Vinh Quang của sự Phi Lý (14)

Bây giờ, tôi xin tiếp tục cuộc hành trình đầy cảm xúc, trở về lại những chuỗi ngày của một phóng viên trẻ tại những gì còn lại của Sài Gòn như một Paris của Phương Đông; cuộc hành trình trở về những ngày mà đường Tự Do vẫn còn giống con đường Catinat cũ đầy sức quyến rũ và trước khi thành phố đó biến thành một khu đèn đỏ khổng lồ. Trở về lại thời đại mà tiếng Pháp vẫn còn được dùng xen kẽ trong từng lớp có học thức, và có thể tiếp xúc được với các tướng lãnh quyền hành nhất bằng cách lắng nghe lời gợi ý kín đáo của viên tùy phái thì thầm trong tai bằng tiếng Pháp: “Ông có thích rượu sâm banh không? Ố, tôi cũng vậy, tôi mê Dom Pérignon lắm!” Tôi tìm được ba chai trong PX, và được ông tướng tiếp ngay, người mà sau này trở thành bạn thân của tôi cho đến khi tôi rời hẳn Sài Gòn. Người uống sâm banh không phải ông tướng, mà là viên tuỳ phái với đồng lương nghèo đói. Cạn ly nhé, ông quan ba của tôi ơi, cái gu của ông thật là quý phái.

Sài Gòn 1965 nhìn từ khách sạn Rex
Sài Gòn 1965 nhìn từ khách sạn Rex

Vấn đề tạm xong, bây giờ tôi phải giải quyết một chuyện sinh tử: làm thế nào để đưa được những câu chuyện của tôi ra ngoài? Thời đó chưa có Internet, cũng chẳng có email hay máy fax. Dịch vụ điện tín có hệ thống telex riêng của họ, chẳng hạn như dịch vụ tin tức của các tờ báo New York Times, Washington Post, Los Angeles Times mà một số phóng viên Mỹ cũng có thể sử dụng ké được. Nhưng rồi những người còn lại thì sao? Thư máy bay thì chậm và không tin tưởng được. Tôi có quyền sử dụng hệ thống bưu chính APO rất đáng tin cậy của quân đội Hoa Kỳ nhưng nó chỉ có thể cung cấp thư từ cho nội bộ nước Mỹ mà thôi. Đôi khi tôi dùng đường vận chuyển hàng không nhưng nó quá cồng kềnh và đắt tiền để đưa những bản sao của tôi ra ngoài. Tuy nhiên có một cơ sở tiền chiến, trong trường hợp này có nghĩa là trước Thế Chiến Thứ Hai: hệ thống Bưu chính, Điện thoại và Điện tín (P.T.T.) một tổng công ty cổ phần vẫn còn thuộc quyền sở hữu và được điều hành bởi công ty mẹ bên Pháp. Theo những gì tôi biết, nó chỉ có một đường dây điện thoại qua Paris, có thể là hai, nhưng rất hay bị hư. Phải mất hàng giờ để bắt được Hamburg. Nhưng với chất lượng quá kém thì giá cả như vậy là quá đáng. Điện tín rẻ hơn nhưng chỉ có thể gửi đến văn phòng báo chí tại Paris, và những bản viết của tôi khi tới nơi thường trở thành một mớ hỗn độn một cách tuyệt vọng.

“Tôi phải làm sao bây giờ?” Tôi hỏi Lành, nhân vật nguyên là nhạc công trombone của đoàn Lê Dương Hải Ngoại thỉnh thoảng vẫn làm phụ tá cho tôi.

“Vấn đề là phải làm sao né được kiểm duyệt,” anh ta đề nghị.

“Tôi tưởng là không có cái vụ kiểm duyệt ở đây?” Tôi phản đối.

“Bề ngoài thì không có kiểm duyệt, nhưng thực tế thì có, nhưng những người phụ trách kiểm duyệt thường chỉ biết tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Khi anh gửi một điện tín, tôi đoán là họ phải tìm một tay lính Lê Dương cũ biết tiếng Đức. Điều này sẽ làm chậm trễ mọi thứ và tôi e rằng một số điện tín của anh sẽ không bao giờ tới nơi được. Để tôi xem có thể làm được gì không?”

Vài ngày sau đó Lành đến khách sạn Continental với một ông già trong bề ngoài hốc hác và giới thiệu là phó giám đốc, hay là phó quản lý của Bưu điện Trung ương Sài Gòn, một cơ sở nguy nga được trang trí lộng lẫy và xây dựng vào năm 1891 bởi Alfred Foulhoux và Henri Vildieu, hai kiến trúc sư vĩ đại của “Thời kỳ Tươi đẹp” Pháp quốc.

