Người Bắc Việt muốn toàn thắng

Karl-Heinz Janßen

28 tháng Ba 1975

Phan Ba dịch

Cuộc chiến tranh đầu tiên ở Việt Nam bắt đầu vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 khi Tướng Giáp cho nổ tung nhà máy phát điện Hà Nội và trong cùng khoảnh khắc đó cho nổ súng bắn vào quân đội Pháp đang bị bất ngờ trong thành phố. Nó kéo dài bảy năm rưỡi và chấm dứt với Hiệp định Đình chiến Genève ngày 20 tháng 7 năm 1945. Việt Minh, tiền thân của Việt Cộng, chỉ thành công một phần: Tuy người Pháp phải rời khỏi đất nước, nhưng Việt Nam bị chia cắt, và miền Nam rơi vào ảnh hưởng của Mỹ. Khoảng 400.000 người Việt và 75.000 người Pháp đã chết. 600.000 người Công Giáo chạy trốn vào miền Nam Việt Nam.

Cầu Hiền Lương
Cầu Hiền Lương

Cuộc chiến tranh thứ hai ở Việt Nam bắt đầu một lúc nào đó trong năm 1957, khi Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam nổi dậy chống chính quyền Diệm. Nó kéo dài mười sáu năm và chấm dứt với Hiệp định Đình chiến Paris. Việt Cộng và Bắc Việt Nam chỉ đạt thắng lợi một phần: Tuy người Mỹ phải rời khỏi đất nước, nhưng phần lớn Nam Việt Nam và đa số dân cư của nó vẫn nằm dưới quyền lực của Tổng thống Thiệu. Hơn một triệu người Việt và 53.000 người Mỹ đã chết, sáu triệu người phải chạy trốn khỏi quê hương của họ.

Cuộc chiến tranh thứ ba ở Việt Nam bắt đầu vào ngày 28 tháng Giêng năm 1973 vào lúc 0 giờ. Bắt đầu với giây phút đầu tiên của cuộc đình chiến, Việt Cộng và quân đội của chính phủ bắt đầu ngay lập tức cuộc tranh giành “miếng da báo”, tức là giành giật những vùng ảnh hưởng vẫn còn tranh cãi, chưa phân ranh giới. Cho tới nay đã có hơn 200.000 người Việt chết, trên một triệu người phải chạy lánh nạn từ hai tuần nay.

Tất nhiên là người ta cũng có quyền nói về một cuộc chiến tranh duy nhất, kéo dài ba mươi năm, vì du kích của Việt Minh đã bắt đầu cuộc kháng chiến của họ ngay từ năm 1941, chống lại quân đội Nhật chiếm đóng. Nhưng cũng như cuộc chiến trước đây ở Đức, cả cuộc chiến này cũng phân tách ra thành nhiều cuộc chiến riêng biệt, có thể phân định phạm vi rõ ràng.

Cuộc chiến tranh Việt Nam hiện tại khác với hai cuộc chiến trước đây ở điểm là không còn có cường quốc Phương Tây nào tham chiến nữa, mà chỉ còn người Việt bắn người Việt. Người dân ở Phương Tây, trong một động thái cố lãng quên không tiền khoáng hậu, đã không muốn biết tới cái gọi là cuộc chiến tranh ngưng bắn này cả một thời gian dài; Ủy ban Giải Nobel thậm chí còn vinh danh Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Kissinger và đối tác Lê Đức Thọ của ông ta với Giải Nobel Hòa bình, giải mà con người Bắc Việt đó đã khước từ, vì cuộc đổ máu vẫn không hề chấm dứt.

Các ấn định cơ bản của Hiệp định Paris chưa từng bao giờ được thi hành – ngoại trừ những ấn định chấm dứt sự can thiệp của Mỹ: Quân đoàn viễn chinh được rút ra khỏi nước trong vòng ba tháng, và mìn phong tỏa các cảng biển của Bắc Việt được gỡ bỏ. Hoạt động kiểm tra của Ủy ban Đình chiến Quốc tế trên thực tế là đã bị ngăn cản ngay từ ngày đầu tiên. Hội đồng Hòa giải Quốc gia, mà “Lực Lượng Thứ Ba” trung lập, ngoài chính phủ ở Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng Lâm thời của Việt Cộng, cũng cần phải gửi đại diện đến đó, không bao giờ họp lại, mặc dù một thời hạn là chín mươi ngày đã được đưa ra. Do đó, cũng không có cuộc bầu cử dân chủ và tự do nào có thể được tổ chức.

