Vinh Quang của sự Phi Lý (15)

Chương 7

Đức chăn trâu

Một buổi sáng sớm, Lành đến phòng tôi thúc giục: “Đã đến lúc anh phải biết đất nước Việt Nam đích thực như thế nào rồi.” Đối với anh ấy, “Việt Nam đích thực” chính là cố đô Huế và là quê hương của Lành. Tôi nghĩ anh ta có lý. Tôi nghe nói là trong tất cả những thành phố lớn ở đây, chỉ còn Huế là giữ được những bản sắc Việt Nam nguyên thủy nhất. Huế vẫn chưa bị ô nhiễm bởi các khía cạnh gớm ghiếc của văn hóa Tây Phương, bởi căn bệnh và sự náo nhiệt đô thị đang từ từ làm giảm đi vẻ quyến rũ của thành phố Sài Gòn.

Huế là một thành phố thú vị nhưng sôi sục một cách ngấm ngầm. Nơi đây là cái nôi của Chủ nghĩa Quốc gia Việt Nam: trường Quốc Học, được thành lập năm 1896 bởi vua Thành Thái. Thượng thư Ngô Đình Khả, cha của cố tổng thống Ngô Đình Diệm là vị hiệu trưởng đầu tiên của ngôi trường trung học ưu tú này, nơi cung ứng một nền giáo dục Pháp và Á châu tốt nhất. Ông Diệm đã từng học ở đây, cũng như Hồ Chí Minh và thủ tướng Phạm Văn Đồng, con của một vị quan từng làm đến nhất phẩm triều đình Huế.

Hue 1967 - Hình của Jennife
Hue 1967 – Hình của Jennife

Ngoài ra còn một yếu tố thích hợp nữa cho một phóng viên người Đức đến tường thuật tại Huế. Một số giáo sư Đức vừa mới thành lập xong một trường Đại học Y khoa. Một người trong họ là bác sĩ tâm lý Erich Wulff, người có đóng một vai trò nào đó trong cuộc nổi dậy của Phật giáo năm 1963 mà đã dẫn đến sự sụp đổ của chế độ ông Diệm và cuối cùng là cái chết của ông này. Sau này mới rõ ra là Wulff là một người thân cộng thứ thiệt và đã làm nhân chứng chống Mỹ tại tòa án Bertrand Russell. Hắn nhẫn tâm làm chuyện đó mặc dù bọn cộng sản đã thảm sát ba đồng nghiệp của hắn, BS Alois Alteköster, BS Raimund Discher và BS Horst-Günther Krainick, cùng với vợ là Elisabeth trong vụ tấn công Tết Mậu Thân 1968. Nhục nhã thay, Wulff đổ hết hành động ác nhân đó cho những toán ám sát được Mỹ huấn luyện cải trang là lính Việt Cộng. Vụ này xảy ra ba năm sau chuyến đi đầu tiên của tôi đến Huế, hóa ra là một trong những chuyến hữu ích nhất trong thời gian năm năm tôi làm việc tại Việt Nam.

Lần này tôi không bay bằng máy bay quân sự C-123 nữa mà bằng một chiếc DC-6A rất thoải mái của hãng Air Vietnam với chỗ ngồi cũng như chỗ đặt chân khá rộng rãi. Hãng hàng không Air Vietnam là một trong những viên đá quý của quốc gia đang bị chiến tranh tàn phá này: một nhóm người văn minh trên trời thể hiện hoàn hảo cái phương châm là “một hãng hàng không với truyền thông quyến rũ” (The Airline with the Charming Tradition). Chiếc máy bay chúng tôi đi, với bốn động cơ cánh quạt, trông có vẻ còn mới tinh mặc dù nó đã gần 20 tuổi rồi. Những cô tiếp viên hàng không thanh lịch trong chiếc áo dài màu xanh mang đến những món ăn chơi ngon đến độ có thể làm cho các hành khách ngày nay của những chuyến bay nội địa tại Mỹ phải thèm muốn.