Ông ta tự giới thiệu là Nguyễn, một cái tên phổ biến ở Việt Nam như Smith trong tiếng Anh, Du Pont tiếng Pháp hoặc Müller trong tiếng Đức. Ông Nguyễn háo hức nhận điếu thuốc lá Gitanes Pháp loại nặng của tôi, cho rằng ngon hơn hẳn so với loại Bastos sản xuất trong nước mà ông hút liên tục.

“Thưa ông, tôi đến gặp ông với một yêu cầu khá bất thường,” ông nói. “Ông thấy đó, thằng cháu của tôi có thể sẽ chết vì lao phổi nếu không có những cách điều trị quyết liệt. Các loại thuốc lao hiện có ở Việt Nam đều không còn hiệu nghiệm nữa. Tôi nghe nói Tây Đức đã sản xuất ra một loại thuốc mới chưa có trên thị trường vì còn đang trong giai đoạn thử nghiệm.” Ông Nguyễn đưa cho tôi một mảnh giấy có ghi một tên La tinh nào đó. “Ông có thể nào tìm cho tôi được không? Tôi nghĩ chúng tôi không còn nhiều thời gian nữa. Tôi rất mừng nếu được phép trả một giá phải chăng.”

Nhìn ông Nguyễn tôi nghĩ là ông nói về chính ông ta chứ chẳng phải người bà con nào hết.

“Để xem chúng ta có thể làm được gì nào,” tôi trả lời, đi đến bàn làm việc và gõ ngay một bức điện tín cho ông sếp Julius Hollos tại Hamburg. Đó là một lời yêu cầu khẩn cấp chuyển cho BS Langsch y sĩ trưởng của tổng công ty Axel Springer tại Hamburg để lùng cái sản phẩm đó ngay từ hãng sản xuất và gởi về Sài Gòn trong chuyến bay Air France sớm nhất.

“Xin ông vui lòng gửi cái này đi Hamburg nội trong ngày hôm nay nhé.” Tôi nói với ông Nguyễn. “Ông cố làm sao để nó đến được trước cuối tuần thì bác sĩ công ty chúng tôi có thể ra tay kịp thời.”

Nhờ tính hiệu quả đáng ngạc nhiên của người Đức kết hợp với sự linh động của một đế quốc xuất bản đang phát triển mạnh mẽ thời hậu chiến, BS Langsch đã xoay sở gửi đến cho tôi cái sản phẩm đó chỉ trong vòng ba ngày sau. Một mảnh giấy lịch sự kèm theo trong gói bưu phẩm với thông báo bằng tiếng Pháp cho ông Nguyễn biết món dược phẩm là quà tặng của nhà xuất bản Axel-Springer-Verlag và xin ông đừng ngần ngại liên lạc lại với tôi nếu có bất kỳ nhu cầu nào khác về sức khỏe.

Điều này đã giải quyết xong vấn đề thông tin liên lạc của tôi. Từ đó trở đi những bức điện tín của tôi đến văn phòng Paris nhanh cấp kỳ và không còn bị lộn xộn nữa. Khi tôi gặp lại ông Nguyễn vài tháng sau, tôi hầu như không thể nhận ra ông nữa. Ông trông trẻ hẳn ra, tràn đầy sức khỏe và béo tốt, bỏ không hút thuốc nữa và khuyên tôi nên làm như vậy. Tôi nghe lời ông 10 năm sau tại Paris trong tháng Sài Gòn bị thất thủ. Ông cũng nói là “cháu trai” của ông giờ đã khỏi bệnh và xin tôi chuyển lời cảm ơn chân thành nhất đến Hamburg.

Bất cứ khi nào tôi nghĩ về câu chuyện gặp viên tùy phái thích sâm banh của ông tướng, ông phó giám đốc sở bưu điện P.T.T. và câu chuyện về “đứa cháu trai” bị lao thì lòng tôi lại quặn thắt nhớ đến Sài Gòn và những ngày đầu tiên của tôi tại Việt Nam. Cũng là một điều lý thú là tôi nhận thấy các đồng nghiệp người Mỹ và Âu châu đã phản ứng khác nhau với các giai thoại kể trên. Người Mỹ, nhất là đám trẻ nghiêm trang, cho rằng đó là những bằng chứng rõ thêm là chế độ miền Nam Việt Nam đã tham nhũng như thế nào. Người Âu châu, đặc biệt các phóng viên đài truyền hình Đức thỉnh thoảng ghé qua Việt Nam và anh bạn Nam Phi Donald Wise, hầu hết đã từng là sĩ quan tiền tuyến trong Thế Chiến Thứ Hai thì lắng nghe các câu chuyện của tôi với nụ cười thông cảm. Họ cảm thấy những mẫu chuyện rất thú vị vì đã bộc lộ toàn bộ bản sắc văn minh của quốc gia chủ nhà đã biết sử dụng một cách khéo léo những khuyết điểm của con người và các nhược điểm vô hại để làm tròn công việc.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (13)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (15)

Đọc những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (14)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s