“Cái chết đã bao vây chúng tôi”

Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng nguy ngập

Andreas Kohlschütter

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit (Thời Báo), số ra ngày 31 tháng Giêng năm 1975

Sài Gòn, trong tháng Giêng

Đó là Tây Ninh trong tháng Giêng 1972: một tỉnh lỵ bụi bặm, có mật độ dân cư quá cao với 40.000 người ở cạnh con đường dẫn sang Campuchia; một cái chợ ồn ào, đầy sức sống nguyên thủy, muôn màu sắc, mà người ta buôn bán và trả giá thật to bằng tiếng Việt ở trên đó; một căn cứ khổng lồ để hỗ trợ cho các chiến dịch tấn công lớn của quân đội Nam Việt Nam, tiến qua bên kia biên giới, trên đất Campuchia, hành quân tới những vùng địch thủ triển khai lực lượng; những đoàn xe tải đạn dài hàng ki-lô-mét, hàng bầy trực thăng, hàng chục cố vấn Mỹ, những người có thể yêu cầu máy bay ném bom B-52 của họ hỗ trợ vào bất cứ lúc nào.

Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS
Tây Ninh, 31 tháng Giêng năm 1973. Hình: Bettmann/CORBIS

Tây Ninh ngày nay là như thế này: một thành phố không người với cái chợ hoang vắng mà trên có còn không có cả chó chạy rông. Tây Ninh đã trở thành một thành phố tiền tuyến đang lo sợ, bị đẩy vào thế phòng thủ, người dân đã bỏ chạy, bộ chỉ huy sư đoàn đã dời về phía sau. Lính Nam Việt Nam ngồi ở phía sau những hàng dây kẽm gai đã rỉ sét và những chồng bao cát thủng lổ.

Những người lính đang chờ địch thủ – và những người này thì đang ở thật gần, cả vùng đất đi về hướng Campuchia đã thuộc về tay những người cộng sản. Họ thống trị nhiều phần rộng lớn của tỉnh Bình Long kế cận, bây giờ họ ngồi trên núi Bà Đen, nổi lên từ đồng bằng ở gần Tây Ninh giống như một ngọn núi lửa, và họ bắn tùy thích đạn pháo của họ vào cái thành phố đang nằm ở dưới chân và vào cái trại lính đã đào hầm cố thủ của nó.

Mất niềm tin

Hạ sĩ quan Nghiep thuộc vào trong số những người cuối cùng rời bỏ căn cứ ở trên núi vào đầu tháng Giêng. “Chúng tôi không còn đạn, không còn nước, không còn thức ăn  nữa.” Tại sao họ không được cung cấp bằng trực thăng? “Chúng tôi là những người lính tốt, nhưng chúng tôi đã nghèo đi.” Vợ Đại úy Minh vừa từ Sài Gòn tới thăm ông. Lặng thinh, cạnh bên nhau, hai người ngồi trên một cái thùng gỗ trước một chai rượu mạnh đã gần cạn. Ông nghĩ gì về lần thất thủ Phước Bình mới đây, tỉnh lỵ đầu tiên mà người cộng sản tiến vào kể từ lần “ngưng bắn”? Nhún vai không lời. Minh 34 tuổi, ở trong quân đội từ mười ba năm nay. Người Mỹ có quay trở lại không? “Họ phải trở lại.” Và với ánh mắt buồn bã nhìn ra con đường dẫn tới cánh đồng mà anh với đại đội của anh có nhiệm vụ phải giữ nó, anh nói: “War we no can do fini” – “Chúng tôi sẽ không bao giờ có thể chấm dứt cuộc chiến này.”

Cả cô bác sĩ người Sài Gòn mới tốt nghiệp đại học trước đây vài tháng cũng không có ảo tưởng: “Cái chết đã bao vây chúng tôi, và nó mạnh hơn chúng tôi. Cái chết xung quanh đã trở thành một sự tự nhiên đối với tôi. Nó làm cho tôi buồn, nhưng nó không còn lay động tôi được nữa. Tôi không chờ đợi điều gì khác, và tôi muốn phải chịu đau đớn càng ít càng tốt.” Cô gái 24 tuổi tập trung hoàn toàn vào công việc của cô và vào cuộc sống từ ngày này sang ngày khác, “làm đến đâu ăn đến đó” như cô nói. Cô hợp tác với chính quyền Thiệu vì cộng sản nắm quyền thì “còn tồi tệ hơn nhiều nữa”.

