Vinh Quang của sự Phi Lý (17)

Chương 8

Trẻ em giết nhau

Cuộc hành trình đến Huế vào vùng phi quân sự của tôi đã đánh dấu sự kết thúc của lần công vụ đầu tiên và trong tâm trí tôi, có lẽ là đoạn kết của một chương trong cuộc chiến Việt Nam. Khi tôi rời Sài Gòn vào mùa xuân 1965, nó vẫn còn mang dáng dấp của một thành phố kiểu Pháp, và sự xung đột vẫn còn ở dạng chung là chiến tranh du kích, đặc trưng của giai đoạn hai trong cuộc “chiến tranh nhân dân” theo sách giáo khoa của tướng Võ Nguyên Giáp. Khi tôi trở lại vào cuối mùa hè, trung tâm Sài Gòn làm tôi nhớ đến khu vực xung quanh nhà ga xe lửa trung tâm của Frankfurt nhiều hơn là đến một đô thị quyến rũ ở Pháp. Theo chân sự hiện diện của những đơn vị lớn thuộc bộ binh Hoa Kỳ, một khu phố đèn đỏ chơi bời đã di căn vào trong trung tâm thành phố và cuộc xung đột đang tiến vào giai đoạn thứ ba: chiến tranh quy ước.

Tôi bay đến New York qua ngã Hamburg, nơi mà dấu hiệu phôi thai của phong trào chống chiến tranh đang chờ tôi tại trụ sở chính. Hằng đống thư từ của những nhóm sinh viên cánh tả Frankfurt và Tây Bá Linh, cùng với bài viết của một tạp chí cực đoan, Konkret, buộc tội tôi đã vinh danh cuộc chiến và tỏ ra “vô tình với nguyện vọng của một dân tộc bị áp bức”. Chủ biên của tạp chí đó là Ulrike Meinhof, người mà ba năm sau sẽ trở thành thủ lãnh của Nhóm Hồng Quân, Red Army Fraction, một tổ chức khủng bố giết người. Bài viết không mang tên tác giả nhưng về sau tôi khám phá ra đó là một trong những người bạn học cũ ở trường nội trú; thực sự chúng tôi đã có thời từng là bạn thân với nhau.

Biểu tình chống chiến tranh ở Frankfurt, Đức, tháng Hai 1967

Để theo dõi câu chuyện dễ hơn, tôi xin phép được lướt nhanh qua hơn hai thập niên sau đến mùa hè 1987. Lúc đó tôi đã tạm ngưng sự nghiệp ký giả để làm việc như một tuyên úy nội trú tại bệnh viện cựu chiến binh VA Medical Center tại Saint Cloud, Minnesota. Công việc của tôi là chăm sóc mục vụ cho các cựu chiến binh Việt Nam bị rối loạn tâm thần sau chấn thương (PTSD) và những chứng bệnh khác có liên quan đến chiến tranh.

Một ngày thứ bẩy nóng nực được nghỉ việc, tôi lái xe đến Duluth trên con đường được mệnh danh là “Scandinavian Riveria” dọc theo hồ Superior và dừng chân tại một lữ quán đồng quê với mục đích uống một ly bia. Tại quầy rượu chỉ có một người khách duy nhất là một người đàn ông dáng gầy nhưng dẻo dai ở lứa tuổi gần 40, mặc quần cụt. Tôi đoán ngay anh là một cựu chiến binh Việt Nam qua dáng dấp và biểu hiện khắc khoải trên khuôn mặt, một dấu hiệu chung của các cựu chiến binh Việt Nam vào lúc đó.

“Ông đến đây làm gì vậy?” Anh ta hỏi tôi.

“Tôi chỉ đi ngang qua thôi”, tôi trả lời, “tôi là mục sư làm việc với các cựu chiến binh Việt Nam tại St. Cloud.”

“Ông đang diện kiến một cựu chiến binh Việt Nam đây này”, người lạ mặt tự giới thiệu tên ông – chúng ta tạm gọi – là Kurt.

“Tôi có thể nhìn ra điều đó.”

“Vậy ông có nghĩ tôi là một thằng giết con nít không?”

“Sao anh lại nói vậy, anh Kurt?”

“Mọi người đều nói chúng tôi là bọn giết con nít. Trong trường hợp tôi thì đó lại là sự thật. Tôi đã bắn một đứa tám tuổi ngày tôi vừa đến đó. Ông có biết những gì tôi đã phải trải qua hằng đêm không? Hơn 20 năm qua tôi vẫn gặp ác mộng thấy khuôn mặt của thằng bé ngày nào.”

“Chuyện gì đã xảy ra vậy?”

