Vinh Quang của sự Phi Lý (13)

Chương 6

Kịch trường truyền thông của sự phi lý

Một sự bất ngờ khó chịu đón chờ đón tôi lúc trở về khách sạn Continental sau lần đi chứng kiến một tính chất không được đánh bóng của cuộc chiến Việt Nam tại Cao nguyên Trung phần. Đó là một bức điện tín từ Julius Hollos, chủ bút ở Hamburg với nội dung mà thuật ngữ trong dịch vụ truyền tin Mỹ gọi là “rocket” (hỏa tiễn), có nghĩa là một lời khiển trách. Bức điện tín được đọc như sau:

Chúng tôi nghe bạn say sưa trong mọi cuộc họp báo. Chấm. Yêu cầu giải thích. Chấm than. Hollos

Những chuyện điên rồ lúc 5 giờ chiều
Những chuyện điên rồ lúc 5 giờ chiều

Tôi đớ cả người. Lời tố cáo hoàn toàn bố láo này có thể kết thúc sự nghiệp phóng viên quốc tế của tôi như chơi. Cho dù tôi thích thưởng thức một ly Scotch hay Martini và bao giờ cũng uống rượu vang khi ăn tối nhưng tôi không hề đụng vào rượu mạnh trước khi trời tối, và với một lý do rất chính đáng: bằng chứng sự tác hại của rượu và ma túy trong một vùng chiến tranh nhiệt đới như Sài Gòn đầy rẫy cả ra. Tuy tôi không phải là một con người chín chắn lắm nhưng tôi không bao giờ có ý định tự sát cả. Hơn nữa, tôi ít khi tham dự “những chuyện điên rồ lúc 5 giờ chiều” (The Five O’clock Follies), tên mà chúng tôi đặt cho những buổi họp báo hằng ngày được tổ chức bởi chính quyền Nam Việt, tòa đại sứ Hoa Kỳ và quân đội Mỹ. Thế là tôi tức giận bắn lại:

Cho biết nguồn. Bảo thằng chó mạ lị nó sắp chết tiệt rồi. Chấm. Uwe

Julius quả là một tay chuyên nghiệp tột bực. Anh ta biết cách đối phó với cơn nóng giận của tôi và vài tuần sau đó gửi cho tôi một lá thư hòa giải kể rằng tại Luân Đôn anh đã đi xem đoạn diễn thử một vở kịch về Chiến tranh Việt Nam với tựa đề “US”. Vở kịch có chêm vào những màn hài hước về những buổi họp báo chính thức mà trong đó có một tay phóng viên người Đức luôn luôn say khướt và đặt ra những câu hỏi kỳ khôi lúc nào cũng bắt đầu bằng một giọng khàn khàn vịt đực “Ờ… Ờ… Ờ… Ừ… Ừ… Ừ”

“Khán giả được báo trước là những màn kịch này được dựa trên sự thật,” Julius viết. “Tôi không biết bất kỳ phóng viên chính thức người Đức nào khác nữa ở Sài Gòn, do đó tôi đoán chừng tên say rượu đó là anh. Nếu có nhầm lẫn, cho tôi xin lỗi nhé.”

Tất nhiên có nhiều phóng viên người Đức đã đến Sài Gòn với những nhiệm vụ ngắn hạng, trong đó có nhiều tay ký giả thuộc loại giỏi nhất trong ngành mà chúng tôi sẽ nhắc đến vài người trong đoạn sau. Nhưng cho tới khi cái vụ đó xảy ra tôi vẫn tưởng tôi là phóng viên bán thường trực người Đức duy nhất trong thành phố Sài Gòn. Ngẫu nhiên, anh bạn trẻ bụi đời tinh ranh tên Đức báo cho tôi biết là đã lầm to.

“Ê, ông Đức,” thằng quỷ con nói, vừa dùng tiếng Việt cho chữ German, và cũng là tên của nó. “Ông không phải là người Đức duy nhất ở đây. Ông kia cũng là người Đức đó, và cũng là ký giả giống ông nữa.”

