Vinh Quang của sự Phi Lý (18)

Về phía Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hầu hết các binh sĩ cũng không vượt hơn tuổi thanh thiếu niên bao nhiêu, nhưng đó là thông lệ của mọi quốc gia trong thời chiến. Tương tự như các nơi trên thế giới, tuổi động viên của Hoa Kỳ là 18 tuổi. Khi tôi chứng kiến lần đầu tiên những người lính bộ binh Mỹ ra trận tại Việt Nam, tôi đã xúc động bởi thái độ ngây thơ của họ. Các binh sĩ này thuộc Sư đoàn I Không Kỵ đã tham chiến tại Trung Nguyên vào giữa năm 1965 và đã trở thành bất tử trong cuốn sách “Chúng tôi đã từng là chiến sĩ” (We Were Soldiers) bởi Trung tướng Harold G. Moore và nhà báo Joseph L. Galloway. Biệt danh “Không Kỵ” (Air Cav) được đặt ra vì sư đoàn này ra trận với 434 chiếc trực thăng thay vì là ngựa chiến hay xe bọc sắt. Đơn vị 17.000 người này đã gây cảm giác mạnh trong tôi vì họ giống như một sự phối hợp lạ lùng giữa kỹ thuật cao và sự non nớt cá nhân khi tôi đến thăm họ tại An Khê, mặc dù sự non nớt này sẽ biến mất nhanh chóng qua những trận đánh đẫm máu.

Harold Moore
Trung tá Harold Moore trong trận Ia Drang

Tôi đáp xuống căn cứ An Khê cùng với anh bạn Donald Wise, một biên tập viên người Anh và cựu sỹ quan chống du kích tại Mã Lai Á. Vừa vân vê bộ ria mép kiểu David Niven, anh ta vừa ngắm nghía thật kỹ doanh trại rồi chua chát nói: “Anh có thấy là họ đặt một cái máy làm kem trước khi hoàn tất chu vi phòng thủ hay không? Chẳng hiểu họ đặt thứ tự ưu tiên như thế nào đây?”

Ngày hôm sau khi chúng tôi đi tuần lần đầu tiên chung với một đại đội của Không Kỵ 1, Donald nhận xét: “Những người này chưa sẵn sàng để chiến đấu. Trông họ cứ túm tụm lại như những đứa trẻ con khiếp nhược trong khi đáng lẽ họ phải đi hàng dọc mới phải. Đi kiểu này nguy hiểm vô cùng. Lỡ một đứa đạp phải mìn là cả đám sẽ tiêu tùng. Họ phải di hành cách nhau ít nhất 10 thước mới khỏi bị vạ lây.”

Một viên thượng sĩ nghe được chúng tôi nói gọi lên tiếng: “Đó là điều mà tôi cố nhét mãi vào mấy cái đầu đặc sệt của tụi nó. Bọn nó không chịu thực hiện những biện pháp phòng ngừa căn bản nhất. Nón chắc cũng chả chịu đội, không những có thể bảo vệ chống đạn địch mà còn có thể dùng để tránh nắng nữa. Cứ như tôm càng luộc bỏ trong bụi. Chẳng có đứa nào chịu uống nước cho đầy đủ. Ngày hôm qua có một đại đội gần như bị xóa sổ vì cảm nắng.”

Donald tiếp tục: “Thật không hay ho gì trong cái khí hậu này mà lính của ông cứ mập phì vì hằng đống hamburgers, nước ngọt và cà-rem.”

Trong một cuộc chiến tranh du kích, người phóng viên rất khó mà đoán được khi nào sẽ có đụng trận và ở đâu để có thể viết được một câu chuyện hay. Do đó Donald đề nghị chúng tôi đứng gần những chiếc trực thăng y tế tản thương bởi vì họ phải bay vào những chỗ đang đánh nhau với nhiệm vụ cứu thương binh.

Chúng tôi nằm dài trong bóng mát của một chiếc trực thăng UH1-B tản thương có vẽ nhiều dấu hồng thập tự lớn với hy vọng sẽ không bị địch bắn vào. Một toán truyền hình CBS tham gia với chúng tôi. Viên phi công nói: “Thưa quý vị, chúng tôi hoan nghênh quý vị cùng đi với chúng tôi vào trận chiến nhưng sẽ không ra được đâu vì lúc đó trực thăng chúng tôi phải chở thương binh và tử sĩ ra.”

