủ làm giàu bằng cách tống tiền ăn hối lộ để hoãn dịch hay xin chiếu kháng xuất ngoại, đồng thời ông cũng đã nổi điên với thương nhân đầu cơ tích lũy gạo, bột, muối, đường và sữa đặc nhằm đẩy giá lên cao.

“Điều này gây ra tình trạng bất ổn trong dân chúng,” ông làm ầm lên. “Sự kiện này đang phá hoại nỗ lực chiến tranh của chúng tôi. Bọn người này là những kẻ phản bội và đáng để đem bắn bỏ. Nếu cần tôi sẽ bắn 10.000 con ‘hạm’ để cứu 11 triệu người dân Việt Nam.”

Tôi thông cảm với Kỳ về nỗi niềm này khi nhớ lại những gã trục lợi chợ đen đáng nguyền rủa ở chính  nước tôi trong và sau cuộc chiến vừa qua. Những gã Đức béo phị thời đó. Nhưng sau đó Kỳ lại nhắc với tôi những điều mà ông đã nói với anh bạn phóng viên của tôi là Donald Wise của tờ London Daily Mirror một tháng trước đó. Theo tôi, đó là một nhận xét kém cỏi đã làm tổn hại cho tiếng tăm của Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến sinh tồn. Ông nói:

“Tôi rất ngưỡng mộ Hitler vì ông ta đã đoàn kết được đất nước trong một tình trạng thê thảm vào đầu thập niên 30. Tình hình của Việt Nam hiện nay cũng tuyệt vọng và chúng tôi cần 4 hay 5 Hitler như vậy.”

“Thưa Thủ tướng, xin ngài đừng nói như vậy!” Tôi khẩn khoản. “Đây không phải là điều mà một người Đức trẻ tuổi muốn nghe. Tôi còn nhớ rõ Đức Quốc Xã. Tôi nhớ những gì Hitler đã gây ra cho chúng tôi: cuộc tàn sát hàng triệu người dân vô tội, niềm xấu hổ quốc gia, sự tàn phá của các thành phố và chia rẽ nội bộ!”

“Đó không phải là lý do tôi nói chúng tôi cần một Hitler. Ý tôi là chúng tôi cần người để ổn định lại trật tự,” ông Kỳ nói.

“Như vậy thì chắc chắn ông không cần Hitler rồi. Bởi vì Hitler không ổn định trật tự ở Đức mà chỉ phá hoại thêm thôi.”

“Thưa ông, tôi chỉ nói ẩn dụ vậy thôi…”

“Tôi thấy cách ẩn dụ này không hay đâu, nếu ông không ngại tôi nói thật, thưa Thủ tướng, nhất là nếu ngài biết rằng có rất nhiều người Do Thái tỵ nạn Đức Quốc xã đang phục vụ trên đất nước này với tư cách các nhà ngoại giao cao cấp Hoa Kỳ, các nhân viên viện trợ phát triển và tình báo. Tại sao làm thương tổn đến những người bạn này?”

“Đúng như vậy. Có lẽ anh nói đúng. Hãy bỏ qua chuyện Hitler vậy.”

Đó là Nguyễn Cao Kỳ của gần 50 năm về trước. Ông không bao giờ để lòng những lời chỉ trích của tôi và chúng tôi vẫn giữ một mối quan hệ tốt đẹp. Đáng buồn thay, ông Kỳ không từ bỏ hẳn cái ý tưởng đồng cảm bệnh hoạn của ông đối với Đức Quốc Xã trong đầu. Vài năm trước khi qua đời, ông đã cho tờ Stormfront, một tờ báo của nhóm kỳ thị chủng tộc của người da trắng tại Mỹ một cuộc phỏng vấn và ông lại ca tụng Hitler, đặc biệt là Hermann Goering, Tư lệnh Không lực Đức Quốc Xã. Tôi rất tiếc không có mặt tại đó để nói với ông rằng Goering, một phi công xuất sắc đã từng được thưởng huy chương Pour Le Mérite cao nhất của nước Đức trong Thế Chiến Thứ Nhất, nhưng đồng thời cũng là một tên tham nhũng nhất trong cấp lãnh đạo Đức Quốc Xã, một thằng ăn trộm tinh vi và một con quái vật diệt chủng.

Sau đó thì tôi gặp Kỳ trong một phiên tòa. Sau khi thực hiện lời hứa cắt giảm tiền lương của các công nhân viên biến nhác xuống còn một nửa, bây giờ ông muốn thử nghiệm một phương cách ông đã hứa trong nỗ lực chống tham nhũng. Bị cáo là triệu phú Việt gốc Hoa tên là Tạ Vinh. Giống như Kỳ, ông ta cũng 35 tuổi nhưng khác với viên tướng không quân rắn rỏi, Tạ Vinh tạng người béo lùn do đó phù hợp với khuôn mẫu quốc tế của những tên trục lợi là những gã béo tốt duy nhất trong thời chiến.