Tổng thống Thiệu đã cố gắng phá bỏ Hiệp định ngay từ đầu, sau khi ông không thành công với yêu cầu đòi rút 145.000 người lính Bắc Việt. Trong khi Việt Cộng thừa nhận ở Nam Việt Nam có hai chính phủ, hai quân đội và ba phe phái chính trị thì Thiệu khăng khăng đòi quyền đại diện duy nhất. Theo luật lệ của ông, những người Việt Cộng không buông súng đều phạm tội tử hình.

Mối đe dọa của quân đội Bắc Việt tuy được cân bằng bởi Hạm đội Bảy của Mỹ và những chiếc máy bay ném bom B-52 trên các phi trường ở Thái Lan, nhưng Thiệu đã tiên đoán rất đúng, rằng những lời hứa hẹn can thiệp của Tổng thống Nixon mà ông đang có trong túi sẽ giúp ích cho ông còn ít hơn cả một bảo đảm hỗ trợ từ Quốc Hội Mỹ mà ông không nhận được. Vì vậy mà ngay sau khi ký kết ngừng bắn, ông đã ra lệnh cho quân đội của ông hãy giật lấy lãnh thổ càng nhiều càng tốt từ tay địch thủ – về mặt mình, du kích quân cũng đã nhanh chóng gửi những đội tiên phong của họ vào nhiều làng mạc, trong hy vọng hơi thơ ngây một chút, rằng họ có thể đặt bất cứ ngôi làng nào có cờ Việt Cộng tung bay trên đó vào dưới sự bảo vệ của quốc tế. Trận chiến vì tấm da báo sau vài tuần đã giảm xuống thành những cuộc chạm trán nhỏ, chiến tranh được tiến hành theo kiểu tiết kiệm. Tuy quân đội Thiệu đã có khả năng giật khỏi tay của quân địch nhiều ưu thế mà những người này đã chiếm được trong những ngày cuối cùng trước khi ngưng bắn, nhưng họ quá yếu và phân tán quá nhiều để mà có thể đẩy lùi quân đội Bắc Việt ra khỏi những vùng quân đội này đã chiếm giữ từ đợt tổng tấn công dịp Phục Sinh 1972.

Ở Paris, hai phe tiến hành chiến tranh ở Nam Việt Nam bị cấm du nhập quân lính, cố vấn quân sự, vũ khí và đạn dược, họ chỉ được phép thay thế vật liệu chiến tranh đã bị phá hủy hoặc hao mòn trong tỷ lệ một đổi một. Cả hai bên đều buộc tội bên kia đã vi phạm quy định này – vì những người giám sát không thể bước vào vị trí của họ nên lời quả quyết đó không thể xác minh được, ít nhất là đối với Việt Cộng.

23 Tháng Giêng 1973, Paris, Pháp --- Đại sứ William H. Sullivan (dưới bên phải) và Xuân Thủy (trên bên phải) xem Tiến sĩ Henry Kissinger (ở giữa thấp hơn) và Lê Đức Thọ (thứ hai từ trên bên phải) ký kết Hiệp định Hòa bình Paris. Hình: Bettmann / Corbis
23 Tháng Giêng 1973, Paris, Pháp — Đại sứ William H. Sullivan (dưới bên phải) và Xuân Thủy (trên bên phải) xem Tiến sĩ Henry Kissinger (ở giữa thấp hơn) và Lê Đức Thọ (thứ hai từ trên bên phải) ký kết Hiệp định Hòa bình Paris. Hình: Bettmann / Corbis

Nhưng từ tháng Giêng thì không còn có thể chối cãi được nữa, rằng quân đội có số quân chiếm ưu thế hơn hẳn của Thiệu đã phải tiết kiệm đạn dược và nhiên liệu. Tuy Hoa Kỳ vào những ngày trước khi ngưng bắn đã còn nhanh nhẹn làm đầy các kho dự trữ của quân đội Nam Việt Nam, nhưng Washington đã rất chú ý đến việc chỉ tăng cường khả năng phòng thủ. Máy bay ném bom tầm xa B-52, những cái đã ngăn chận các mũi nhọn xe tăng địch quân trước các thành phố năm 1972, những thành phố mà bây giờ đã rơi vào tay người Bắc Việt,  đã bị từ chối.