“Lúc đó tôi bị động viên mới chỉ có 18 tuổi,” Kurt nói tiếp. “Tôi ngồi sau phòng lái để canh chừng trên một chiếc xe vận tải cùng với trung đội ra ngoài phòng tuyến. Có một thằng bé đứng bên cạnh đoàn xe ôm theo một giỏ đầy xoài. Nó giơ tay vẫy cười với chúng tôi, bọn tôi vẫy tay lại.”

Vừa khua tay làm động tác vậy, Kurt vừa tiếp tục câu chuyện:

“Đột nhiên nó thò tay vào giỏ trái cây móc ra một trái lựu đạn, rút chốt và định ném vào xe chúng tôi. Cả trung đội tôi chắc sẽ bị tiêu tùng nếu tôi không quạt nó ngay lập tức bằng một băng M-16. Bây giờ mỗi lần tôi nhắm mắt ngủ đều ác mộng thấy khuôn mặt thằng nhỏ nằm dẫy chết và trái lựu đạn trong tay đã nổ tung banh xác nó ra thành từng mảnh.”

“Những chuyện ám ảnh đó rất thường xảy ra đối với cựu chiến binh,” tôi nói. “Hằng ngày tôi nghe kể lại rất nhiều khi làm việc.”

“Tôi biết,” Kurt trả lời. “Nhưng nỗi ám ảnh đã trở nên trầm trọng hơn đối với tôi trong những ngày gần đây. Ông thấy đấy, tôi hiện có hai đứa con song sinh tám tuổi. Trong những cơn ác mộng hằng đêm, khuôn mặt méo mó của đứa bé bị tôi giết bắt đầu mang hình dáng của hai đứa con tôi.”

Anh ta còn kể cho tôi là anh đã từng làm thợ bánh ở St. Paul nhưng vì trạng thái tâm thần nên không thể hòa đồng được với những người chung quanh, kể cả vợ anh. Giống như một số cựu chiến binh khác sống tự cô lập tại Minnesota anh ta mua một lô đất khá lớn sâu trong rừng. Ở đó, anh tạo cho mình một môi trường sống giống như các căn lều tiền trạm anh từng ở trong rừng rậm Việt Nam. Doanh trại này được bảo vệ chống lại những kẻ lạ mặt bằng dây kẽm gai và bao cát.

“Anh định phòng thủ chống ai vậy?” Tôi hỏi.

“Tụi nó đó”, Kurt trả lời một cách mơ hồ. “Mấy thằng khốn mà tới thì tôi đã sẵn sàng. Tôi đào sẵn cả giao thông hào và có đầy đủ vũ khí đạn dược.”

“Bộ anh sống như vậy một mình quanh năm suốt tháng hả?”

“Đúng vậy, trừ những tháng mùa hè. Lúc đó thì tôi lái xuống St. Paul đón mấy đứa nhỏ để nghỉ hè trong trại của tôi. Chúng hiện đang ở đó, ông có muốn ghé qua chơi và gặp chúng nó không?”

Méo mó nghề nghiệp phóng viên khiến tôi quên cả thận trọng. Tôi bằng lòng nghỉ nốt cuối tuần với Kurt và hai đứa nhỏ trong rừng. Anh ta có một chiếc scooter bốn bánh đi rừng đậu ngoài lữ quán và bảo tôi lái chiếc Volkswagen Rabbit theo sau.

Chúng tôi lái xe vào một khu vực cây cối rậm rạp vùng Tây Bắc thành phố Duluth, rời khỏi đường nhựa và tiếp tục lái trên một con đường đất bụi bậm vào sâu trong rừng rậm. Mặt đất trở nên sình lầy hơn và cuối cùng thì chiếc xe bé nhỏ của tôi bị mắc kẹt.

“Không sao cả,” Kurt nói. “Chúng ta khá gần cái trại của tôi rồi. Tôi có một chiếc xe jeep và sẽ trở lại trong vòng nửa tiếng đồng hồ để kéo ông ra.”

Tôi đang ngồi chờ trong xe với cái cửa kính bên tay lái mở xuống. 30 phút trôi qua. Đột nhiên tôi cảm thấy chất kim khí lạnh dí vào màng tang tôi: một nòng súng Colt 45.

“Tao muốn mày cút ra khỏi nơi đây ngay,” Kurt thốt lên đầy vẻ khích động. “Tao không muốn mày vào căn lều của tụi tao nữa vì tụi nhỏ sẽ biết tao là một thằng giết người.”

