Vinh Quang của sự Phi Lý (16)

Sáng hôm sau tôi tiễn những người bạn Ấn Độ, Ba Lan và Gia Nã Đại đi bộ qua chiếc cầu gỗ của Pháp sang bên Bắc Việt. Anh chàng đại úy trẻ thì đã trở về ngày hôm trước rồi thành thử chỉ có tôi và “Cặp Mắt Cú Vọ” trên chiếc xe jeep lắc lư trên “Con Đường Không Vui” về hướng nam. Những gì xảy ra tiếp theo đây nằm yên trong ký ước của tôi đã 47 năm nay và tôi chợt nhớ lại trong lúc lục lọi các hồ sơ bừa bộn nhằm thực hiện cuốn sách này. Tôi tìm thấy lại bản thảo một cuốn tiểu thuyết tôi đã viết trong một kỳ nghỉ dài hạn tại văn phòng của bố vợ tôi ở Anh Quốc nhưng thuộc về một nhà xuất bản tại Vienna. Cuốn sách này dụng ý là một câu chuyện tiểu thuyết dựa vào nhân vật những đứa trẻ chăn trâu dọc theo “Con Đường Không Vui”.

Cầu Hiền Lương
Cầu Hiền Lương1

Tôi không hoàn tất được bản thảo vì một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đã xảy ra tại Trung Đông và đạt cao điểm qua cuộc chiến sáu ngày năm 1967 mà tôi được phân công tường thuật bên phe Ả Rập; căn bản là tường thuật từ Jordan và Lebanon. Sau đó tôi trở lại vùng Viễn Đông nhưng bây giờ lại có hai chủ đề lớn hơn để tường trình: Việt Nam và Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc. Tôi không còn nhớ đến cuốn tiểu thuyết này cho đến khi phát hiện ra bản thảo đã vàng ố trong thư viện riêng của tôi ở Pháp.

Trước khi tiếp tục câu chuyện, tôi cần phải nhấn mạnh với các độc giả đây là những dữ kiện dựa trên bản thảo trong đó có những chi tiết do anh tài xế ICSC kể lại trên lộ trình từ sông Bến Hải đến Huế mà tôi đã nhớ lại với sự minh mẫn của tuổi già.

“Ông còn nhớ trên đường đi ông có nhắc đến mấy đứa trẻ này không?” “Cặp Mắt Cú Vọ” chỉ vào đám trẻ chăn trâu đang vẫy chúng tôi.

“Vâng?”

“Như tôi đã nói, tất cả bọn chúng đều là trẻ mồ côi, và chúng đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến tranh này. Chúng được tổ chức thành các băng nhóm khác nhau. Một số trung thành với Việt Cộng còn một số khác thì theo chính quyền Sài Gòn. Điều này tùy thuộc vào vùng chúng ta lái xe qua. Những đứa trẻ ở đây đang vẫy chúng ta bởi vì chúng biết rằng chiếc xe jeep này thuộc về một cơ quan trung lập. Nếu là người Mỹ hoặc xe quân sự miền Nam Việt Nam, chúng có thể giả vờ làm ngơ không ngó ngàng gì đến chúng ta.”

“Làm ơn giải thích thêm đi?”

“Nhiều đứa trong những băng nhóm này là những hệ thống cảnh báo trải dài nhiều cây số. Ngay bây giờ tôi chắc là bọn chúng đang ra hiệu cho nhau là có một chiếc xe trung lập đang chạy qua. Điều này tốt cho chúng ta thôi. Nếu gặp một nhóm giao liên Cộng sản và có đoàn xe Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đi ngang, bọn nó báo cho nhau và có thể dẫn đến ổ phục kích của Việt Cộng.”

“Tại sao có chuyện nhóm này theo Việt Cộng còn nhóm khác theo chính phủ?”

“Để tôi kể cho anh nghe một câu chuyện,” “Cặp Mắt Cú Vọ” nói. “Đây là một câu chuyện cũ về một đứa bé chăn trâu tên là Đức.”

“Vậy sao, tôi cũng có một người bạn trẻ tên là Đức,” tôi ngắt lời anh. “Nó đứng đầu một băng đảng bụi đời bán báo bên ngoài khách sạn của tôi ở Sài Gòn.”

“Đức là một cái tên rất phổ biến ở Việt Nam. Đức của tôi là Đức nông thôn đối nghịch với Đức thành thị của anh.”