Việt Cộng cũng không hài lòng với Hiệp định Paris như Thiệu. Họ không bao giờ có thể phục hồi lại từ lần đổ máu trong cuộc tổng tấn công dịp Tết, tháng Hai 1968, và bây giờ phải chịu nằm dưới mệnh lệnh của quân đội Bắc Việt mà nếu như không có sự bảo vệ của những người này thì họ đã thua cuộc rồi. Họ chiếm nhiều lắm là một phần tư Nam Việt Nam, phần lớn là những vùng khó đi lại, thưa dân cư mà trong đó chỉ có 500.000 trong số 20 triệu người dân sinh sống.

Thật ra thì trong phần lớn các tỉnh bây giờ bị Sài Gòn bỏ, tấm da báo đã liên tục thay đổi lâu nay – theo đúng công thức du kích của Mao Trạch Đông, du kích lui vào bí mật ngay khi quân đội chiếm thế thượng phong của Sài Gòn tiến đến gần – thế nhưng những người lính này thường chỉ đóng quân dọc theo các con đường và trong các thành phố. Trong các vùng đông dân cư dọc theo bờ biển, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và ở Sài Gòn thì bộ máy cảnh sát của Thiệu quá mạnh để mà nói chung là có thể nghĩ đến việc tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản. Chính phủ cách mạng, do vẫn còn sợ bị không kích nên vẫn phải ẩn nấp trong rừng rậm, phải cố gắng lắm mới có thể trình bày được với những người đi theo họ, rằng hiệp định ngưng bắn này là một “chiến thắng lịch sử”. “Con đường tương lai của chúng ta đầy gian khổ và nguy hiểm”, các lãnh đạo Việt Cộng đã cam chịu ngay từ tháng Ba 1973. Một năm sau đó, họ khẳng định khô khan: “Kẻ thù tạm thời chiếm ưu thế.” Rõ ràng là trong một năm rưỡi đầu tiên của hiệp định, phe hòa bình trong Bộ Chính trị ở Hà Nội đã ghìm chặt dây cương giới quân đội đang tăng cường vũ trang cho một cuộc tổng tấn công mới. Họ vẫn còn hy vọng vào lần tài trợ dollar hào phóng để tái xây dựng lại đất nước bị bom đạn tàn phá. Có lẽ là họ cũng đánh giá khả năng hay ý định của Hoa Kỳ sai lầm một cách tai hại như thời trước lúc năm 1954. Lúc đó, Hồ Chí Minh đã tin rằng đúng theo Hiệp định Genève, sau hai năm sẽ có tổ chức bầu cử tự do trên toàn Việt Nam mà Việt Minh sẽ là những người chiến thắng. Lê Duẩn, người kế nhiệm  ông, có thể đã thật sự cho rằng Henry Kissinger sẽ tạo đủ áp lực lên Tổng thống Thiệu để Hội đồng Ba bên có thể thật sự được thành lập. Nhưng không lâu sau đó, Hà Nội và Việt Cộng đã phải nhận thấy rằng Thiệu sẽ không bao giờ lui bước, nhất là khi giới đối lập ở Sài Gòn vì đấu tranh giữa các phe phái với nhau mà đã suy yếu cho tới mức không còn là lực lượng thứ ba nữa. Mãi tới mùa hè 1974, thế cuộc mới bắt đầu đảo ngược lại chống Thiệu. Cho tới lúc đó, ông đã gây thiệt hại nặng cho đối phương qua nhiều trận đánh lớn và qua không kích dữ dội. Nhưng vào thời gian này thì công binh Bắc Việt Nam đã biến cái được gọi là Đường mòn Hồ Chí Minh dọc theo biên giới Lào và Campuchia thành một con lộ hiện đại, có thể được sử dụng trong mọi thời tiết; xe tăng và xe tải bây giờ chỉ cần ba tuần cho đoạn đường mà trước kia phải cần tới ba tháng. Một đường ống dẫn dầu mang nhiên liệu vào, các kho trữ được đổ đầy, nhiều sư đoàn mới, có sức chiến đấu cao tiến vào từ Bắc Việt Nam.