Thằng bé chỉ tay vào một người đàn ông mặt đỏ gay đang ngồi đồng bên cạnh một ly nước cam ở ngoài sân có mái che của khách sạn Continental. Tôi đã để ý đến anh ta trước đó rồi. Nhân vật này lúc nào cũng ngồi riêng một mình một bàn từ sáng cho đến chiều tối.

“Đức, tay này không phải là người Đức được. Người Đức không bao giờ uống nước trái cây cả ngày như vậy cả,” tôi phản đối.

“Hi hi, cái ông này không uống nước sinh tố. Ông uống ‘tuốc-nơ-vít’ (screwdriver). Rất nhiều tuốc-nơ-vít. Say tối ngày. Hi hi hi.”

Screwdriver là những “ngụm” (shot) vốt-ka được ngụy trang bằng nước cam vắt.

Anh bạn Ronald Ross của tôi, một thông tín viên sinh ra tại Anh Quốc nhưng làm việc cho tờ Minneapolis Tribune đã nghe lóm được mẫu đối thoại này và bật cười. Công việc của Ronald tại Việt Nam là hằng ngày thực hiện những bản báo cáo, cho nên anh bắt buộc phải đi dự những buổi họp báo mỗi ngày. Tôi tránh được số phận nghiệt ngã này bởi công việc của tôi là viết phóng sự, những chuyện đàng sau sân khấu, thực hiện những bản phân tích tin tức, và nhường lại tin tức sốt dẻo cho nhóm dịch vụ đường điện tín.

“Anh chưa biết anh ta à? Gã này thật là tếu,” Roland nói. “Tiếng ậm ừ của hắn là những điểm nổi bật nhất của Follies.”

Tôi sẽ không đề cập đến tên thật của đồng nghiệp này, một người lập dị dễ mến mà sau này đã qua đời vì bệnh nghiện rượu. Cứ gọi anh ta là Eberhard Budelwitz. Anh ta là một phóng viên, nhân viên của một cơ sở dịch vụ điện tín của Đức truyền tải về những tin tức cập nhật mà không bình luận. Chính vì vậy mà ông sếp của tôi không hề biết đến anh ta. Mãi sau này tôi mới được xem qua một số bài tường thuật hết sức uyên bác về Việt Nam mà Budelwitz đã viết ra trong những khoảnh khắc tỉnh táo của anh, sau những lần liên tục đi cai rượu trong các phòng khám tại Đức. Nhưng thật đáng buồn là nó không kéo dài được bao nhiêu.

Một ngày nọ tôi đi theo Roland đến Follies với mục đích duy nhất để nghe Eberhard nói. Anh ta lảo đảo bước vào phòng họp báo cạch “Bức tượng thô tục” trên đại lộ Lê Lợi. Anh nhặt các tờ báo hàng ngày do chính phủ Sài Gòn, Tòa đại sứ và quân đội Hoa Kỳ phát ra. Như thường lệ chúng tôi phát buồn ngủ ngay bởi những con số thống kê khô khan và các bài tường thuật tẻ nhạt được đọc với một giọng nói đơn điệu dường như là dấu ấn của các phát ngôn viên chính thức. Họ không tiết lộ được điều gì đáng ghi nhận, chẳng hạn như hành động tàn ác mà tôi đã chứng kiến tại Tây Nguyên.

Không khí trong phòng trung tâm báo chí nóng nhớp nháp. Nhiều ký giả bồn chồn ngó đồng hồ chằm chằm, đặc biệt là các phóng viên báo chí của Sài Gòn đầy sức sống, phóng viên Nhật Bản và Đại Hàn mà thời hạn nộp bài đã gần kề. Sau đó, ngay lúc chúng tôi sửa soạn chạy vội về các máy đánh chữ, show diễn “Kịch trường của sự phi lý” thường ngày khai mạc! Thuyết trình viên đề cập đến một biến cố kỳ lạ không có chút giá trị tin tức nào nhưng lại tạo cho những tay ưa nổ và xu nịnh như Joe, ký giả mắc bệnh thần kinh của một tờ báo lá cải lớn, cái mười lăm phút vinh quang của họ. Tôi đã nói mười lăm phút? Không, đó là lời của Andy Warhol. Thực tế là 30,60 hay 90 phút khùng điên.