Cặp Mắt Cú Vọ bắt đầu với một cuộc thảm sát tương tự như hành động tội ác tôi đã chứng kiến và mô tả trong chương Năm, chỉ khác là lần này nó xảy ra trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào khoảng thập niên 50. Trong một đêm mùa đông, Việt Minh đột nhập một làng Công giáo gần Con Đường Không Vui với ý đồ mưu sát ông lý trưởng, vợ ông ta và tám người con vì ông đã trung thành với người Pháp. Bọn chúng bắt dân làng phải chứng kiến cảnh chúng trói tay treo ông lý trưởng lên, cắt bộ phận sinh dục ông nhét vào miệng với cái lối chúng vẫn thường áp dụng đối với tù binh Pháp. Sau đó chúng trói bà vợ lại và cắt đi bộ nhũ hoa. Tiếp theo là đến lượt đám trẻ em nhưng bọn Việt Minh không thấy có một đứa – Đức – ngã xuống đất. Hai người bàng quan đã can đảm lặng lẽ đứng lên phía trước che chở không cho bọn du kích thấy. Nó rón rén bò đi và biến mất trong vùng nông thôn chung quanh. Đến khi bò được một khoảng tương đối xa khỏi ngôi làng nó vùng chạy qua những cánh ruộng bùn lầy cho đến khi kiệt sức ngã gục xuống đất. Khi tỉnh dậy, nó cảm thấy một cái gì ấm áp đè nặng lên người. Đó là một con trâu.

Theo Cặp Mắt Cú Vọ, Đức lúc đó mới tám tuổi đầu. Khi nó trườn ra khỏi bụng con trâu, một cậu bé khoảng 14 tuổi đứng trước mặt nó nói, “Mày mồ côi phải không? Tụi tao cũng vậy.” Nó chỉ tay về phía một đám trẻ đứng chung quanh. “Tụi tao bây giờ là một gia đình và mày cũng được nhập vào gia đình tụi tao.” Có cả thảy 38 đứa vừa trai vừa gái đủ mọi lứa tuổi, những đứa lớn không những chăn trâu mà còn coi những đứa nhỏ hơn. Cả bọn ngày ngày cưỡi và chăm sóc trâu cho những nông dân địa phương. Ban đêm chúng ngủ trong lòng những con trâu này. Những đứa lớn dạy những đứa nhỏ học đọc và viết. Vì không có sách và giấy bút nên chúng chép chữ lên trên biển chỉ đường và dùng ngón tay vẽ các chữ, số xuống bùn đất trong mùa mưa hay trên cát trong mùa nắng. Chúng nó chia nhau cơm, trái cây và rau cỏ mà các nông dân phát cho bọn chúng, còn cá và ngêu sò ốc hến thì bắt ở suối hay hồ ao mà ăn.

Một ngày nọ, Đức bảo những đứa lớn là, “tụi mình phải thực sự đi học mới được. Tao nhớ có ông linh mục Tây truyền đạo trọng làng. Ông ấy có một cái trường học nhỏ. Có thể ông ta sẽ nhận một nửa trong số bọn mình, và những đứa đó sẽ dạy lại cho những đứa khác vào ban đêm, rồi tụi mình sẽ lần lượt thay phiên nhau chăn trâu và đi học.” Nghe nói có lý, bọn trẻ sai Đức đi gặp ông cha, một linh mục Dòng Tên gọi là cha Alexandre. Ông cố đạo bằng lòng, nhưng không có đủ tiền để mua sách, bút giấy cho tất cả 38 đứa trẻ chăn trâu. Sau đó, ngôi trường nhỏ bé bị phá hủy trong một trận đánh và đức giám mục từ chối cấp tiền để xây lại cũng như để mua sách, bút giấy cho mấy đứa kia. Sau cùng thì chính ông linh mục Alexandre cũng bị Việt Minh sát hại và đám trẻ phải trở lại cách dạy nhau như trước là dùng ngón tay vẽ xuống bùn vậy.

Cuối cùng, vài đứa trong nhóm của Đức cũng gặp được mấy đứa mồ côi khác cũng chăn trâu ở làng kế cận nằm trong vùng kiểm soát của Việt Minh. Chúng nói là cách mạng mới xây xong một cái trường mới tinh và gọi Đức cùng bạn bè đến tham gia.

“Nói tóm lại, đó là lý do Đức và băng đảng đã gia nhập tổ chức Việt Minh.” Cặp Mắt Cú Vọ nói. “Trong trường, chúng nó được học đọc và học viết, được dạy cả về đại số, hóa học, vật lý cơ bản và địa lý nữa. Nhưng đồng thời chúng cũng bị nhồi sọ. Chúng được tuyên truyền về cộng sản và học cách ra ký hiệu với nhau, với các băng nhóm lân cận và sau cùng cho trinh sát Việt Minh mỗi khi thấy quân đội Pháp chuyển quân dọc theo Con Đường Không Vui.”