Nhìn qua cánh cửa kính lớn, tôi có thể thấy Việt Nam thật đáng yêu với những bãi biển cát trắng tinh, những cánh rừng xanh rì và những núi đồi thung lũng hùng vĩ. Thỉnh thoảng tôi có thể nhận ra từng đàn trực thăng quân sự bay thật xa phía dưới. Tuy nhiên quang cảnh rất thanh bình này lại khiến tôi bị thôi thúc phải đi thám hiểm bằng xe hơi hay xe lửa mới thỏa. Nhưng tất nhiên tôi biết không thể nào ngang dọc nổi trên đất nước này bằng chiếc xe Citroen Traction cũ của tôi được. Mà đường sắt thì chắc đã bị phá hủy rồi.

Ngồi bên cạnh tôi là một viên đại úy trẻ thuộc quân đội Ấn Độ trong bộ quân phục kiểu Ăng lê thẳng tắp không một chút tì vết. Anh ta tự giới thiệu là sĩ quan liên lạc của Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến tại Việt Nam ICSC (International Commission for Supervision and Control in Vietnam), một lực lượng được thành lập năm 1954 để giám sát việc thực hiện Hiệp định Geneva kết thúc cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Thường trong mỗi toán ICSC thì nước Ấn Độ không liên kết làm chủ tịch, Gia Nã Đại đại diện cho Phương Tây và Ba Lan đại diện cho khối Cộng sản.

“Tôi đang trên đường đến Gio Linh, căn cứ của ICSC trong vùng phi quân sự,” viên đại úy cho biết. “Tại sao anh không đi cùng? Là nhà báo anh có thể cảm thấy thú vị lắm đấy.”

Thật là một lời mời không thể nào từ chối được. Đối với với phóng viên chúng tôi, Ủy ban Kiểm soát là một khách hàng hết sức khó khăn, nhất là bây giờ khi Bắc Việt đã vi phạm trắng trợn hiệp định 1954 và đang chuyển hàng ngàn quân vượt qua vùng phi quân sự kéo dài 60 dặm từ Biển Đông đến dãy Trường Sơn ở phía Tây. Khi tôi nói điều này với viên đại úy, ông ta nhún vai: “Chúng tôi hoàn toàn bất lực thưa ông. Làm sao mong đợi điều gì từ một nhóm nhỏ quan sát viên không vũ trang? Chúng tôi bay tới bay lui giữa Sài Gòn và Hà Nội trên chiếc Boeing 307 cũ mèm gần ba mươi năm tuổi, chiếc máy bay duy nhất được phép đáp xuống hai thủ đô. Đó là mức độ công việc của chúng tôi: nhìn, nghe, đọc – và không làm gì cả.”

Một chiếc xe Jeep đồ cổ từ thời Thế chiến Thứ hai chờ chúng tôi phía ngoài trạm phi hành Phú Bài, phi trường của thành phố Huế. Nó được sơn màu trắng như mọi loại xe của ICSC, kể cả chiếc máy bay cổ lỗ sĩ. Sàn xe được lót bao cát nhằm bảo vệ hành khách khỏi bị miểng bom mìn trên lộ. Tài xế là một người Việt Nam dáng dẻo dai với cặp mắt soi mói và hình dạng thô kệch của một nông dân. Anh chào tôi, miệng không nở nụ cười, và làm bộ không hiểu gì khi tay Đại úy giới thiệu bằng tiếng Anh rằng tôi là một phóng viên Tây Đức.

“Tôi là một ký giả Tây Đức,” tôi nói bằng tiếng Pháp. Anh ta ngó tôi chằm chằm, có vẻ bối rối về sự hiện diện của tôi.

“Chào ông!” Anh ta trả lời khô khan bằng tiếng Pháp mà không tự giới thiệu tên mình.