Đặc biệt ngày hôm đó, cơn điên loạn đã được kích động như sau: một phát ngôn viên cất, giọng lạnh lùng thông báo là các sư Phật giáo ở miền Trung Việt Nam đã than phiền một số binh lính Hoa Kỳ đã tiểu tiện vào chùa của họ ở nông thôn. Sự kiện này làm dấy lên một loạt những câu hỏi đại loại có nội dung như sau:

“Họ đi tiểu bên trong hay bên ngoài chùa?”

“Không phải là binh lính chúng ta đã được hướng dẫn không bao giờ được giơ “chim” ra ngoài công cộng, nhất là gần những nơi thờ phượng hay sao?”

“Có phải họ đã đi tiểu khi say? Nếu vậy tình hình có trở thành nghiêm trọng hơn không, vì các nhà sư Phật giáo cấm rượu? Nếu chỉ có một lon Coca trong người thì liệu họ làm chuyện bậy vào chùa hay không?”

“Những hậu quả của hành động xúc phạm này đối với giáo lý Phật giáo sẽ như thế nào?”

“Nếu cho là các Phật tử tin rằng mọi chúng sinh đều có thể là hóa thân của con người, như vậy có phải tiểu tiện lên côn trùng tương tự như đái vào con người?”

“MAC-V (Bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam) đã có những biện pháp gì để dọn dẹp cái vụ dơ dái này? Hay là các ông sư phải tự làm lấy?”

“Liệu bộ chỉ huy Hoa Kỳ đã nghĩ tới chuyện xây dựng nhà vệ sinh cho lính Mỹ gần các chùa chiền chưa?”

“Có thể nào những người vi phạm sẽ bị đưa ra tòa án quân sự mặt trận vì tội đái vào chùa hay không, và hình phạt sẽ ra sao?”

Những tay thư ký của “Kịch trường của sự Phi lý” như Eugène Ionesco, Samuel Beckett, Jean Genet, Harold Pinter, Edward Albi hay Friedrich Dürrenmatt vào lúc này có thể khoái chí lắm, nhưng dù óc tưởng tượng của họ có phong phú đến đâu cũng không thể lường trước được chuyện gì xảy ra sau đó. Sau một tiếng đồng hồ bàn cãi về nước tiểu, những tay xu nịnh đã mất hứng và bắt đầu im lặng. Thật là một giây phút yên tĩnh đầy hạnh phúc. Chúng tôi đã kiệt sức, sẵn sàng về nhà hoặc nếu thuộc vào một nhóm chọn lọc khoảng 20 phóng viên đáng tin cậy thì sẽ được mời tham dự buổi thuyết trình có giá trị hơn, có chiều sâu và không có giới hạn về nội dung gọi là sau cơn điên (After-Follies) tại văn phòng của Barry Zorthian, giám đốc báo chí của chính phủ Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

Nhưng ngay lúc chúng tôi sửa soạn ra về thì hoạt cảnh Eberhard bắt đầu:

“Ờ… Ờ… Ờ… Ừ… Ừ… Ừ…”

“Vâng, ông Budelwitz”, trưởng phát ngôn của tòa đại sứ Hoa Kỳ nói bằng tiếng Đức khá giỏi. “Ông còn có câu hỏi nào khác nữa không?”

“Tại sao người Mỹ các ông không bảo mấy ông sư tự sắm lấy một chiếc tàu ngầm?”

Mọi người đều choáng váng nhìn chằm chằm vào Eberhard. Ronald Ross và tôi đều đồng ý rằng chúng tôi thực sự cần phải vỗ tay tán thưởng anh ta, bởi vì trong tâm trí say sưa của mình, qua cách liên kết tính chất “ướt át” của biến cố này với một chiếc tàu ngầm hải quân cùng với một nơi thánh địa thì quả thật anh đã đẩy kịch trường của sự phi lý lên đến một cực điểm điên cuồng không bao giờ có thể quên được.