Hai năm sau khi Hiệp định Ngưng bắn Paris được ký kết, hiệp định mà mới nó hòa bình cần phải được tái thiết lập tại Việt Nam, thống trị ở Sài Gòn vẫn là tình trạng vô vọng, bất lực và không lối thoát như từ trước tới giờ. Tất cả mọi ước ao hòa bình đều bị sự bất lực trước thực tế cuộc chiến bóp cho chết ngạt. Cuộc chiến, cái mà từ ngày 28 tháng Giêng năm 1973 không còn nữa trên chính thức, vẫn tiếp tục diễn ra một cách ác liệt không suy giảm, thậm chí còn tăng lên thêm nữa. Việt Nam đứng trước năm chiến tranh thứ 29. Vào ngày 19 tháng Mười Hai năm 1946, những người theo Hồ Chí Minh đã cho nổ tung nhà máy điện Hà Nội; cuộc nổi dậy chống chính quyền thuộc địa Pháp bắt đầu. Năm 1956, những người Pháp cuối cùng rút lui, năm 1973 những lực lượng quân đội cuối cùng của Mỹ rút lui. Giữa đó luôn có hòa bình được ký kết. Nhưng bây giờ thì cuộc Chiến tranh Việt Nam lấn thứ nhì đã chuyển liền mạch sang cuộc Chiến tranh Việt Nam lần thứ ba, sang cuộc “chiến tranh ngưng bắn” chết người, đã bị lãng quên hầu như hoàn toàn, cuộc chiến mà trong đó không có người da trắng, chỉ có người da vàng chết, chỉ còn có người Việt bắn nhau với người Việt.

Các thống kê, dù chúng có không chính xác cho tới đâu, để cho người ta nhận ra được quy mô đáng sợ của cuộc chiến tranh huynh đệ này: theo số liệu chính thức của chính phủ Sài Gòn, kể từ khi tuyên bố ngừng bắn đã có trên 250.000 người chết, bị thương hay được báo là mất tích. Trong đó chỉ riêng ở phía Nam Việt Nam là 28.000 người chết, 113.000 người bị thương và 15.000 người lính mất tích; thêm vào đó là 5600 người dân thường bị giết chết và 16.000 người dân thường bị tàn phế. Từ tháng Giêng 1973, con số được Bộ Thương binh giúp đỡ đã tăng lên gấp đôi. Con số góa phụ và con mồ côi vì chiến tranh đã tăng lên thêm 25%. Cứ tám phút thì có một người lính Nam Việt Nam tử trận hay bị thương. Cứ hai phút thì có một người Nam Việt Nam mất nhà cửa. Con số người tỵ nạn bị đuổi ra khỏi các thành phố, làng mạc và thôn ấp bởi chiến sự của cuộc chiến tranh ngưng bắn được ước lượng là 700.000 người.

Hiệp định Paris cho Việt Nam, ngoại trừ việc Mỹ chấm dứt ném bom, phá mìn các cảng biển Bắc Việt và rút quân, đã không có tác động gì. Tính toán hòa bình đáng giá Giải Nobel của Henry Kissinger xuất phát từ hai giả định mà cho tới nay đều không xảy ra. Thứ nhất: cuộc xung đột vũ trang để cho người ta lái vào những kênh chính trị và sẽ dẫn tới một cuộc tranh chấp chính trị trong lúc các hoạt động chiến đấu giảm xuống nhanh chóng; thứ nhì; cho tới khi giai đoạn chính trị này bắt đầu, quân đội Nam Việt Nam, vào giờ chót còn được nhét đầy trang thiết bị Mỹ, sẽ có khả năng ngăn chận thành công một cuộc xâm lấn quân sự tiếp tục của những người cộng sản.