Chúng tôi lái lên hướng Bắc, vượt qua dòng sông Hương của Huế. Tôi thoảng ngắm được thành phố cổ xinh đẹp này và tiếp tục chạy trên Quốc lộ 1 về hướng Quảng Trị. Người Pháp mệnh danh con đường này là “Con Đường Không Vui” bởi đã có quá nhiều binh sĩ và thường dân bỏ mạng tại đây trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. “Con Đường Không Vui” cũng là tiêu đề cho cuốn sách đầy mê hoặc của Bernard Fall.

Tôi chưa hề thấy ai lái xe như anh chàng tài xế Việt Nam này, chân đạp ga, cặp mắt soi mói dán chặt vào mặt đường, và anh ta bẻ quặc tay lái đột ngột sang bên trái, tiếp theo đó sang bên phải và lại một lần nữa qua bên trái với vẻ thất thường.

“Mìn”, anh lạnh lùng nói. “Có thể đoán ra mìn bởi màu đất trên đường khác đi. Đây không phải là chuyện của người đui chưa ông. Đây nè, có một trái nè, rồi một trái khác nữa”, vừa nói anh vừa giật tay lái qua bên phải suýt nữa phóng xe ra khỏi lề đường.

“Sao lái nhanh quá vậy?” Tôi hỏi.

“Tụi nó bắn sẻ, thưa ông. Bọn này không hề tôn trọng màu trắng trung lập của chiếc xe Jeep. Cách duy nhất để tránh bị bắn sẻ là phải đạp ga lái nhanh hết cỡ.”

Chúng tôi chắc không lấy nhanh hơn năm mươi dặm một giờ nhưng chiếc xe Jeep cũ run bần bật và lắc dữ dội như thể chúng tôi đang chạy đua vậy.

Tôi nghĩ rằng có lẽ không nên làm rộn anh ta thêm nữa, ngoại trừ một lần khi tôi thấy quang cảnh thôn dã của đám trẻ con, của những con trâu sừng cong dài trên những cánh đồng hai bên vệ đường.

“Mấy thằng chăn châu. Toàn là bọn mồ côi. Rất quan trọng trong chiến tranh du kích,” anh tài nhận xét ngắn gọn trong khi vẫn tiếp tục lái ngoằn ngoèo hướng về phía Bắc. Khối bắp thịt căng thẳng ở phía sau cổ cho tôi thấy là anh đang cố gắng tập trung để đưa chúng tôi an toàn đến trại ICSC cách cầu Hiền Lương gần một dặm về phía Nam. Cây cầu gỗ này được người Pháp xây dựng, bắc ngang sông Bến Hải và chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam.

Tôi thận trọng nhìn về phía bên trái. Mặt trời đã thấp dần trên bầu trời và sẽ sớm biến mất đằng sau những dãy núi, nơi mà tôi biết rằng các đơn vị lớn của Bắc Việt Nam đã được tập trung trong các hang động đá vôi. Bằng mọi giá chúng tôi phải đến căn cứ Gio Linh trước khi trời tối, điều mà may thay chúng tôi thực hiện được, mặc dù chút xíu nữa là trễ rồi. Tuy nhiên lính gác ngoài cổng không cho tôi vào. Anh lính nói với tôi là thẻ nhà báo Mỹ và Việt Nam của tôi không cho phép tôi được vào phần đất trung lập của Ủy ban Kiểm soát. Sau cùng anh Đại úy trẻ thuyết phục được người lính gọi điện cho vị chỉ huy căn cứ Gio Linh là một trung tá Ấn Độ.

“Ông không thể vào được thưa ông”, viên chỉ huy nói.

“Nhưng thưa Trung tá,” anh Đại úy phản đối trong một trạng thái cứng cỏi bất thường. “Thưa Trung tá, tất cả những điều này không phải lỗi của ông ta. Đây là lỗi của tôi. Đáng lẽ tôi không nên mời ông ta. Tôi không lường được những rắc rối về quốc tế. Tuy nhiên chúng ta không thể để ông lang thang xung quanh trong bóng đêm được. Đang có đánh nhau tại đây. Cho ông ta tạm trú đi, thưa Trung tá.”