Cũng theo Cặp Mắt Cú Vọ, Đức sau này được phân công làm cán bộ cho Việt Cộng, tổ chức kế thừa của Việt Minh. Đó là thành phần chiến đấu của cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam được chính thức thành lập sáu năm sau khi có lệnh ngừng bắn của Hiệp định Geneva 1954. Giống như Việt Minh, Việt Cộng tàn sát đối thủ chính trị của họ cùng với gia đình, thực thi công thức của tướng Võ Nguyên Giáp cho cuộc “Chiến tranh Nhân dân.” Tuy nhiên, có một lần được lệnh thi hành một cuộc tàn sát tập thể Đức đã nhớ lại cảnh gia đình bị thảm sát lúc còn bé nên từ chối và đào thoát sang phía người Pháp.

Cặp Mắt Cú Vọ kể đến đoạn này của câu chuyện lúc chúng tôi nghỉ ăn trưa tại một ngôi làng giữa Quảng Trị và Huế. Anh chăm chú ngó tôi như thể muốn thăm dò cảm xúc của tôi. Lúc đó tôi rất xúc động, nghĩ lại cảnh giết người tôi đã chứng kiến vài tuần trước đó ở Nha Trang. Uống ực xong cả một chai bia 33, tôi chợt nhìn thấy một sợi dây chuyền thánh giá ẩn hiện sau ngực áo anh ta và nhớ lại rằng Đức là người có đạo.

“Đức – chính là anh rồi!” Tôi là lên bằng tiếng Pháp.

Lần đầu tiên tôi thấy Đức mỉm cười: “Không phải đâu ông ạ, nhưng tôi biết anh chàng Đức này rõ lắm,” anh ta lặng lẽ trả lời cũng bằng tiếng Pháp. Anh trấn an tôi là Đức bây giờ “an toàn” rồi. Và sau đó im lặng không nói gì nữa.

“Cho tôi hỏi thêm câu nữa,” tôi nói. “Hôm qua rõ ràng là anh biết tiếng Đức, đúng không?”

“Tôi biết vừa đủ để hiểu cái ý định điên rồ của ông Thiếu tá Ba Lan mà người Đức các ông gọi là eine Schnapsidee (một ý tưởng điên khùng vụt đến trong cơn say). Tôi mừng là anh đã đọc được ánh mắt của tôi và tôi cũng yên tâm là ông Trung tá Ấn Độ đã chận đứng được cái chuyện vô lý đó.”

“Anh học tiếng Đức ở đâu vậy?”

“Từ mấy người lính Đức trong đoàn Viễn Chinh Lê Dương. Thời Tây họ hiện diện quanh đây nhiều lắm. Họ rất tử tế với mấy đứa trẻ đám chúng tôi. Bọn tôi thích bu quanh họ, đặc biệt là trong mùa Giáng Sinh. Họ hát những bài Giáng Sinh hay lắm. Tôi vẫn còn nhớ một vài bài thánh ca như “Tochter Zion, freue dich” trong mùa Vọng, và “Stille Nacht, Heilige Nacht” vào đêm Giáng Sinh.”

“Vậy là anh từng đón Giáng Sinh với họ?”

“Vâng, nếu tình hình an ninh cho phép. Họ mời chúng tôi đến doanh trại của họ để ăn Giáng Sinh. ‘Weihnachten ohne Kinder ist kein Weihnachten’, họ nói với chúng tôi ‘Giáng Sinh không có trẻ con thì không phải là Giáng Sinh'”.

“Anh có được ăn thịt ngỗng Giáng Sinh không?”

“Có chứ, có bắp cải đỏ và bánh bao khoai tây đủ cả. Họ có một Küchenbulle (đầu bếp) tuyệt vời. Người Pháp cũng rất thích đồ ăn của ông ta. Ai cũng muốn đón Giáng Sinh với người Đức.”

“Anh có biết tại sao họ trở thành lính Lê Dương không?”

“Chúng tôi biết hầu hết trong số họ được tuyển mộ từ trong những trại tù binh Pháp sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Họ được lựa chọn giữa cái chết đói hoặc đánh liều trong một cuộc chiến khác, vì vậy họ đã chọn giải pháp thứ hai. Một số rất vornehm như người Đức các ông nói, rất lịch lãm. Chúng tôi được biết họ từng là sĩ quan quân đội Wehrmacht Đức, có cả những hạm trưởng tàu ngầm, nhưng trong đoàn Lê Dương họ chỉ là lính trơn.”