Tây Ninh, ngày 10 tháng Giêng năm 1975
Tây Ninh, ngày 10 tháng Giêng năm 1975

Thế nhưng người ta hoàn toàn không hề cảm nhận được một chút gì từ tính sẵn sàng thương lượng, từ ý muốn gửi quân đội trở về doanh trại và gửi nhà ngoại giao ra đấu trường ở cả hai bên. Tất cả các phương cách để cùng nhau đổ bê tông cho cuộc ngưng bắn và để bắt đầu một cuộc đối thoại chính trị giữa chính phủ Sài Gòn và Việt Cộng, “Chính phủ Cách mạng Lâm thời”, đều không dẫn tới đâu.

Trong tháng Tư 1974, những cuộc gặp gỡ song phương ở St. Cloud gần Paris đã bị hủy bỏ, những cuộc gặp gỡ mà trong đó người ta bàn về việc hiện thực những điều khoản chính trị của hiệp định, về thiết lập một hội đồng hòa giải quốc gia và chuẩn bị bầu cử. Rồi trong tháng Sáu 1974, hai phe của cuộc chiến cũng hủy bỏ tất cả các cuộc tiếp xúc trong ủy ban quân sự chung, ủy ban mà đã được giao cho nhiệm vụ giữ vững việc ngưng bắn trên thực tế, đặc biệt là đường phân giới của những vùng được cả hai bên kiểm soát, của cái “da báo”. Qua đó, Ủy ban Kiểm tra và Giám sát Quốc tế (ICCS)  bị tê liệt hoàn toàn. Lần xâm chiếm toàn bộ tỉnh biên giới Phước Long, kết thúc vào ngày 7 tháng Giêng, không hề được mang ra bàn thảo trong hội đồng ICCS. Lời bình luận của một thành viên ủy ban người Iran: “Khi đến đây, tôi đọc Hiệp định Paris như một quyển Kinh Thánh. Bây giờ thì đã qua rồi. Tôi đã đánh mất niềm tin của tôi.”

Tổng thống Thiệu đã đánh mất thế chủ động trong hiệp định ngưng bắn, thế chủ động mà ông đã giật lấy về cho mình. Năm 1973, ông đã sử dụng toàn bộ quân đội và quyền lực nhà nước của ông để chống lại Hiệp định Paris, cái đã mang lại cho ông 145.000 người lính xâm lược của Bắc Việt và tròng quanh cổ ông sợi dây xích của sự cộng tác với “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.  Cái phôi thai của một sự hiện diện chính thức của người cộng sản trong thân thể của miền Nam Việt Nam, do Kissinger và Lê Đức Thọ tạo nên, cần phải bị tiêu diệt bằng vũ lực càng sớm càng tốt.

Thiệu có bỏ lỡ cơ hội duy nhất để cho Nam Việt Nam sống còn như là một quốc gia phi cộng sản hay không? Có thể thuyết phục Hà Nội đẩy kế hoạch thống nhất bằng vũ lực vào trong ngăn kéo và cho phép có hai quốc gia Việt Nam – nhưng với điều kiện là Việt Cộng được chấp nhận như là một thế lực được đưa vào trong kết cấu chính trị của nhà nước Sài Gòn?

Rõ ràng là người Cộng sản chưa bao giờ từ bỏ hy vọng phất lá cờ của họ trên Sài Gòn và hoàn thành cuộc tái thống nhất theo di chúc của Hồ Chí Minh. Nhưng điểm nhấn trong hành động của họ kể từ ngày 28 tháng Giêng năm 1973 đã bị dịch chuyển đi thấy rõ:

Trong nửa đầu của năm 1973, Hiệp định Paris còn được chào mừng như là “chiến thắng to lớn”. Hà Nội và Việt Cộng chuẩn bị cho một thời kỳ đấu tranh chính trị kéo dài. Các khả năng hợp pháp của Hiệp định – hội đồng hòa giải, các quyền tự do, bầu cử – cần phải được tận dụng, niềm hân hoan hòa bình cần phải trở thành động cơ cho một “phòng trào rộng khắp”, “trên đường phố, trong nhà dân, ở trạm xe buýt, ở chợ, trong quán ăn, nhà máy, lớp học, trên đồng ruộng” – như được viết trong một chỉ thị từ Hà Hội. Một “giai đoạn mới”, với “vũ khí mới” và dưới “những điều kiện mới” đã bắt đầu. Câu khẩu hiệu là không trở về với “cuộc chiến của quá khứ”.