Tôi rất cảm động trước tấm lòng của viên sĩ quan trẻ này, và có vẻ ông Trung tá cũng đã động lòng.

“Thôi được rồi, Đại úy. Mời ông vào vậy. Đêm nay ông là khách mời của phái đoàn Ấn Độ. Ông sẽ ngủ trong khu vực của chúng tôi và dùng cơm tối chung với chúng tôi. Tôi sẽ thông báo cho phái đoàn Gia Nã Đại biết, nhưng đừng nói với tụi Ba Lan biết ông là ai nhé – một người Tây Đức trời đất ơi! Nếu ông là Thụy Sĩ hay Hà Lan thì may ra… nhưng Đức? Họ sẽ không bao giờ chịu để yên đâu, nên biết rằng họ coi Tây Đức là kẻ thù không đội trời chung. Tốt hơn là đừng để xảy ra chuyện rắc rối quốc tế, chậc chậc?”

Cầu Hiền Lương 1961. Hình: Howard Sochurek
Cầu Hiền Lương 1961. Hình: Howard Sochurek

Và như thế tôi được phép vào khu vực trung lập. Tôi được chia cho một chiếc giường trong phòng của viên Đại úy trẻ, tắm rửa một cái và theo anh ta vào trong trang phòng ăn kỳ lạ nhất mà tôi từng gặp. Căn phòng nổi bật với ba cái bàn giống hệt nhau: một cái cho phái đoàn Ấn Độ, một cho toán Gia Nã Đại, và một cái cho nhóm Ba Lan. Ông Trung tá mời tôi ngồi bên trái của ông. Tôi quay lưng về phía nhóm Ba Lan và mặc dù tôi nhìn thấy được toán Gia Nã Đại nhưng họ có vẻ không màng đến sự hiện diện của tôi.

Cả ba nhóm cũng có sự phân biệt về ẩm thực. Bạn tôi có món càri Ấn Độ mà tôi rất thích. Tôi thấy nhóm Gia Nã Đại ăn thuần túy đồ ăn Bắc Mỹ. Đối với nhóm Ba Lan thì tôi chỉ có thể đoán được họ đang ăn thứ gì qua mùi vị. Hương thơm xúc xích và dưa cải bắp thoảng đến làm tôi thèm nhỏ dãi và nhớ lại tài nấu nướng của bà ngoại tôi lúc còn ở nhà.

Trong khi phe Ấn Độ và Gia Nã Đại kín đáo trao đổi với nhau thì nhóm Ba Lan dần dần náo nhiệt hẳn lên. Vừa lúc uống xong tách trà, ông Trung tá tỏ ra không hài lòng khi nhận thấy những anh hàng xóm của mình đang chuyền tay nhau một chai vốt-ka. Đột nhiên, ông ta nhìn tôi một cách báo động. Các sĩ quan Ấn Độ khác cũng vậy. Ngay lúc đó tôi cảm thấy một bàn tay đè nặng lên vai trái tôi. Tôi ngước nhìn lên thì thấy khuôn mặt băng bó của một tay thiếu tá Ba Lan.

“Sprechen Sie Deutsch” anh hỏi tôi – Anh có biết tiếng Đức không?

“Ja”, tôi đáp.

“… und Französisch?”, và tiếng Pháp nữa? Hắn tiếp tục hỏi.

“Auch Französisch,” tôi trả lời – cả tiếng Pháp nữa.

Tay Thiếu tá Ba Lan toét miệng cười và hỏi tôi bằng tiếng Đức rằng có thể nào giúp một chuyện được không? Đầu anh bị thương khá nặng, nhưng không phải vì chiến tranh mà chỉ vì chơi bóng chuyền.