Kịch trường của sự Phi lý giống như chủ nghĩa Siêu Thực, là phong chào nghệ thuật tuyên dương cho “sự sáp vào nhau của hai thực tại ít hay nhiều xa vời với nhau”, theo như Pierre Reverdy. Nhà thơ vĩ đại người Pháp này đã viết trong Thế Chiến Thứ Nhất rằng, “quan hệ giữa hai thực tại được đặt cạnh nhau mà càng xa nhau và càng thích đáng chừng nào thì hình ảnh tạo ra càng mạnh mẽ chừng đó – nó sẽ càng có sức mạnh xúc cảm và càng có thêm tính thơ hơn.” Một trong những lý do tại sao tôi nhớ đến Eberhard một cách trìu mến là vì những câu hỏi quái đản của anh đã bộc lộ ra tính siêu thực ngày càng nhiều của Chiến tranh Việt Nam: các thực tại xa rời được mang đặt cạnh nhau đã tạo nên những hình ảnh cực mạnh với những cảm xúc mãnh liệt bất kể cái bề ngoài phi lý.

Có lần tôi chụp lấy Eberhard trước khi anh ta uống xong ly “tuốc nơ vít” thứ nhất và hỏi anh phải chăng những câu hỏi siêu thực đó chỉ đơn giản là “rượu nói” hay đã được suy tư chân thật bằng một cách lập dị nào đó? Thời điểm đó có lẽ vào khoảng ngay sau vụ sinh viên Pháp nổi loạn năm 1968, bởi vì câu trả lời của Eberhard làm tôi nhớ lại khẩu hiệu tân siêu thực của đám tân tả phái quốc tế: “Dồn mọi sức mạnh cho óc tưởng tượng.” Không phải là Eberhard đã chấp nhận cái khái niệm xem ra vô lý một cách nguy hiểm đó, đặc biệt là khi nó cố gắng chà đạp lên những thực trạng đẫm máu của cuộc Chiến Tranh Lạnh đang chuyển thành nóng tại Đông Dương. Không, Eberhard bảo tôi là những câu nói của anh không phải là những đốm lấp lánh ngẫu nhiên. Chúng diễn tả phản ứng của anh đối với sự phi lý của những gì mà chúng tôi đang trải nghiệm mỗi ngày.

Thế nên, sự phi lý của tấn thảm kịch mà đã khiến cho chúng tôi phải từ những góc xa xôi nhất của địa cầu bay tới để viết bài tường thuật là cái gì? Đó là trong buổi chiều hôm đó tại phòng họp báo, sự vô lý và lãng phí về một vấn đề nhỏ nhặt như là chuyện vi phạm vặt do đái bậy, trong khi đêm này qua đêm nọ đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã bị tra tấn đến chết trong những ngôi làng không phòng vệ bởi mệnh lệnh của con quỷ độc tài toàn trị mà tên tuổi được giới sinh viên biểu tình khắp nơi trên thế giới Tây Phương ca vang: “Hồ-Hồ-Hồ-Chí-Minh”. Quả là một điều siêu thực một cách quái gở khi đo lường sự tiến triển của cuộc chiến bằng số lượng xác chết đếm được hằng ngày qua những con số thống kê với ba chữ tắt – KIA, WIA và MIA (tử trận, bị thương và mất tích trong công tác) – làm như cuộc xung đột này chỉ là một sự kiện thể thao trong đó phe thắng giữ những thành tích rùng rợn nhất.

Nó còn siêu thực một cách bệnh hoạn hơn nữa – ở đây tôi đang vượt qua trước câu chuyện của tôi – là trong khi những người lính Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan và Đại Hàn đang ngã xuống ngoài chiến trận và trong các cuộc tấn công khủng bố, thì một ngôi sao điện ảnh Hollywood, Jane Fonda, đã cho người ta chụp ảnh cô đang cưỡi một khẩu đại bác phòng không cộng sản với nụ cười toe toét trên môi, rõ ràng là nhắm bắn vào phi công của đất nước cô.