Đường lối thay đổi vào cuối năm 1973 đầu 1974. Kế hoạch hoạt động chính trị và thao túng Hiệp định Paris bị gạt bỏ. Quân đội lại nhận được mệnh lệnh “nắm lấy quyền chủ động”, vì “cách mạng chỉ có thể chiến thắng ở miền Nam bằng cách dùng bạo lực vũ trang”.

Trong mùa thu 1974 – điều này thể hiện rõ trong các văn kiện tịch thu được – những người cộng sản vứt bỏ hẳn các ràng buộc cuối cùng vào hiệp định ngưng bắn, như nó nằm trên giấy. Bây giờ thì phải đánh “khắp mọi nơi” và “tấn công liên tục với các đơn vị chính để giải phóng từng vùng đất một khỏi tay kẻ địch”, và qua đó “tạo nền tảng cho chiến thắng toàn vẹn”. Đó là lời tuyên bố chiến tranh mới. Vào ngày 8 tháng Mười, cột trụ cuối cùng mà Kissinger lúc trước đã cố công dựng lên cũng sụp đổ: Chính phủ Cách mạng Lâm thời tuyên bố rằng họ chỉ tiếp tục thương lượng với Sài Gòn sau khi “Thiệu và bè lũ của hắn” bị lật đổ.

Xói mòn thành công

Năm 1973, Thiệu không tận dụng được thời gian của ông, “lần tạm nghỉ đúng phép tắc” mà Washington đã thương lượng được cho ông.  Bây giờ thì thời gian hoạt động chống lại ông. Vì vào thời gian này, tương quan lực lượng đã dịch chuyển về hướng có lợi cho Hà Nội, ngay cả khi Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn chưa muốn chấp nhận điều đó. Tổng thống Thiệu lâm vào tình cảnh nguy ngập trên ba mặt trận, trước hết là về quân sự, nhưng cũng cả về kinh tế và đối nội.

Về quân sự, tuy là cho tới nay người cộng sản vẫn còn chưa xâm nhập thành công mang tầm chiến lược vào những vùng đông dân cư cạnh bờ biển hay vào đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng họ đã chiếm được thêm đất và dân, họ thống trị tròn 45 phần trăm lãnh thổ và 7 tới 12 phần trăm dân cư Nam Việt Nam; bàn đạp của họ đã to lớn hơn. Họ có thể đưa ra những điều kiện mới và khe khắt hơn về chính trị, nếu như lại bắt đầu đàm phán trở lại. Cuộc thâm nhập và xói mòn Nam Việt Nam đã được tiến hành một cách có hệ thống và với thành công.

Sài Gòn năm 1974 với chiếc La Dalat  do VNCH sản xuất
Sài Gòn năm 1974 với chiếc La Dalat do VNCH sản xuất

Theo số liệu của CIA, người cộng sản có 300.000 lính, trong đó có 235.000 người Bắc Việt – nhiều hơn lúc ngưng bắn 90.000 người. Mặc dù vậy, thời gian này vẫn không có ai dự tính với một cuộc tổng tấn công có quy mô lớn và một trận tấn công mang tầm quyết định cuộc chiến vào Sài Gòn. Lực lượng và dự trữ của miền Bắc vẫn còn chưa đủ cho việc này. Ngoài ra, cũng không được phép khiêu khích người Mỹ có những hành động phản ứng mới, và cũng không được phá rồi giới chính trị toàn cầu của Liên bang Xô viết, nhà cung cấp vũ khí không thể thay thế được của Hà Nội. Nhưng đồng thời, chuyên gia quân sự Phương Tây cũng loại bỏ khả năng đánh trả có hiệu quả của quân đội chính phủ để bù đắp cho những phần lãnh thổ đã bị mất.