Chẳng bao lâu sau thì chiếc trực thăng được lệnh đi giải cứu nạn nhân của một trong những trận giao tranh lớn nhất liên quan đến binh lính Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Khi chúng tôi bay đến gần bãi đáp thì đạn đối phương bắn trúng động cơ trực thăng khiến phi công phải tắt máy đáp khẩn cấp. Tôi thoát nạn không hề hấn gì vì dạo đó tôi khá gầy ốm nhưng rất dẻo dai và chỉ nặng không hơn 140 cân. Sự chấn động giống như nhảy trên một bức tường 5m xuống đất. Cột sống tôi có vẻ bị chấn thương nhưng lúc đó tôi không hề biết mà mãi cho tới khi sau này tôi trở thành một người đàn ông trung niên mới khám phá ra.

Chúng tôi, gồm các phóng viên, phi công và nhân viên toán truyền hình tức khắc phóng ra khỏi xác trực thăng và chạy tìm chỗ núp vì chúng tôi rơi xuống đúng vào một vùng đang giao tranh dữ dội. Trong tích tắc, một trái đạn súng cối nã xuống làm nổ tung xác chiếc trực thăng vốn đã bị hư hại rồi. Không một ai trong chúng tôi bị thương những người thương binh đáng lẽ được chúng tôi đến tản thương thì đã chết. Anh ta chỉ là một đứa trẻ 17 tuổi đã khai gian tuổi để được tình nguyện đăng lính. Một viên Kalashnikov đã bắn trúng ngực anh. Trong giây phút cuối, anh đã kêu khóc như một đứa trẻ con đầu tiên là với mẹ và sau đó với Chúa. Anh ta là người lính Mỹ đầu tiên tôi chứng kiến bị giết ngoài mặt trận. Chẳng bao lâu sẽ còn có hàng trăm người nữa, hầu hết đều gọi những bà mẹ đang ở xa, sau đó là Chúa, và luôn luôn theo thứ tự như vậy.

Một trong những nhân vật đáng quý tôi hân hạnh được gặp trong lần đi thăm Không Kỵ 1 là Charlie Black, một nhà báo đồng nghiệp. Anh là cây viết quân đội của tờ Enquirer Ledge, tờ báo đáng kính của thành phố Columbus, tiểu bang Georgia, năm vào khoảng chín dặm về phía Bắc của Fort Benning, tổng hành dinh của sư đoàn. Black không giống như bất kỳ thành viên nào của tập đoàn báo chí tại Sài Gòn. Anh đến Sài Gòn với một ngân khoản khiêm nhường. Anh không ở những khách sạn lớn kiểu thuộc địa, cũng không ăn uống tại những nhà hàng Pháp sang trọng. Anh không quan tâm tới không khí chính trị phức tạp của Sài Gòn hay các trường hợp giết người vì dâm ô, hoặc thăm viếng những khu nghỉ mát bên bờ biển cùng với các phụ nữ quyến rũ. Hàng không mẫu hạm, nhà sư Phật giáo tự thiêu hay hoàng tộc của Việt Nam không thuộc phần trách nhiệm của anh.

Không, Charlie Black là một nhà báo tầm thường với một trách nhiệm giản dị. Anh có nhiệm vụ kể về cuộc sống của 16.000 binh lính thuộc Sư đoàn 1 Không Kỵ với khả năng mà một ký giả tỉnh nhỏ có thể thực hiện được để tường trình cho dân chúng của tỉnh mình. Charlie là một cựu thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã từng tham chiến tại chiến trường Thái Bình Dương trong thế chiến thứ hai với nhiệm vụ bắn sẻ và là một thượng sỹ trong chiến tranh Cao Ly. Anh đến Việt Nam năm 1965 với một món tiền ứng trước nghèo nàn là 430 đô la trong túi và một lời khuyên của nhà xuất bản là đổi lấy tiền mặt chuyến về trong vé khứ hồi nếu chẳng may cạn tiền. Ông sếp đã cung cấp anh tem thư, giấy viết thật mỏng, dặn anh đánh máy thật khít dòng và dùng cả hai mặt tờ giấy để tiết kiệm tiền tem. Charlie không có quyền đánh điện những câu chuyện của mình về mà phải chuyển qua hệ thống APO tức hệ thống quân bưu (Armed Forces Postal System). Lệnh của anh là “trang trí” những bản tin với càng nhiều tên tuổi có liên quan đến các gia đình sống trong Fort Benning càng tốt. Lý do là gia đình của các quân nhân thường cắt những mẫu tin này và gửi ngược lại cho họ ở ngoài mặt trận.

Charlie ngủ chung với binh lính, ăn cùng với họ và chia sẻ khẩu phần C mỗi khi ra trận địa. Anh rất ít khi nào đặt chân đến câu lạc bộ sĩ quan nơi mà các phóng viên chúng tôi thường ghé qua để nghỉ ngơi vào buổi chiều, đồng thời nhặt nhạnh tin tức và những cuộc trao đổi ngẫu nhiên. Anh thích giao du với lính tráng hơn và cùng họ đi tuần tiễu chu vi phòng thủ, cũng như theo họ ra trận địa.