Nếu có một điều gì hữu ích tôi tự khám phá ra được từ thuở còn nhỏ chịu đựng hằng đêm bom đạn Thế chiến Thứ hai thì có lẽ là cái khả năng trong lúc hiểm nguy, tôi trở nên vô tri vô giác, như thể biến thành tảng đá lạnh băng vậy. Tôi chẳng hãnh diện gì lắm vì đó không phải là cái gì tôi hoàn thành được mà chỉ là một ân sủng trời ban cho mà tôi có nhiều dịp phải cảm tạ trong đời. Bị khẩu súng Kurt dí vào đâu, tôi vẫn kiên nhẫn nói chuyện với anh ta ít nhất 20 phút đồng hồ nhằm thuyết phục anh đưa lại cho tôi khẩu súng.

“Nếu anh bắn tôi bây giờ và đeo súng về trại, mấy thằng con anh sẽ biết ngay anh là kẻ sát nhân,” tôi còn nhớ đã nói với Kurt như vậy. Cuối cùng, Kurt trao cho tôi khẩu Colt. Tôi vội vàng cầm lấy, khóa chốt an toàn lại, tháo băng đạn ra và trả lại cho anh ta. Tôi cũng khuyên anh nên giấu nó đi không để tụi nhỏ biết. Kurt quỵ gối xuống bật khóc. Một chút sau anh ngồi dậy lặng lẽ đi đến chiếc xe jeep và trở lại với một sợi dây thừng cột vào cái xe Volkswagen của tôi. Sau đó anh mở máy và kéo xe tôi ra khỏi vũng lầy. Anh tháo sợi dây thừng ra và bắt tay tôi. Tôi tìm cách bỏ được vào túi quần anh cái băng đạn trước khi anh lên xe jeep và biến mất vào trong khu rừng.

Hai bàn tay tôi không ngừng run lên bần bật khi tôi lái trở lại lữ quán. Không còn mất cảm xúc nữa, tôi kêu một ly Scotch to gấp ba để tự trấn tĩnh lại.

“Có phải Kurt đã làm phiền ông không?” Ông chủ quán hỏi tôi vì đã nghe được câu chuyện chúng tôi trao đổi với nhau hồi sáng.

“Chứ còn gì nữa!”

“Tôi biết, tôi biết. Không phải lần đầu tiên đâu.”

“Ông nghĩ gì về anh ta?” Tôi hỏi ông chủ quán.

“Thật là đáng thương. Theo tôi biết, anh ta chưa hề hại ai bao giờ. Nhưng tội nghiệp cho anh ta. Anh ta là một người đã bị tổn thương nặng nề và không phải là người duy nhất quanh đây đâu.”

“Như vậy có nghĩa là còn nhiều người như Kurt sống trong rừng nữa à?”

“Đúng vậy, không ít đâu. Họ sống ẩn dật trong rừng trong các doanh trại bao bọc bởi dây kẽm gai và bao cát. Họ đều mang mặc cảm tức giận và cho rằng nước Mỹ đã bỏ rơi họ như những thứ đồ ăn bỏ mứa. Tất cả đều tin là Chúa đã vĩnh viễn kết án họ cho nên họ tự tạo cho mình cảnh địa ngục riêng trong rừng. Buồn lắm, thật là đáng buồn, thưa ông! Nhiều người còn thảm hại hơn Kurt nhiều. Họ không tiếp xúc với người lạ.”

Một cựu chiến binh tại tượng đài kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam

Mãi đến chiều tôi mới bình tĩnh lại được để tiếp tục cuộc hành trình dọc vùng “Scandinavia Riviera”, lòng vẫn không hết bàng hoàng vì nhớ lại cái cảnh 22 năm về trước khi lần đầu tiên tôi chứng kiến cảnh những anh chàng thanh niên Mỹ luống cuống vấp ngã trong vùng rừng rú của cao nguyên trung phần Việt Nam. Tôi còn nhớ tôi đã xúc động vô cùng trước sự ngây thơ của họ. Họ còn quá trẻ để đi bầu hay uống rượu nhưng đủ tuổi để chém giết và bị giết. Kurt thuộc vào thế hệ bi kịch của những thanh niên Mỹ đó.