Trong diễn tiến của chiến dịch mới nhất, toàn bộ tỉnh Phước Long đã bị mất. Qua đó, phía bên kia bây giờ có được một hành lang rộng hơn và được bảo vệ tốt hơn, dẫn từ Bắc Việt Nam dọc theo biên giới Lào và Campuchia cho tới rìa của vùng đồng bằng. Ở đó, phi trường, căn cứ tiếp liệu và đường ống dẫn dầu mới được xây dựng, đường sá được đẩy mạnh về hướng Nam. Không còn bị cuộc ném bom nào của Mỹ gây trở ngại, trang thiết bị hạng nặng được kéo tới liên tục qua con đường trong rừng rậm này: trên 600 xe tăng, tròn 400 đại bác hạng nặng và nhiều lượng lớn vũ khí phòng không, những cái mà ngay từ bây giờ đã gây nhiều khó khăn cho không quân Nam Việt Nam.

Về kinh tế, chính phủ Sài Gòn đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất và nguy hiểm nhất của họ. Nền kinh tế, bị chiến tranh làm đảo lộn, hoàn toàn phụ thuộc vào việc Quốc Hội Mỹ có sẵn sàng ưng thuận chi hàng trăm triệu trong những năm tới đây để viện trợ về kinh tế và quân sự cho đất nước này hay không. Đó là nền tảng hoạt động cho thỏa thuận Việt Nam hóa đã được Thiệu và Nixon ký kết vào thời đó. Nhưng Nixon không còn tại chức nữa, và Quốc Hội thì dường như là không còn có kiên nhẫn với đồng minh tốn kém và không hiệu quả này.

Trong khi tiền viện trợ của Trung Quốc và Liên bang Xô viết cho Hà Nội theo ước lượng của tình báo Phương Tây đã tăng từ 715 triệu trong năm 1973 lên đến một tỉ rưỡi dollar cho năm 1974 thì viện trợ Mỹ cho Sài Gòn một phần đã bị cắt mạnh rất mạnh: xuống còn 450 triệu cho kinh tế và 700 triệu dollar cho quân đội. Lính Mỹ, những người đã từng bơm 400 đến 500 triệu dollar vào thị trường, thì đã rút đi. Dự án của Nixon về một kế hoạch Marshall cho Đông Dương đã không thành công, làn sóng được hy vọng của những đầu tư từ tư nhân nước ngoài đã không đến vì rủi ro chiến tranh vẫn còn tiếp tục.

Hậu quả của sự phát triển này hết sức trầm trọng: đóng cửa nhà máy sản xuất vì thiếu ngoại tệ cho nguyên liệu, thu nhập từ xuất khẩu giảm xuống, một đạo quân người thất nghiệp, thu nhập bình quân trên đầu người giảm mười phần trăm mỗi năm, tỷ lệ lạm phát trên 50 phần trăm rất nhiều, một cán cân thanh toán ảm đạm với thu nhập từ xuất khẩu là 75 triệu so với 887 triệu dollar chi tiêu cho nhập khẩu, một ngân sách nhà nước hầu như không còn lại gì cho đầu tư xây dựng và hai phần ba tài chánh được đổ vào cho quỹ chiến tranh – để nuôi một quân đội một triệu người, cảnh sát và người tỵ nạn.

Một quân đội mà cuối cùng thì không còn có xăng dầu, đạn dược hạng nặng và phụ tùng thay thế xuống cho tới tận ắc quy vô tuyến. Từ nửa đầu 1974 họ không còn có thể mua sắm máy bay hay trực thăng mới nữa, mặc dù họ mất mỗi tháng ít nhất là mười hai chiếc. Trước đây, đối phó lại với mỗi một quả đạn pháo cộng sản, người ta có thể ném trả tám quả đạn pháo, ngày nay chỉ còn là hai. “Người lính thường ở ngoài kia trong bụi rậm có thể nghe thấy bằng chính tai mình rằng thời thế đã thay đổi”, một tùy viên quân sự Phương Tây nói.