“Ngày mai tôi xuống bệnh viện Việt Nam tại Quảng Trị để cắt chỉ khâu. Tôi cần thảo luận với bác sĩ một số vấn đề khác liên quan đến sức khỏe nhưng ông bác sĩ chỉ nói được tiếng Pháp thôi. Anh có thể làm thông dịch viên cho tôi được không?”

“Dĩ nhiên là được rồi,” tôi trả lời, “nhưng tôi cần phải xin phép ông Trung tá đã. Nói cho cùng tôi là khách của ông ta mà.”

Tôi dịch cuộc trò chuyện qua tiếng Anh. Ông Trung tá thận trọng gật đầu.

“Xong rồi,” tôi báo cho tay Ba Lan biết, và nói thêm một cách tinh quái, “tuy nhiên anh phải trả cho tôi một thứ gì đó. Giá là một cái xúc xích và một chút cải dưa bắp kia kìa, nghe thơm quá chừng.”

“Mời anh qua bàn chúng tôi.”

Tôi bèn xin phép rời bàn ông Trung tá, ông này có vẻ miễn cưỡng lắm. Nhóm Ba Lan chuyền cho tôi một khẩu phần xúc xích khổng lồ và một ly rượu vốt ka Zubrówka đầy tràn. Cả đám nói được ít nhất vài tiếng Đức. Sau một lúc thì chúng tôi say bí tỉ.

Một người dân sự cở tuổi trung niên tự giới thiệu với tôi là cố vấn trưởng thuộc đại sứ quán Ba Lan tại Hà Nội và chỉ huy phó đoàn ICSC tại đây. Ông ta hỏi tôi:

“Cớ sao một người Anh Quốc như bạn lại nói tiếng Đức giỏi vậy?”

“Tôi không phải là người Anh, tôi là người Đức.”

Nhóm Ba Lan đang ngà ngà say phá lên cười ầm ĩ, kể cả tay cố vấn trưởng mà sau này sẽ trở thành một nguồn thông tin khá hấp dẫn đối với tôi. Thì ra ông ta cũng duy trì một căn phòng thường trực tại khách sạn Continental ở Sài Gòn. Chúng tôi sau đó thỉnh thoảng gặp nhau để ăn một bữa xúc xích và dưa cải bắp theo lối Alsace tại quán Guillaume Tell, hoặc uống vốt ka Ba Lan hay bia Löwenbräu của Đức tôi mua được trong PX. Chúng tôi cẩn thận tránh nói về chính trị hay chiến tranh nhưng chúng tôi rất thích kết thân với nhau như hai người Âu châu theo lối xưa tại một nơi kỳ lạ này của thế giới. Hơn nữa, nhờ thường xuyên bay trên chiếc máy bay Boeing 707 cổ lỗ sĩ của Ủy ban Đình chiến giữa Sài Gòn và Hà Nội nên ông ta tỏ ra là một nguồn cung cấp tin đáng tin cậy về cuộc sống hằng ngày ở miền Bắc Việt Nam, quốc gia không bao giờ chịu cấp chiếu khán cho tôi vào.

Ông Trung tá Ấn Độ gõ cái muỗng lên tách trà tuyên bố: “Thưa quý vị! Đã đến giờ chiếu phim rồi!”

Chúng tôi đi qua một cái phòng tạm bợ dùng làm phòng giải trí bên cạnh để xem một cuốn phim Mỹ trắng đen chiếu trên một tấm màn thô sơ. Tôi ngồi bên cạnh ông Trung tá, bây giờ đã tỏ ra dễ chịu trở lại. Ông vỗ vào đùi tôi nói: “Anh là một người Đức vui tính nhỉ, rất, rất là tức cười, chậc chậc!”

Một vài đứa trẻ Việt Nam ngồi tản mác trên đất dọc theo những bức tường tre của phòng giải trí.

“Bọn nó là ai vậy?” Tôi hỏi ông Trung tá.