Tạ Vinh bị buộc tội biển thủ 104.000 đô la công quỹ, đầu cơ tích trữ bất hợp pháp và âm mưu hối lộ nhân viên cảnh sát. Một hội đồng gồm ba thẩm phán quân sự đã tuyên án tử hình ông bằng cách xử bắn vì tội phá hoại kinh tế. Đơn xin khoan hồng của ông bị bác. Thế là trong buổi sáng sớm ngày 14 tháng 3 năm 1966, một tiểu đoàn lính nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa đến án ngữ khu vực hành quyết sáng rực ánh đèn trước chợ Bến Thành Sài Gòn để giữ an ninh. Lúc bình minh, tủ nhân có một tuyên úy công giáo quân đội kèm theo được dẫn đến một cái cọc đằng trước một bức tường bằng bao cát. Trong số người đứng xem có bà vợ và bảy trong số tám đứa con của Tạ Vinh. Bà vợ kêu gào và xin tha cho chồng bằng tiếng Anh, tiếng Việt và cả tiếng Quảng Đông nhưng vô ích. Tạ Vinh bị trói vào cọc và toán xạ thủ 10 người bắn một loạt súng vào người ông nhưng lại hỏng việc và ông chỉ bị thương mà thôi. Viên sĩ quan chỉ huy tiến đến bắn phát súng ân huệ bằng khẩu súng lục cá nhân của mình. Cùng ngày, một tòa án đặc biệt chống tham nhũng của Kỳ cũng tuyên án tử hình tay cựu giám đốc ngân khố vùng nghỉ mát miền núi Đà Lạt về tội lạm quyền.

Tôi không tán thành hình phạt tử hình nhưng không thể không bực mình khi đọc báo cáo của Walt Friedenberg, phóng viên của tờ Scripps Howard về phán quyết này. Friedenberg nói như sau: “chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã tự đẩy mình xa cách hơn nữa đối với quần chúng mà đáng lẽ họ cần phải giành niềm tin, vì họ là những người ủng hộ nhiệt thành nhất.” Và tiếp theo đó là những cuộc phỏng vấn theo khuôn mẫu “người dân phường ngoài phố” với các tài xế taxi, chủ các cửa tiệm, người giúp việc nhà và những người khác mà theo Friedenberg họ đều tức giận trước cái án tử hình bởi một người mà theo chính lời nói của Friedenberg là một tay “tham nhũng xấu xa như một cái móng ngựa.”

Tôi tự nhủ không biết anh ta tìm đâu ra những lời nói chỉ trích dữ dội như trên vì tất cả những người tôi nói chuyện sau cuộc hành quyết Tạ Vinh đều cho rằng đã đến lúc chính phủ phải có hành động gì đó trước làn sóng những tội ác kinh tế đang lan tràn có nguy cơ đưa đến một cuộc nổi loạn. Một lần nữa tôi nghĩ rằng một thành phần báo chí Hoa Kỳ tại Sài Gòn đang chuyển qua một trạng thái nghề nghiệp khác.

Bên ngoài khách sạn Continental Palace tôi chạm trán với anh bạn tinh quái Đức, người đang “mướn” và trông nom cái xe Citroën của tôi.

“Hề hề,” nó nói, “Tạ Vinh, ông ta không chết đâu.”

“Vớ vẩn,” tôi trả lời, “tôi thấy vợ ông ta khóc la thảm thiết khi ông chết bên cái cọc rồi.”

“Hề hề, đúng vậy, vợ Tạ Vinh khóc nhưng Tạ Vinh ông ấy không chết đâu.”

“Thôi đi, Đức, thật là vô lý. Vậy thì ai bị bắn chết?”

“Tù nhân khác, một người Việt Nam tội nghiệp đã được trả tiền để chết thay cho Tạ Vinh.”

“Đức, tỉnh lại đi nào. Ai mà lại đi nhận một chuyện như vậy?

“Ông ta thật tội nghiệp, đằng nào cũng chết trong tù rồi bỏ lại vợ con không đồng xu dính túi. Nhưng bây giờ thì gia đình giàu có lắm, và Tạ Vinh thì đi Hồng Kông rồi.”

“Nhưng mà Đức, tôi cãi lại. Một người béo mập đã chết bên cái cọc. Chắc chắn trong tù chỉ có Tạ Vinh mới béo như vậy.”

“Người đó béo ra vì gia đình Tạ Vinh cho ông ta ăn thật nhiều trong tù để trông giống Tạ Vinh hơn.”

“Ai nói như vậy?”

“Tất cả mọi người,” Đức  vừa nói vừa chỉ tay lên xuống dọc con đường Tự Do, “ông không tin tôi. Đi hỏi mọi người đi!”

Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn tin tưởng những gì Đức nói với tôi chỉ là một câu chuyện đồn đãi mà chúng ta có thể nghe được hằng ngày ở Sài Gòn. Tôi kể lại đây không phải vì tôi tin đó là sự thật nhưng chỉ vì nó đã minh họa rất hay cái tâm trạng của “Paris cũ của Phương Đông” đã mất đi vẻ hào phóng xưa và chìm dần sâu hơn vào vũng lầy trong khoảng thời gian Nguyễn Cao Kỳ, người được mệnh danh là “chàng phi công với cặp mắt đa tình”, nhảy lên cầm quyền một thời gian ngắn trong lịch sử Việt Nam.

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

——————————

Uwe Siemon-Netto
Uwe Siemon-Netto

Trích từ “Vinh Quang của sự Phi Lý – Tình yêu của một phóng viên cho dân tộc Việt Nam bị bỏ rơi”

Uwe Siemon-Netto

Dịch giả: Lý Văn Quý &  Nguyễn Hiền

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s