Về chính trị, việc tiến hành cuộc chiến mà không có sự lựa chọn khác của Thiệu, và đi liền với đó là suy giảm kinh tế và nghèo hóa người dân, đang gặp phải sự chống đối ngày một tăng trong nội bộ. Sáng kiến xuất phát lại xuất phát chính từ người Công giáo, những người phần đông đã chạy trốn khỏi miền Bắc và cho tới nay thuộc phần cốt lõi trung thành của tổng thống. Trong tháng Chín 1974, linh mục Công giáo và chính trị gia tụ hợp lại trong “Phong trào Nhân dân chống tham nhũng để cứu quốc gia và tái thiết lập hòa bình”. Dưới sự lãnh đạo của cha Trần Hữu Thanh dòng Chúa Cứu Thế, Thiệu, gia đình ông và các thành viên dẫn đầu của chính phủ bị lên án là đã có liên quan tới sáu xì-căng-đan tham nhũng và đã “phản bội quốc gia”. Tất nhiên là những người công giáo không muốn làm suy yếu công cuộc bào vệ. “Chúng tôi sẵn sàng ngưng chiến với người cộng sản, với điều kiện là xã hội của chúng tôi trở nên lành mạnh và có khả năng chế ngự được họ.”

Can đảm hơn

Rồi giữa tháng Chín 1974, người Phật giáo đã ngần ngừ một thời gian dài cũng bắt đầu làm theo; họ thành lập “Lực lượng Hòa giải Quốc gia”. Nhân vật lãnh đạo của họ là Thích Trí Quang, lãnh tụ của nhóm chức sắc cực đoan trong chùa Ấn Quang, trung tâm tinh thần của Phật giáo ở Nam Việt Nam.

Ở đây, người ta đặt ra những ưu tiên khác: hòa bình bằng mọi giá, kề cả cái giá của một chính phủ liên minh với người cộng sản. “Chiến tranh là gốc rễ của mọi sự xấu xa, sau khi chấm dứt nó thì cũng có thể xóa bỏ tham nhũng là làm sạch xã hội”, phát ngôn viên chùa Ấn Quang, Thich Quang Do tự tin nói. Phong trào Phật giáo tự hiểu mình là lực lượng thứ ba, trung lập, đứng giữa, giữa hữu và tả. Khác với người Công giáo, người ta đánh trống chống Mỹ thật to trong chùa: “Họ can thiệp khắp nơi và chỉ tin vào sức mạnh từ đồng dollar và bom đạn của họ.”

Biểu tình chống chính quyền, Sài Gòn, 1974
Biểu tình chống chính quyền, Sài Gòn, 1974

Cả hai nhóm tôn giáo đối lập đều châm chích Thiệu, nhưng thật sự đâm vào thì còn chưa có nhóm nào dám. Ngoải ra, một sự cộng tác có khả năng hoạt động giữa các nhóm đối lập khác nhau phải đương đầu với một sự nghi ngờ lẫn nhau thật sâu xa. Cho tới nay, không có gì thành hình nhiều hơn là các liên hệ lỏng lẻo.

Thiệu khôn ngoan và nhanh nhẹn về phần mình cũng đã hoạt động để lấy gió ra khỏi cánh buồm của giới đối lập đang thành hình. Ông nắm chặt lực lượng cảnh sát, đáp ứng lại sự thịnh nộ của người dân và đích thân chống lại những người tham nhũng cao cấp: bốn bộ trưởng bị sa thải, trong số đó có Nha cháu của ông, sếp thông tin và kiểm duyệt bị căm ghét, ba chỉ huy quân đoàn bị sa thải, chín tỉnh trưởng bị thay thế, hàng trăm thiếu tá, trung tá và đại tá phải ra đi. Thao tác chính trị, tất nhiên rồi, nhưng khéo léo và được trình diễn có hiệu quả. Thêm vào đó, lần cộng sản chiếm Phước Bình cũng khiến cho quan chức không muốn hòa giải nhiều nhất cũng phải toát mồ hôi trán.