“Con nít bên làng Vĩnh Thanh qua đó.”

“Tại sao có vài đứa tóc vàng mắt xanh vậy?”

“Ê, đừng dòm tôi chứ, thưa ông,” viên Trung tá nói, “Ấn Độ không có tóc vàng mắt xanh à nha, chậc, chậc!”

Tôi nhìn qua những người Gia Nã Đại. Họ lắc đầu với vẻ bị xúc phạm. Tôi lại nhìn qua nhóm bạn Ba Lan của tôi còn đang say khướt vốt ka. “Không phải tụi tôi à nha,” viên Thiếu tá với cái đầu băng bó tuyên bố. Sau này tôi mới biết chúng là con rơi của các cựu chiến binh người Đức trong đoàn quân viễn chinh lê dương Pháp.

Sáng sớm hôm sau, tay thiếu tá Ba Lan, anh tài xế với cặp mắt soi mói và tôi lên đường tới cái bệnh viện cũ của người Pháp tại Quảng Trị. Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất, hàng trăm thương bệnh binh đã mất mạng tại đó, kể cả một số lính lê dương gốc Đức. Tôi hoàn thành trách nhiệm thông dịch viên. Trên đường về, tay Thiếu tá nảy ra ý kiến khá hấp dẫn:

“Anh biết công việc chúng tôi làm chứ?” anh ta hỏi.

“Không rõ lắm.”

“Thế này. Mặc dù nhóm chúng tôi đóng trụ sở tại miền Nam Việt Nam nhưng chúng tôi đi tuần tra ở phía Bắc vùng phi quân sự. Tại sao anh không tháp tùng chúng tôi một chuyến? Vui lắm đấy. Chúng ta sẽ vượt sông Bến Hải sáng sớm mai. Bên kia có sẵn xe đạp cho chúng ta để đạp ra bờ biển. Không có Việt Cộng bắn tỉa đâu. Chúng ta sẽ tắm biển một chập rồi ra về. Coi như một buổi tập thể dục vui vẻ. Chúng ta sẽ trở về trại vào chiều tối.”

“Bạn nghĩ là tụi Bắc Việt sẽ để cho một người Tây Đức qua hả?” Tôi hỏi lại.

“Họ sẽ không biết đâu nếu anh mặc quân phục sĩ quan Ba Lan và không trình hộ chiếu Đức. Chúng ta trạc cỡ nhau, tôi sẽ cho anh mượn bộ quân phục của tôi. Nhớ là nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Đức nhé. Phía Bắc Việt sẽ không nhận ra sự khác biệt đâu.”

Anh tài xế với cặp mắt soi mói quay lại và trong một tích tắc phóng cho tôi một cái nhìn cảnh cáo. Thật là một con người bí ẩn, anh chàng với cặp mắt cú vọ này. Có lẽ anh nghe được cuộc trao đổi bằng tiếng Đức của chúng tôi!

Tại Gio Linh, chúng tôi trao đổi với ông Trung tá Ấn Độ về ý kiến của tay Thiếu tá Ba Lan, nhưng ông Ấn Độ không nồng nàn lắm:

“Quý vị tỉnh táo lại đi nào! Tôi không thể đẻ xảy ra nguy cơ rắc rối quốc tế vì cái chuyện vô nghĩa này được, chậc, chậc!” Chỉ ngón trỏ về phía tôi, ông ta nói tiếp: “Này, anh có thể theo chúng tôi đến tận cầu Hiền Lương và chào tạm biệt chúng tôi tại đó. Sau đó, anh tài xế này sẽ đưa bạn trở về Huế, rõ chưa nào?”

Đến đây chấm dứt một trong những chuyện điên rồ nhất của tôi tại Việt Nam, hoặc là tôi tưởng như vậy.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (14)

Đọc bài kế tiếp: Vinh Quang của sự Phi Lý (16)

Đọc toàn bộ những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (15)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s