Khi trở về St. Cloud, tôi kể lại cho các thành viên của nhóm chăm sóc mục vụ về chuyện của Kurt. Vài người trong số những cựu chiến hữu biết Kurt và tình nguyện đi gọi anh ta gia nhập nhóm. Anh ta từ chối nhưng nhắn lại là rất ân hận về hành động thất thường của mình đối với tôi. Chúng tôi thảo luận về trường hợp của Kurt nhiều tuần lễ vì nghĩ rằng đây là một trường hợp tiêu biểu cho nhiều cựu chiến binh khác. Chúng tôi tính ra rằng vào năm 1965, Kurt mới 18 tuổi và thuộc vào thành phần bị động viên đi lính vì không đủ tiêu chuẩn học vấn và tài chánh để lên đại học; một cách để hoãn dịch hoặc cố tình tránh né bị động viên. Tôi đoán chừng Kurt là một người yêu nước hết lòng nên không muốn làm chuyện đó. Nỗi đau khổ của Kurt vì bị ruồng bỏ bởi những người Mỹ khác đã khởi lên nỗi lòng của các thành viên trong nhóm chúng tôi. Nó biểu hiện chung những gì các cựu chiến binh Việt Nam đã trải qua khi họ trở về nước.

Hầu hết những người trong nhóm mục vụ của tôi ở St. Cloud đã kể ra những câu chuyện khủng khiếp giải thích lý do tại sao họ cảm thấy trở thành xa lạ và sống cô độc như vậy. Một trong những chuyện mang nhiều tai tiếng nhất là câu chuyện của một cựu chiến binh đã hoàn thành nhiệm vụ 12 tháng tại Việt Nam. Anh trở về nhà vào tối thứ bẩy. Sáng ngày hôm sau, anh theo bố mẹ đến nhà thờ nơi mà anh đã được nhận bí tích Thêm Sức 5 năm về trước. Đứng trên bục giảng là một mục sư còn trẻ và để tóc dài theo kiểu phản chiến. Tay mục sư này nhận ra ngay người chiến binh trở về qua mái tóc cắt ngắn và bộ quân phục mới ủi. Anh mục sư lên giọng mắng người cựu chiến binh: “Đừng quay lại đây cho đến khi mái tóc anh đã dài trở lại và ăn mặc cho đúng cách hơn!” Người cựu chiến binh này không bao giờ đặt chân đến nhà thờ nữa.

Kurt không bao giờ dứt được mặc cảm tội lỗi đã bắn chết một đứa trẻ, mặc dù thằng bé đã được huấn luyện như là một bộ máy giết người bởi những kẻ thù tàn nhẫn nhất, và nhiều lúc anh đã phải chiến đấu chống lại cán binh Bắc Việt còn thua anh đôi ba tuổi. Trên thực tế, không phải chỉ có một mình anh rơi vào trường hợp này. Trong lúc huấn luyện, không ai chuẩn bị tinh thần cho những người lính Mỹ mới động viên là sẽ phải đối đầu với sự ác độc khốn nạn, điển hình của những tay độc tài toàn trị đã không chút mảy may hối hận khi hy sinh trẻ em vì những mục tiêu về ý thức hệ của họ. Bọn Đức Quốc xã đã từng ném mạng sống của những chú lính sữa vào những chỗ nguy hiểm như cho chúng điều động những khẩu đại bác phòng không. Một trong những đứa bé này tên là Joseph Ratzingen và sau này trở thành Đức Giáo Hoàng Benedict XVI. Trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông tại Trung Hoa mà tôi đã tường thuật song song với chiến tranh Việt Nam, trẻ em cũng bị đưa ra thực hiện những tội ác khủng khiếp nhất, và điều này lại xảy ra lần nữa trong thời gian tàn sát tại Cambodia.

Sự hung bạo của cộng sản khi sử dụng trẻ em trong hai cuộc chiến Đông Dương trong thế kỷ 20 là tác phẩm thô lỗ của một gã nguyên là thầy giáo: Tướng Võ Nguyên Giáp. Sau chiến thắng của Hà Nội năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam lại đặt hắn vào một vị trí để hủy diệt một lượng sinh mạng trả em lớn mà lại còn nhỏ tuổi hơn nữa: chủ tịch ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch. Nhiệm vụ của ủy ban này bao gồm chuyện lập kế hoạch và thực thi các chính sách phá thai. Đã bị loại ra ngoài vòng pháp luật tại miền Nam Việt Nam, nhưng ngay sau khi được tái thống nhất vào năm 1975, phá thai đã được hợp thức hóa toàn quốc. Dưới sự lãnh đạo của Giáp, Việt Nam đã trở thành quốc gia hạng nhất của văn hóa toàn cầu phục vụ cho thần chết: thực hiện hơn triệu rưỡi cuộc phá thai hằng năm. Theo viện Alan Guttmacher tại New York, với 83,3 vụ phá thai hằng năm cho mỗi ngàn phụ nữ, Việt Nam đã vượt xa Romania, Cuba và liên bang Nga. Tại thời điểm bài viết này, Giáp đã 101 tuổi và đang vui thú tuổi già ở Hà Nội.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (16)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (18)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

One thought on “Vinh Quang của sự Phi Lý (17)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s