Tuy vậy: phạm vi của Thiệu cũng đã bị thu hẹp trong ngôi nhà của chính ông, vị trí của ông và tính chính danh rõ ràng là đã bị phong trào chống đối làm cho suy yếu đi. Phe đối lập chia rẻ, phân tán, mơ hồ trong các chương trình của họ, phi thực tế trong các tuyên bố của họ, tất nhiên rồi. Thế nhưng đã bắt đầu có chuyển động trong các mặt trận nội địa cứng nhắc, có những điều mà người Nam Việt chỉ dám thì thào trong những năm vừa qua thì bây giờ đã được nói công khai. Tran Van Tuyen, một lãnh tụ đối lập quốc gia già chịu ảnh hưởng dân chủ xã hội, đúc kết: “Chúng tôi đã can đảm hơn.”

Chiến tranh vẫn tiếp tục

Thiệu suy yếu, nhưng vẫn còn mạnh cho tới mức không thể bị lật đổ. Trong lúc đó, những người cộng sản, hiện giờ hoàn toàn không sẵn sàng cho bất cứ một thỏa hiệp chính trị nào và đang tấn công về mặt quân sự, lại giúp cho ông. Cũng trợ giúp cho ông là khả năng chịu đựng và tính khoan dung hầu như không thể hiểu được của dân tộc này, một dân tộc luôn phải chịu đựng chiến tranh và những hy sinh mất mát từ nó như thế nào đó – như phải chịu đựng một mùa buồn thảm trong năm mà không thể đảo ngược được.

Ở Tây Ninh, những người phụ nữ nhà nông với cái nón lá sáng óng ánh của họ khom người xuống mặt đất, trong khi đạn pháo hú bay qua đầu họ. Ở cạnh đường số 4, con đường lúa gạo giữa Sài Gòn và vùng đồng bằng, có một đứa bé ngồi cười trên một con trâu và thả chiếc diều của nó bay lên, chính xác ở nơi mà ngày hôm qua đã có người bị bắn chết.

Cạnh Quốc lộ 1 giữa Huế và Quảng Trị ở phương bắc, con đường của kinh hoàng và chết chóc năm 1972, những người dân làng trở về xây thùng chứa nước và bếp nấu từ những vỏ đạn đại bác nằm xung quanh và xây giường ghế từ những thùng chứa đạn bị quẳng đi.

Lúa mới xanh tươi mọc cho tới tận rìa của vô số những cái mô đất nhỏ, mà xác người của trận đánh được chôn ở dưới đó. Chẳng bao lâu nữa nó cũng mọc vượt qua đó. Vì cuộc chiếc này, dù nó có tạo ra những vết thương nặng cho tới đâu, không đạt tới mức độ của sự tàn phá và hủy diệt toàn bộ, tới mức độ làm ngưng tất cả mọi thứ. Nó vẫn luôn là chiến tranh và hòa bình, vẫn là cuộc chiến xảy ra bên cạnh cuộc sống hàng ngày. Vì vậy mà nó kéo dài tới như vậy. Vì vậy mà người đứng đầu chính phủ Bắc Việt Phạm Văn Đồng thời đó có thể hỏi nhạo báng đáp trả một phóng viên của tờ New York Times: “Người Mỹ muốn chiến đấu lâu cho tới chừng nào? Một năm, hai, ba, năm, mười, hai mươi năm? Đó sẽ là một niềm vui cho chúng tôi.”

Nơi mà người Mỹ không có kiên nhẫn đã rút đi bây giờ chỉ còn người Việt ở lại với cuộc chiến riêng của họ. Không có chung lịch sử, không có sự phân đôi đơn giản về mặt địa lý như ở bán đảo Triều Tiên và không có tính khoan dung của Lào giúp họ. Cuộc chiến vẫn tiếp tục. Còn bao lâu nữa? Không ai biết.

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit (Thời báo), số 6 năm 1975: http://www.zeit.de/1975/06/der-tod-hat-uns-eingekreist/komplettansicht

 Đọc những bài báo về Chiến tranh Việt Nam ở trang Chiến tranh Việt Nam

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s