Phóng viên chiến trường như chúng tôi rất hiếm khi nào mang vũ khí nhưng Charlie thì luôn luôn kè kè một khẩu M-16 bên mình và thường xuyên phải sử dụng đến nó, hầu hết chống Việt Cộng và thỉnh thoảng chống lại thú dữ. Một đêm nọ, anh nghe thấy tiếng sột soạt trong bụi cây, tưởng là du kích Việt cộng nên nổ súng. Đột nhiên, một con cọp bị thương đổ máu nhảy chồm tới chụp anh ta. Thế là một huyền thoại trong Không Kỵ 1 được tạo ra. Charlie bắn thêm lần nữa và con cọp lớn rớt chết tươi dưới chân anh. Anh còn ngẫm nghĩ có cách nào thuộc da con thú gửi về Goergia làm kỷ niệm hay không nữa.

Khi Charlie Black, một học sinh bỏ học trung học, qua đời năm 1982 ở tuổi 59, một cáo phó trên tờ New York Times đã ghi nhận một cách trang trọng: “Những tường trình của ông đích thực là những bức tâm thư nhiều hơn là báo chí truyền thống.” Tôi còn nhớ một trong những bức thư đó là một trong những câu chuyện xúc động nhất về cuộc xung đột tại Việt Nam. Điều đó làm nên tính chất mạnh mẽ của bức thư chính là ở sự đơn giản thẳng tuột của nó. Lá thư tự nó chẳng cần phải trau chuốt màu mè gì cả. Tôi xin trích dẫn ra đây bởi vì nó có liên quan đến chủ đề chính của chương này là sự nhẫn tâm sử dụng trẻ em trong cái gọi là “chiến tranh giải phóng dân tộc” của tướng Võ Nguyên Giáp.

Nhân vật chính của bài viết là binh nhất Toby Braveboy, một binh sĩ gốc người da đỏ Creek đến từ một tỉnh có một cái tên ngộ nghĩnh là Coward (Thằng Hèn), tiểu bang North Carolina. Sau đây là đoạn trích những gì Black viết về Braveboy trong số ngày 7 tháng 12 năm 1965 của tờ Ledger Enquirer:

Ngày 17-11, Braveboy… đang hành quân đến cứ điểm… Quân Bắc Việt tấn công dữ dội đơn vị… Khi màn đêm buông xuống, Braveboy bị thương ở bàn tay trái, cánh tay và chân. Đồng đội chung quanh chỉ còn lại những người lính Mỹ bị thương. Phần còn lại của tiểu đoàn đã cố thủ lại trong một vòng đai chiến đấu và bị cuốn vào một trong những cuộc giao tranh cay đắng nhất… “Tôi muốn tìm cách giúp ba người bạn bị thương chung với tôi,” Braveboy nói. “Họ bị thương cả rồi… Tôi cố bỏ đi tìm cứu viện…”

Anh trườn về hướng có tiếng súng… Một toán quân Bắc Việt tiến đến và anh giả chết. Họ xử tử những người bị thương, máu phun lên cả người anh khi bọn chúng chặt đầu một thương binh Hoa Kỳ… Anh bò trong bóng đêm đến một bụi cây lớn và cuộn mình nép vào một dải đất… “Tôi nghe thấy tiếng chân và bốn tên lính Bắc Việt đi ngang qua tôi,” anh kể. “Ba tên… không thấy tôi nhưng tên thứ tư… ngó thẳng vào mắt tôi.

Hắn đứng lại chĩa súng vào tôi. Tôi giơ bàn tay bị thương lắc đầu ‘không’… Tôi không biết tại sao nhưng hắn hạ súng xuống và bỏ đi. Hắn còn quá trẻ, chỉ là một thiếu niên không lớn hơn 16 hay 17 tuổi.”

Chuyện này xảy ra tại trận chiến thung lũng Ia Drang mà tôi đã tường thuật. Tôi nghĩ rằng không cần phải nhắc lại mô tả tuyệt vời của Jo Galloway và Harold Moore về biến cố lịch sử này trong cuốn “Chúng tôi đã từng là chiến sĩ” nhưng những câu cuối cảm động của Braveboy, “hắn còn quá trẻ, chỉ là một thiếu niên” trong bản tường thuật của Charlie Black đã mang lại cho tôi những cảm xúc mãnh liệt về cuộc tắm máu đó. Là người đã từng thấy quá nhiều thanh thiếu niên thiệt mạng trong Thế Chiến Thứ Hai, bây giờ chứng kiến sự hy sinh của những người lính trẻ này khiến tôi vô cùng đau đớn, bất kể quốc tịch của họ là gì. Điều này đã thể hiện trong bản tin tôi viết cho tờ Die Welt, số ngày 13-12-1965.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (17)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (19)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (18)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s