Vinh Quang của sự Phi Lý (8)

Tôi mặc quần áo vào và leo lên nhà hàng tại tầng thứ năm của khách sạn Majestic. Tầng này dành cho khách một tầm nhìn tuyệt diệu xuống sông Sài Gòn, và cái bến cảng rộn rịp đầy những chiếc tàu chiến, những thương thuyền cùng ghe tam bản và tàu đánh cá. Những chiếc bàn được sắp đặt một cách thanh lịch trong tiệm ăn đều trống trải, ngoại trừ có một cặp là người Mỹ, cao ốm, ăn mặc chỉnh tề và một phụ nữ Á châu trạc ngoài 30 tuổi nổi bật trong một chiếc áo sườn xám bó sát màu tím, màu tượng trưng cho sự xuất thân quyền quý. Họ vừa bắt đầu buổi ăn tối với một chai Dom Pérignon, loại sâm banh ngon nhất sẵn có ở Sài Gòn. Tôi chỉ quen biết sơ với họ. Anh ta là một đại tá thực thụ ở cạnh phòng tôi và cô ta là một thành viên của một gia đình nổi tiếng người Hoa đang làm việc với tư cách là thông dịch viên cho một cơ quan Hoa Kỳ trong thành phố. Giới phóng viên chúng tôi có dịp gặp cô ta trong những bữa tiệc ngoại giao và rất ngưỡng mộ không những sắc đẹp mà còn khâm phục tài năng ngoại ngữ của cô. Cô nói được tiếng Anh với một giọng Anh quốc chuẩn mực, nói tiếng Pháp trơn tru, tiếng Việt, tiếng Quảng Đông, Quan Thoại, chút tiếng Đức và chắc hẳn còn một ít ngôn ngữ khác nữa.

Khách sạn Majestic 1975
Khách sạn Majestic, 1975

Vì là hàng xóm của ông Đại tá, tôi cũng được biết họ là tình nhân với nhau, và phần nào thán phục sự sành điệu của ông ta đối với phụ nữ. Tôi bước đến bàn họ để chào.

“Đang ăn mừng hả?” Tôi hỏi.

“Đang ăn tối vĩnh biệt đây,” anh ta nói. “Tôi hết kỳ hạn rồi. Ngày mai tôi trở về Mỹ.”

Tôi chào tạm biệt và nói với cô bạn ông Đại tá: “Thế nào mình cũng sẽ gặp lại nhau tại văn phòng của bà, hay trong một buổi tiếp tân nào đó.” Cô ta gật đầu mỉm cười một với một vẽ buồn bã. Ai đó đã mách với tôi là ông Đại tá sắp trở về lại với vợ con ở Mỹ. Mặc dù vậy, ông ta và cô bạn người Hoa thật xứng đôi và là một cặp hết sức lịch lãm.

Nhà hàng Majestic nổi tiếng với quầy rau sống. Một đĩa khai vị, tiếp theo là phô mai ăn với bánh mì Pháp và một chai vang đỏ ướp lạnh Brouilly, loại Beaujolais ưa thích của tôi, là tất cả những gì tôi cần trong buổi tối nóng nực đó. Tôi chọn một cái bàn bên cạnh cửa sổ nhìn ra bờ sông. Bên dưới, phía bên phải, tôi nhận ra ánh đèn và tiếng cười nói từ quán Mỹ Cảnh, một nhà hàng nổi, danh tiếng với các món ăn Tàu và Việt Nam cùng với rượu Pháp loại mắc tiền. Bốn tháng sau, vào ngày 25 tháng 6 năm 1965 trong lúc tôi không có mặt ở Việt Nam, chốn hạnh phúc này đã trở thành tiêu đề cho tất cả các báo chí lớn chung quanh thế giới: hai quả bom định giờ do Việt Cộng đặt đã thổi tung nhà hàng Mỹ Cảnh lên khỏi mặt nước, giết chết 42 thực khách và người phục vụ cùng với 80 người khác bị thương. Trong số các nạn nhân, có 14 người Mỹ nhưng tất cả còn lại là người Việt Nam, kể cả đàn bà và trẻ em. Việt Cộng đã tuyên truyền và tự hào về hành động ghê tởm này. Đây là một lời nhắc nhở rõ nhất là cuộc xung đột tại Việt Nam đã đạt đến một cường độ của giai đoạn hai trong “Cuộc chiến giải phóng quốc gia” theo cuốn sách giáo khoa viết bởi Bộ trưởng Bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp, một cuốn sách gối đầu giường của các phóng viên có lòng tự trọng. Giai đoạn hai gồm chiến tranh du kích, khủng bố hăm dọa, và là khúc dạo đầu cho giai đoạn ba: chiến tranh quy ước với những trận đánh lớn mà tôi sẽ tường thuật vào cuối năm.

Tôi lên giường sớm và lập tức thiếp đi. Một tiếng hét đánh thức tôi dậy, một tiếng thét lớn, khủng khiếp và bất thường đến nổi ban đầu tôi không nghĩ đó là tiếng hét của con người nữa. Đèn trên đầu giường tôi bật sáng, và dưới chân giường anh “boy” đứng run rẩy. Trong tiếng lóng Pháp thời thuộc địa, boy có nghĩa là đứa hầu trai (anh bồi), trong khi boyesse là đứa hầu gái. Hiện tượng “đúng đắn về chính trị” (political correctness) chưa làm ô nhiễm lối nói chuyện của người Phương Tây lúc đó.

