Vinh Quang của sự Phi Lý (19)

Với tựa đề “Und das Gras ist rot” (Và cỏ thì đỏ), câu chuyện mô tả khi tôi đến một trảng nhỏ vừa trải qua một trận đụng độ khủng khiếp giữa một toán quân lớn Bắc Việt và các đơn vị của Không Kỵ 1. Tôi diễn tả nó như một trận tấn công biển người của cộng sản, mặc dù các sử gia quân sự sau này hoài nghi thuật ngữ đó có chính xác hay không. Từ chỗ tôi chứng kiến và từ vị trí các xác quân Bắc Việt trên mặt đất, đó chính là sự thật đã xảy ra: làn sóng này tiếp làn sóng khác từng toán quân nhào lên về phía vị trí của lính Mỹ giống như cách xung phong điên rồ của binh sĩ trẻ và kém huấn luyện của Hồng Quân chống lại quân đội Wehrmacht tại mặt trận miền Đông nước Đức.

Đại tá Moore và thương vong của quân địch
Đại tá Moore và thương vong của quân địch

Tôi viết là máu đổ lênh láng đã nhuộm đỏ đồng cỏ voi cao cả thước của cái trảng. Trực thăng của chúng tôi đã phải treo lơ lửng trên không một lúc lâu để không phải hạ cánh trên xác bộ đội, tên gọi của các chiến binh Bắc Việt. Họ nằm đó, những cánh tay của vươn lên về phía trước như thể họ vẫn còn đang nhào về phía chu vi phòng thủ của lính Mỹ. Họ chết quá nhiều khiến chúng tôi phải đợi một lúc lâu cho các lính Hoa Kỳ dọn dẹp bớt một số để chúng tôi khỏi phải đáp lên các xác chết.

Thương binh và tử sĩ Hoa Kỳ đã được di tản rồi nhưng một số tù binh Bắc Việt vẫn còn đó. Họ ngồi xổm, bị bịt mắt và trói lại với nhau dưới những gốc cây. Một số cười khúc khích và một tay trung sĩ Không Kỵ nổi nóng. “Thằng khốn mày cho là chuyện đùa hả?” Anh ta la lớn. Chúng tôi phải kiềm chế anh lại vì nếu không anh đã nổ súng M-16 bắn họ chết hết rồi. Không ai nói với anh là đối với người châu Á, cách cười khúc khích như vậy biểu lộ sự bối rối chứ không phải là có ý diễu cợt.

Có một điều mỉa mai là những xác lính Bắc Việt có vẻ được ăn bận chỉnh tề hơn lính Hoa Kỳ. Những bộ đồ kaki của họ trông mới hơn bộ áo trận tồi tàn và sờn nát của lính Mỹ. Ở đây nói lên sự bê bối của cơ quan tiếp liệu Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã không cung cấp đầy đủ cho binh lính những đồng phục và giầy trận thích ứng cho cuộc chiến trong rừng rậm, mặc dù những thứ này không hề thiếu ngoài thị trường chợ đen tại Sài Gòn.

“Các anh định làm gì với những xác chết lính Bắc Việt này?” Tôi hỏi một viên sĩ quan có vẻ chịu trách nhiệm thu dọn chiến trường.

“Chúng ta không thể chôn họ hết được. Nhiều quá,” anh trả lời. “Tôi đoán là không quân sẽ thả bom na-pam ngay sau khi chúng ta rút khỏi nơi đây.”

Một vài lính GI thu nhặt ba lô và ví bóp của lính Bắc Việt mang lên trực thăng, trong đó có chiếc của chúng tôi. Trong chuyến bay về lại tiền trạm của Không Kỵ 1 ở Pleiku, chúng tôi lục lọi sơ qua các thứ này và thấy có quần áo trận và đồ lót để thay, tất cả được ủi và xếp gọn gàng bởi những bà mẹ hay các cô vợ tại một nơi xa xôi nào đó như Vinh, Hải Phòng hay Hà Nội.

Đọc những tài liệu tìm thấy trong ví của những chiến binh Bắc Việt chúng tôi giật mình khi nhận ra là rất nhiều trong số họ chỉ mới 15 tuổi đầu. Trong nhiều cái bóp của đám lính trẻ con còn thấy truyền đơn Mỹ khuyến khích họ đào ngủ. Sau này tôi được biết là khoảng 1/4 số lính thiếu niên này mang theo những tờ truyền đơn với hy vọng có cơ hội để hồi chánh. Sự ác nghiệt của chiến địa đã không cho họ thực hiện điều này. Nếu bỏ ngủ lúc đơn vị đang xung phong thì chắc chắn họ sẽ bị các đồng chí của họ bắn chết đàng sau lưng. Đó cũng là tính chất của chiến tranh biển người vậy.

Sáng hôm sau, một chiếc máy bay Hercules C-130 của Không Lực Hoa Kỳ đáp xuống Pleiku chở theo hầu hết tập đoàn báo chí Sài Gòn đã không tham dự trận đánh Ia Drang. Trong đám họ có tay Joe “nổ” phóng viên của tờ lá cải mà thường thì không bao giờ rời khỏi thành phố. Chiếc máy bay vận tải khổng lồ có nhiệm vụ chở những người đã trải qua những ngày ngoài mặt trận về lại thủ đô, cùng với một số nhân viên quân sự và các thương binh khác. Những ký giả khác được lệnh phải chờ những chuyến sau nhưng Joe không chịu như vậy. Sau cuộc họp báo ngắn ngay trên đường băng, hắn cắt ngang dòng người đang chờ đợi làm nhân viên phụ trách chuyển vận nổi nóng lên. “Này, anh hãy chờ đến phiên mình,” anh ta gầm lên. “Anh không có tên trong danh sách chuyến bay này.”