Trong lúc đó, quân đội Thiệu sử dụng hết sức lực của mình vào trong những trận chiến nhỏ, bộ Tổng Chỉ huy ở Sài Gòn không còn có trong tay một lực lượng dự bị chiến lược.

Thử phản ứng Washington

Trước đây một năm, phe “bồ câu” trong Bộ Chính trị ở Hà Nội đã có thể sửa lại chiến lược lâu dài của họ. Mối nguy hiểm của một sự can thiệp từ Mỹ dường như đã giảm thiểu đáng kể: Nixon, người mà người ta được phép dự tính với những cú đánh trả cứng rắn, đã bị vướng vào vụ Watergate; Quốc Hội dần dần không còn hứng thú nhét thêm bạc tỉ vào trong bãi lầy Đông Dương; sự lưu ý của Henry Kissinger đã bị đánh lạc hướng sang những cuộc khủng hoảng khác – Trung Cận Đông, Cyprus, khan hiếm dầu và nguyên liệu; giới đối lập ở Sài Gòn bắt đầu trở nên táo bạo hơn, con số đào ngũ trong quân đội Việt Nam lại tăng lên, mới đây là 20.000 trong một tháng. Ở Cao nguyên Trung Phần, sự tuyên truyền kiên nhẫn và khéo léo của Việt Cộng cuối cùng đã thành công: các bộ lạc miền núi của người Thượng, ngày xưa từng là nhóm quân đội hỗ trợ đánh tin cậy của người Mỹ, đã thất vọng quay lưng lại với Sài Gòn và bước sang phục vụ cho chính phủ cách mạng.

Tướng Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng Bắc Việt, bây giờ áp dụng một chiến thuật mới. Trong nhiều vùng khác nhau trong nước, ông tiến hành đồng thời nhiều cú đánh mạnh và ngắn với mục đích lôi kéo các sư đoàn của Sài Gòn vào những trận đánh tiêu hao vì những vị trí tương đối không quan trọng, nhưng đồng thời cũng thử phản ứng của Mỹ, bằng cách tăng cường độ của những cuộc tấn công từ lần này sang lần khác. Tướng Dũng đặt một trong những trọng điểm vào các đồn điền cao su ở Bến Cát, cách Sài Gòn 25 dặm về phía Bắc, nơi Sư đoàn 18 đã kiệt sức sau những trận đánh kéo dài nhiều tuần; một mũi tấn công khác nhắm tới Đà Nẵng.

Tấm khăn phủ bàn mà Henry Kissinger đã trải ra giữa các bên thù địch với nhau lại bị cắt đi. Tháng Tư 1974, chính trị gia đôi bên gặp nhau lần cuối ở Le Celle-Saint-Cloud để tìm kiếm một công thức thỏa hiệp. Hai tháng sau đó, các sĩ quan của Ủy ban Quân sự Hỗn hợp, những người có nhiệm vụ vạch định ranh giới của “tấm da báo” trên bản đồ, đã tan hàng. Trong tháng Tám, cả hai bên đều đe dọa hủy bỏ Hiệp định Paris, và cuối cùng, trong tháng Mười 1974, chính phủ cách mạng quay kim đồng hồ ngược lại vài năm: Họ công khai kêu gọi lật đổ “bè lũ Thiệu”. Phải cần đến những phiên họp kiệt sức, cho tới khi Kissinger có thể thuyết phục được Bắc Việt Nam từ bỏ yêu cầu này.