“Họ đã làm gì cho bạn?”

“Họ cố gắng bảo vệ chúng tôi bằng mọi cách. Họ cho chúng tôi đồ ăn, bánh kẹo và những món quà khác. Họ rất nhớ nhà và nói chuyện nhiều về quê hương của họ. Họ dạy chúng tôi âm nhạc.”

“Một người bạn tôi, tên Lành, cũng là người Huế. Anh ta đã học thổi kèn trombone trong một ban nhạc Lê Dương, tôi xen vào.”

“Vâng, một người lính Lê Dương đã tặng tôi cái kèn harmonika của ông ta và dạy tôi thổi. Tôi vẫn còn giữ nó ở nhà. Họ cũng dạy chúng tôi về ngôn ngữ và thơ ca Đức. Chúng tôi rất thích nghe họ nói chuyện. Tôi có nhiều kỷ niệm với những người Đức đó nhưng đa số là kỷ niệm buồn vì có quá nhiều người trong bọn họ đã bỏ mình nơi đây.”

Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình trong im lặng cho tới khi đến Huế. Khi chúng tôi đến gần thành phố, anh hỏi tôi:

“Ông muốn tôi thả ông xuống đâu?”

“Đại học xá,” tôi đáp lời, “có nghĩa là cái tòa nhà xấu xí kiểu Pháp bên cạnh con kinh Phú Cam, nơi mà các giáo sư Đức đang ở.”

“Đừng vội đi đến đó làm chi,” Cặp Mắt Cú Vọ khuyên tôi. “Ông mới nghe một câu chuyện thực sự về Việt Nam. Bây giờ hãy thưởng thức một buổi tối Việt Nam đích thực trước khi đi thăm các đồng hương Đức của ông.”

“Số phận tôi nằm trong tay anh. Anh muốn đề nghị gì đây?”

“Để tôi chỉ cho.” Chúng tôi lại đến thành nội Huế và rẽ qua mạng Tây Bắc của dòng sông Hương. Ở đó có thể trông thấy pháo đài và Hoàng Thành. Chúng tôi ngừng lại tại một bến đò dành cho khách trọ.

“Ông sẽ ngủ đêm tại đây,” Cặp Mắt Cú Vọ nói, chỉ tay về phía một cái ghe tam bản. “Ông sẽ thoải mái và an toàn ở đây. Tôi quen ông lái đò.”

Anh ta chia cho ông lái đò một ít tiền, giới thiệu với ông ta tôi là ai và chào từ biệt tôi.

“Chào tạm biệt nhé thưa ông, tối nay ông là khách của tôi. Nhớ cầu nguyện cho chúng tôi nhé.”

Sau đó, Cặp Mắt Cú Vọ phóng xe ra phi trường Phú Bài để đón một người khách khác từ Sài Gòn lên.

Ông lái đò đưa tôi vào khoang đò đơn sơ trong đó có một chiếc giường thật sạch dọn sẵn cho khách trọ. Bên cạnh là cái giỏ nhỏ trong đó có măng cụt, chuối, cam và một chai nước suối. Ông lái đò và hiệu cho tôi là chai nước dùng để uống hay đánh răng cũng đều tốt cả. Ông đốt nhang muỗi lên và dắt tôi ra ngoài chỉ cho tôi một cái xô có cột dây. Ông ra hiệu là tôi có thể dùng nó để tắm rửa khi ra giữa dòng sông.

Ngay trước khi con đò được đẩy ra khỏi bến, một cô gái khá trẻ với mái tóc dài đen nhánh bước lên ghe. Cô ta chỉ vào khoảng 16 tuổi. Tôi đoán chừng là con gái ông chủ đò. Cô mang theo một nhạc cụ hình thang với cần gỗ dài có 10 cần phím và có ba sợi dây đàn. Sau này tôi mới biết đó là một thứ nhạc cụ đặc trưng của miền Trung và miền Bắc Việt Nam gọi là đàn đáy.