Đồng thời, nó còn vô lý một cách ghê tởm hơn nữa khi nghe những ngôi sao truyền thông thỉnh thoảng ghé thăm để tường trình về những nỗ lực của Việt Nam Cộng Hòa và mô tả dân tộc mang nhiều đau thương này là những kẻ hèn nhát bất tài lương lẹo… mà không đếm xỉa đến sự hi sinh hằng ngày của họ và làm ngơ trước một dữ kiện không thể chối cãi được là: trong số hàng triệu nạn nhân chiến cuộc bởi cuộc chiến này và trong cuộc chiến do người Pháp tiền nhiệm đã dựng lên, một số rất ít chịu an cư tại miền Bắc Cộng sản hay trong những nơi gọi là “vùng giải phóng” được thành lập bởi Việt Cộng trong miền Nam. Cho đến lúc tàn cuộc, hầu hết đã bỏ chạy vào những khu vực vực thu hẹp dần còn được kiểm soát bởi chính phủ Sài Gòn, và binh lính Việt Nam Cộng Hoà, biết rằng không còn hy vọng gì nữa và cũng chẳng còn đồng minh nào, vẫn chiến đấu dũng mãnh cho cái chính nghĩa đã bị đánh mất của họ.

Tôi cũng đã thất kinh trước cách đối xử siêu thực của thế hệ hậu thế chiến (Baby-Boomers) tự cho mình là cái rốn của vũ trụ, miệng hót như con vẹt khẩu hiệu ngớ ngẩn “hãy làm tình đừng làm chiến tranh” và đã mạ lỵ binh lính Mỹ khi họ trở về nước: hầu hết cựu chiến binh Hoa Kỳ mà tôi có dịp được rao giảng giáo lý trong thập niên 80 đều bị gọi là “đồ giết trẻ con” trong vòng 24 tiếng đồng hồ đầu tiên khi họ trở về từ chiến tranh. Đối với tôi, là một quan sát viên ngoài cuộc, có vẻ như là trong những trường đại học và ở những khu công cộng khái niệm người Mỹ xấu xí đã biểu hiện rõ hơn trong rừng rậm Đông Nam châu Á nơi mà những người lính, dù bị động viên hay chuyên nghiệp, đã hy sinh mạng sống của họ.

Có lẽ bức ảnh siêu thực và đáng trách nhất trong toàn bộ cuộc xung đột là tấm hình được chụp 20 năm sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam. Nó cho thấy bộ trưởng quốc phòng Mc Namara  đang ngồi bên cạnh đối phương cũ, tướng Võ Nguyên Giáp, và hướng về phía máy ảnh mà cười. Sự giả nhân nghĩa kiểu ấy làm tôi sôi máu. Nói cho cùng, Giáp là thủ phạm các cuộc tàn sát tôi đã chứng kiến tại Tây Nguyên và tại Huế vài năm sau đó. Theo những tiêu chuẩn tòa án quốc tế Nuremberg thì Giáp lẽ ra phải bị mang ra xét xử vì tội ác chiến tranh. Mặc dù vậy, Mc Namara, một trong những “đỉnh cao trí tuệ” của John F. Kennedy, đã vinh danh đối thủ cũ của mình bằng một cái vỗ đùi đen đét theo kiểu bạn thâm giao xưa, như thể muốn nói: các anh đã thắng, chúng tôi thua, nhưng chúng ta đã có một thời dzui dzẻ đánh lẫn nhau, đúng không, ha ha ha?” Tôi rất chướng tai gai mắt trước sự ngu xuẩn của cái hành động sĩ nhục hàng trăm ngàn người miền Nam đã phải trả giá cho niềm tin của họ đối với Hoa Kỳ bằng những năm tháng trong những trại tù cải tạo của Giáp mà thực chất là những trại tập trung không hơn không kém. Sự khinh thường trơ trẽn đối với những người đàn ông và phụ nữ đã phải khổ đau cho suốt quãng đời còn lại của họ vì di chứng của sự hành hạ bởi đòn tra tấn cộng sản đã khiến lòng tôi dấy lên sự khinh miệt cay đắng.