Dân làng bỏ chạy khi người cộng sản tiến vào Dầu Tiếng, 19/03/1975. Hình: Bettmann/CORBIS
Dân làng bỏ chạy khi người cộng sản tiến vào Dầu Tiếng, 19/03/1975. Hình: Bettmann/CORBIS

Chiến bại lớn nhất cho tới nay 

Trong tháng Giêng năm nay, Sài Gòn bị một cú bất ngờ khủng khiếp, khi người Bắc Việt chuyển từ du kích giai đoạn hai sang giai đoạn ba, và cho tấn công các tỉnh lỵ đã bị bao vây từ lâu. Phước Bình thất thủ đầu tiên, 100 kilômét ở phía Bắc Sài Gòn. Tướng Giáp, Bộ trưởng đau yếu của Bộ Quốc Phòng ở Hà Nội, viết một bài báo mà trong đó ông tuyên bố sẽ tiến hành “chiến tranh nhân dân trường kỳ cho tới khi toàn thắng”.

Các nhà tuyên truyền Sài Gòn vẫn còn cố gắng che giấu độ nghiêm trọng của tình hình: Tỉnh xa xôi hoang vắng đó không đáng giá (hai năm trước đây, Thiệu còn thề không để lọt thành phố lớn nào vào tay kẻ địch). Thậm chí người ta còn nói rằng thành phố đó bị bỏ rơi không phải là hoàn toàn không có ý định, vì bây giờ thì hẳn là Quốc Hội Mỹ sẽ thức tỉnh. Những lý do tương tự như vậy đã được lan truyền đi tuần vừa rồi; một vài người thậm chí còn cho rằng mình biết cả một hiệp định bí mật giữa Kissinger và Lê Đức Thọ, dự định chia cắt Việt Nam mà toàn bộ miền Bắc và Cao Nguyên sẽ được giao cho Việt Cộng.

Thật sự thì không còn gì để tô điểm nữa: Chính quyền Sài Gòn đã hứng chịu thất bại quân sự lớn nhất của nó từ 1957. Các sư đoàn của Thiệu trên Cao Nguyên đã bị bất ngờ cho tới mức họ chỉ còn có thể cố gắng thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt bằng cách vội vã rút về vùng bờ biển.

Vài trung đoàn thậm chí còn không làm được việc đó nữa; họ bị kẻ địch đánh tan hay chạy trốn trong hoảng loạn. Ở Pleiku, Việt Cộng có thể chiếm được 70 máy bay và 200.000 viên đạn. Vào thứ hai, quân đội cộng sản cuối cùng đã đạt tới mục tiêu mà năm 1965 lính thủy quân lục chiến và không kỵ của người Mỹ đã ngăn chận họ: Họ tiến quân từ cao nguyên xuống vùng đồng bằng ven biển ở phía Nam Đà Nẵng và xé đôi lãnh thổ quốc gia Nam Việt Nam ra làm hai phần.

Vì phải trải dài mặt trận và lực lượng nên Thiệu  không còn cách nào hơn là rút về trận tuyến trong. Chiến thuật của ông tương tự như thuyết co cụm của Tướng Mỹ Gavin, người trước đây mười năm đã từng muốn bỏ trống toàn bộ Cao Nguyên cho Việt Cộng và quy tụ các lực lượng của mình về một vài vùng đất đông dân cư dọc theo bờ biển, nơi họ có thể giữ vững được vô thời hạn. Thế nhưng ngày nay, giới quân sự hoài nghi liệu có thể giữ được thành phố Đà Nẵng đầy người tỵ nạn hay không, khi nó rơi vào hỏa lực của những khẩu đại bác tầm xa.

Việt Cộng đã chiếm được hơn phân nửa Nam Việt Nam. Việc hàng triệu người chạy trốn họ chắc chắn là một việc bực mình về mặt ý thức hệ. Thế nhưng dòng người tỵ nạn có thể để cho sự khốn cùng về kinh tế trong vùng Sài Gòn trở thành một thảm họa. Và khi con người ở Nam Việt Nam chìm vào trong sự khốn khổ và mất hết can đảm, thì Việt Cộng sẽ đạt tới thành quả.

 

Phan Ba dịch từ Thời Báo (Die Zeit): http://www.zeit.de/1975/14/in-der-dritten-phase-fielen-die-staedte/komplettansicht

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s