Cô bé bước lên mũi thuyền khi chúng tôi ra giữa dòng sông. Cơn gió thoảng thật mát mẻ bao trùm lấy tôi và tôi nằm thoải mái trên chiếc giường nhỏ. Mặt trời lặn dần trên đỉnh núi về hướng Tây của thành phố Huế và phản chiếu xuống mặt sông Hương như một dòng nham thạch chảy xuống hai bên là biển vàng nóng chảy. Đúng lúc đó thì cô gái bắt đầu cất tiếng hát, vừa đệm theo bằng cây đàn đáy. Đối với tôi là người Đức, những bài ca của cô thật tuyệt diệu, vừa gợi cảm mà vừa quý phái không cách nào tả xiết. Về sau tôi được biết là một số những điệu hát cổ xưa này được lưu truyền từ thời triều đình An Nam.

Cô gái tiếp tục hát cho đến khi mặt trời lặn sau dãy núi và mặt sông chuyển màu từ vàng đỏ qua xanh thẫm rồi lại đổi màu bạc khi trăng lên. Dường như cô chọn những khúc hát lạ tai cho phù hợp với những sự thay đổi của cảnh sắc. Trong lúc nghe cô hát, tôi nhớ đến Cặp Mắt Cú Vọ, cái dây chuyền thánh giá ẩn hiện trên ngực áo anh và câu chuyện về Đức, nhớ đến thằng bé tinh khôn Đức ở Sài Gòn. Lại nhớ đến đại úy Ngữ và Long Khốt, nhớ cuộc thảm sát tại Nha Trang và anh chàng phụ tá Lành ở Sài Gòn. Trước khi chìm hẳn vào giấc ngủ, tôi chợt có cái viễn cảnh khủng khiếp là chiếc ghe đã biến thành một chiếc tàu đổ bộ bọc sắt chứa đầy lính tráng và tiếng nổ dòn của hàng ngàn viên đạn súng liên thanh bật vào thành sắt át dần tiếng hát của con gái ông lái đò.

Khi tỉnh giấc vào sáng sớm hôm sau, tôi thấy cô gái còn nằm ngủ cuộn tròn trong một tấm bạt và cảm thấy một nỗi mất mát sâu xa trong lúc ông chủ đò chống ghe về lại bến. Tôi không còn hứng thú đi thăm mấy ông bạn bác sĩ Đức nữa, nhưng sau này nghĩ lại, tôi mừng là tôi đã quyết định làm chuyện đó. Tôi đã ăn tối với bác sĩ Krainick và bà vợ Elisabeth của ông. Họ là hai người Kitô giáo khiêm nhường và đã từ bỏ tất cả các tiện nghi của cuộc sống giáo dục tại trường đại học Freiburg để đến dạy y khoa tại quốc gia đầy hiểm nguy này với đồng lương chỉ bằng một phần ba tiền lương của một giáo sư tại Đức. Tôi được ngồi trong phòng khách của họ để ngưỡng mộ bộ sưu tập tranh vẽ trên kính yêu quý của Krainich và được nghe những câu chuyện về các phòng khám mà ông đã xây dựng bằng tiền túi trong những ngôi làng bên ngoài Huế nằm trong những vùng còn tranh chấp. Tại đó ông đã chữa trị cho các bệnh nhân bất kể lòng trung thành của họ thuộc về phía chính quyền Sài Gòn hay Cộng sản.

Sau đó, qua một chầu rượu tối tại căn phòng của Erich Wulff sát bên, rồi tôi qua đêm tại đó, tôi lại phải kềm lòng nóng giận vì tay thiên tả này cứ lải nhải phê bình phong cách “trưởng giả” của bà vợ Elisabeth Krainick. Bà có thói quen bơi và chơi tennis trong Câu lạc bộ Thể thao Pháp cũ trên đại lộ Lê Lợi bên bờ Đông Nam của dòng sông Hương. Tôi suýt nữa đã “bóp cổ” hắn khi hắn tuyên bố là Krainick đã tỏ ra vô tình khi thỉnh thoảng nhận lời đáp những chuyến trực thăng của quân đội Mỹ để có thể bay đến các trạm y tế nông thôn một cách nhanh chóng hơn.

Đêm hôm đó, cơn ác mộng lại trở về dữ dội hơn với tôi. Tôi quyết định trở về Sài Gòn sáng hôm sau.

Trong chuyến bay Air Vietnam DC-6A tôi nhớ lại với lòng biết ơn lời khuyên của Lành: “Đã đến lúc anh phải biết Việt Nam thật sự như thế nào.”

Tôi đã thấy Việt Nam đích thực rồi, anh bạn lành ạ. Nhưng tôi cũng đã phải trải qua hai lần cơn ác mộng đáng sợ mà không ngờ ba năm sau nó lại trở thành hiện thực.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (15)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (16)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s