Tất cả những điều trên là những khía cạnh bỉ ổi của “Kịch trường của sự Phi lý”. Chúng phù hợp với phương châm của nhóm tân tả phái trong thời kỳ Phục Hưng của chủ nghĩa siêu thực trong thập niên 1960: “Dồn mọi sức mạnh cho óc tưởng tượng.” Nhìn lại, hành vi lập dị của Eberhard đã mang tính tiên tri một cách kỳ lạ. Bằng men say, anh đã vẽ ra một bức biếm họa chính xác nhất về cái tương lai mà nhiều người trong chúng tôi theo linh tính đã lo ngại, kể cả Sir Robert Thompson, Bernard Fall và nhóm chúng tôi, những phóng viên đã thương mến đất nước Việt Nam và đã đọc qua lời dự đoán chiến thắng của Võ Nguyên Giáp cũng như sự thất bại tất nhiên của Phương Tây: “Kẻ thù… không có được… những phương tiện tâm lý và chính trị để theo đuổi một cuộc chiến lâu dài.”

Lùi trở về 13 tháng Giêng năm 1965, Stanley Karnow, một trong những người chỉ thích ồn ào nhất cuộc chiến Việt Nam trên báo chí Hoa Kỳ, đã sử dụng câu trích dẫn này trong bản cuối của loạt bài viết thông tin với tựa đề “Trong lòng Việt Cộng.” Karnow đã ngụ ý bằng cái chữ “kẻ thù”, Giáp có ý muốn nói đến một chuỗi liên tục các chính quyền Sài Gòn yếu kém, bất ổn và có khi độc tài đàn áp. Tuy nhiên Bernard Fall đã giải thích lời tuyên bố của Giáp một cách chính xác nhất trên một bình diện rộng lớn hơn. Trong kiệt tác “Hai đất nước Việt Nam” (trang 113), Fall diễn tả tuyên bố của tướng Giáp như là một “ước tính của các thiếu sót về chính trị và tâm lý của một hệ thống dân chủ (chữ nghiên của tôi) khi phải đối mặt với một hoạt động quân sự bất phân thắng bại.” Đọc cách này, những câu tiên tri của Giáp đã có những hệ quả rất lớn đối với khả năng tồn tại của nền dân chủ.

Khi tôi đang viết những dòng chữ này 40 năm sau, nhóm Taliban của Afghanistan, một lực lượng cũng độc tài toàn trị và ngoan cố không kém Cộng sản Việt Nam, đã thừa hưởng được sự bất lực về tâm lý và chính trị của Hoa Kỳ nhằm theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài cho đến ngày chiến thắng cuối cùng. Hoa Kỳ và các đồng minh NATO đã lơ đễnh cho Taliban biết thời hạn mà các lực lượng Tây Phương sẽ rút ra khỏi Afghanistan. Giống như ở Việt Nam, bọn kẻ thù của tự do [Taliban] đã biểu lộ tính vô nhân đạo của họ một cách thô bạo nhất vì dự đoán được chiến thắng của họ đã gần kề. Cách đây không lâu, họ đã chặt đầu 17 người với “tội danh” tham dự một bữa tiệc có đủ hai giới nam nữ lẫn lộn.

Làm như Washington không bao giờ rút ra được một kết luận hợp lý nào từ những lời cảnh báo bi quan do Bernard Fall để lại. Anh viết:

” Trong mọi tình huống, Giáp kết luận, ý kiến công chúng trong nền dân chủ sẽ đòi hỏi phải chấm dứt các ‘cuộc đổ máu vô ích’. Hoặc giới lập pháp sẽ cố nài muốn biết họ phải bỏ phiếu cho những ngân sách khổng lồ thêm bao lâu nữa mà không thấy thắng lợi rõ rệt nào trong tầm tay. Điều này vĩnh viễn buộc các cấp chỉ huy quân sự của những quân đội dân chủ phải hứa hẹn một kết thúc nhanh chóng trong mọi cuộc chiến – ‘mang tụi nhỏ về nhà trước Giáng Sinh’ – hoặc là buộc các chính trị gia dân chủ phải đồng ý với hầu hết các thỏa hiệp nhục nhã chứ không chấp nhận ý tưởng phải theo đuổi một chiến dịch lâu dài chống du kích chiến.”

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (12)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (14)

Đọc những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (13)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s