Niềm vui khi thấy hắn bị mắng tiếc thay quá nhỏ bé để làm tôi nguôi ngoai nỗi buồn vì những gì đã trải qua trong mấy ngày trước đó. Tôi trở về khách sạn Continental, đi tắm thật lâu và gặp Donald ngoài sân hiên để uống một ly rượu.

“Trông anh thê thảm quá, anh bạn già ơi,” anh nói.

“Donald, tôi không nghĩ tôi có thể làm quen được với cảnh thanh niên bị giết hại hay bị thương tật, và tôi cũng chẳng quan tâm họ là người Mỹ, Nam Việt, Bắc Việt hay Việt Cộng nữa.”

“Tôi cũng vậy thôi và tôi đã thấy nhiều lắm rồi trong đời. Nhưng tôi có cái này có thể làm anh vui hơn một chút. Đi ăn tối ở chỗ Stammtisch của tôi đi.”

Donald mượn một thuật ngữ của Đức mà anh đã học được. Stammtisch là tên gọi một phong cách phổ biến trong những hàng quán hay cơ sở công cộng nơi xứ tôi. Đó là một cái bàn hàng tuần dành riêng cho một nhóm thành viên đến để trao đổi với nhau về những đề tài ưa thích của họ, thường là chính trị. Tuy nhiên, Stammtisch của Donald Wise là một bữa ăn tối dành cho những phóng viên Âu châu nhằm bảo vệ sự bình an về tinh thần của các thành viên bằng cách tránh bàn về tất cả những điều gì có liên quan dù mơ hồ nhất đến Việt Nam bao gồm: cuộc chiến Việt Nam, các mưu đồ chính trị, chiến tranh ở Lào, đường lối của Liên Xô và Trung Cộng đối với Đông Dương, và mọi hình thức chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Điều lệ đặt ra là không ai được đề cập đến các đề tài kể trên, và nếu một thành viên nào lỡ dại làm như vậy, người đó sẽ phải thanh toán cái hóa đơn rất tốn kém vì các buổi ăn tối được tổ chức tại quán Aterbéa, một trong những quán ăn Pháp sang trọng nhất ở Sài Gòn. Donald Wise nói với tôi là anh đã nẩy ra sáng kiến đó trong khi anh đang cố tẩy đi cái mùi tử thần trên bộ ria mép ba lần, sau vụ tường thuật cả một tiểu đoàn quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị tiêu diệt toàn bộ.

“Tôi là kỳ cọ thật nhiều mà vẫn không mất đi nổi cái mùi tử khí đó,” anh nói. “Tôi tự cảm thấy kém văn minh vô cùng dù rằng chúng ta đáng lẽ phải là những người có văn hóa. Vì vậy tôi trở lại với cái ý tưởng mà tôi đã có trong thời gian bị làm tù binh Nhật trong Thế Chiến Thứ Hai: phải có cách để sống một cách văn minh, ít nhất là một tuần một lần.”

Aterbéa là giải pháp chúng tôi chọn. Tối hôm đó chúng tôi có chín người, năm người Anh, hai người Úc, một người Pháp và tôi là người Đức. Tất cả chúng tôi đều mặc áo ngắn tay phù hợp với khí hậu nhiệt đới hay ít nhất là áo thể thao. Chúng tôi gọi rượu ngon và bàn cãi về âm nhạc, nghệ thuật, văn chương, lịch sử và dĩ nhiên về phụ nữ. Nhưng chỉ nói chung chung mà không nói đến quốc tịch của họ vì sợ nhắc đến một số người đẹp địa phương thì có khả năng mất tiêu cả tháng lương. Một hồi sau thì chúng tôi cũng cạn đề tài bàn cãi và mọi người rơi vào im lặng.

“Vậy mình soạn một bài thơ limerick (thơ con cóc) đi,” Donald đề nghị. Bài thơ vần con cóc mà chúng tôi đã soạn trong buổi chiều lúc tôi trở về từ thung lũng Ia Drang có vẻ đã được phổ biến rộng rãi vì chính tôi đã thấy một vài biến thể không lịch sự lắm trên internet. Tuy nhiên nếu tuổi già đã không làm tôi lú lẫn quá Đáng, tôi xin khẳng định đây chính là tác phẩm của chúng tôi. Nói như thế này:

There was a fellow named Yorrick

Who could, in moments europhoric

Produce for selection

There kinds of erection:

Ionic

Corinthian

And Doric

Dịch là:

Có một gã tên Yorrick.

Có thể lúc phấn khích

Tạo ra nguồn cảm hứng

Cho ba loại cương đứng:

Ai-ô-ních

Cô-rinh-tưng

Và Đô-rích

Chúng tôi lảo đảo trở về khách sạn, cười ngả nghiêng sảng khoái nhất mà tôi có thể nhớ lại được trong suốt chiều dài kinh nghiệm sống tại Việt Nam. Để có một lần cảm thấy rằng chúng tôi đã trở về được với những gì chúng tôi nghĩ là thế giới hiện thực. Bụng căng đầy rượu vang đỏ nhập từ Pháp, tôi thiết vào giấc ngủ miệng lẩm bẩm, “Doric, Doric,” lòng biết rằng những hình ảnh thung lũng Ia Drang sẽ trở về ngày hôm sau. Và chúng trở lại thật.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (18)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (20)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (19)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s