“Nhanh lên ông ơi,” anh boy la lên bằng tiếng Pháp. Gọi là boy nhưng thực tế đó là một người đàn ông trang nghiêm đã ngoài năm mươi. Tôi theo ông ta ra ngoài phòng. Trong thoáng mắt, tôi thấy một phụ nữ mảnh mai mặc đồ tím đang chạy xuống hành lang lờ mờ sáng. Mái tóc dài đen của nàng tung rối đàng sau lưng.

Vụ đánh bom nhà hàng Mỹ Cảnh
Vụ đánh bom nhà hàng Mỹ Cảnh

Cánh cửa phòng của ông Đại tá bên cạnh để hở. Tôi nghe thấy tiếng rên và một tiếng “cười” khúc khích đầy vẻ bối rối. Trên giường tôi thấy ông đại tá trên một vũng máu. Máu bắn lên tường, chảy xuống sàn nhà và còn đang phun lên cao từ vùng háng của ông ta. Máu nhuộm đẫm cả người boy Việt Nam được giao nhiệm vụ chăm sóc phòng của ông Đại tá. Anh ta đang cố cầm máu một cách tuyệt vọng bằng cách dùng nắm tay mặt đè chặt lên động mạch lưng của nạn nhân, miệng thì bật lên tiếng cười hoảng hốt. Cái cách cười với thanh âm cao độ mà một số người Á châu thường biểu lộ trong những lúc thảng thốt thường làm người Tây Phương không làm sao hiểu được. Sau này tôi được biết là có nhiều binh lính Hoa Kỳ đã hiểu lầm một cách đau lòng đây là biểu lộ một sự khiêu khích và đôi khi đã có những hậu quả bi thảm trong lúc đánh nhau. Không ai giải thích cho họ đó chỉ là một cố gắng để che giấu niềm kinh hãi, một dấu hiệu của sự bối rối mà thôi.

Ông Đại tá bây giờ đã bất tỉnh nhân sự. Bộ phận sinh dục của ông đặt bên cạnh cùng với một lưỡi dao cạo dài đã được dùng để cắt đứt nó từ tận cuống khiến chuyện cầm máu là vô ích.

“Anh đã gọi bác sĩ với xe cứu thương chưa?” Tôi hỏi anh hầu vừa rời khỏi phòng vài phút và nay đã quay trở lại.”

“Thưa rồi, nhưng phải mất một lúc nữa họ mới đến được. Ông hiểu đấy: giới nghiêm mà…”

“Còn người đàn bà thì sao?”

“Bà ta không trốn đi đâu được vì lệnh giới nghiêm. Bà đã bị chận lại ngoài cổng và an ninh chúng tôi đã bắt giữ rồi.”

Cho đến lúc bác sĩ và những người khiêng cáng đến, cùng với cảnh sát Việt Nam và quân cảnh Mỹ thì ông Đại tá đã chảy máu đến chết rồi. Một sỹ quan cảnh sát người Việt nói tiếng Pháp yêu cầu tôi trở về phòng và ở lại đó cho đến khi anh ta trở lại thăm tôi vào sáng hôm sau, lần này cùng với một đồng nghiệp khác. Cuộc thảo luận của chúng tôi hết sức ngắn gọn, rất chuyên nghiệp và được đánh dấu bởi những điều mà tôi cảm thấy đó là một biểu lộ đầy cảm xúc của tình nhân loại. Cuộc đối đáp đại khái đã diễn ra như sau:

“Thật là một sự kiện đầy bi thảm,” viên sĩ quan nói.

“Đúng vậy,” tôi bảo. “Họ dường như là một cặp đầy hạnh phúc.”

“Ông có quen với họ, đúng không?”

“Chỉ sơ giao thôi. Tôi có trao đổi với họ vài câu tối hôm qua trong nhà hàng.”

“Ông thấy bà ta là sao?”

“Có vẻ buồn lắm, rất buồn. Họ đang ăn bữa tối để chia tay.”

“Thật là tội nghiệp,” viên sĩ quan tiếp lời bằng tiếng Pháp. “Ông có biết tại sao bà ta hành động như vậy hay không? Bà có nói điều gì không? Vẻ mặt ra sao? Có thái độ gì lạ không? Ông là phóng viên chắc có thể nhận xét được một điều gì đó.”

Tôi lắc đầu. “Chịu thôi. Ghen tuông? Tôi không phải là người Việt Nam. Chuyện này có hay xảy ra đối với văn hóa các ông hay không.”

“Không hẳn như vậy,” viên sĩ quan trả lời, “chắc chắn không có chuyện đó trong môi trường của bà này. Bà ta dường như đã mất trí thình lình, nhưng tại sao? Chúng tôi vẫn luôn ngưỡng mộ sắc đẹp, lòng tự trọng và sự dịu dàng của bà ta.”

Khi viên sĩ quan và người đồng nghiệp ra về, tôi rất muốn ôm lấy cả hai vì lòng nhân bản của họ. Họ không phải là hai viên chức cảnh sát cứng rắn nữa mà là những người đàn ông hết sức đau buồn trước một hoàn cảnh mà họ cho là một thảm kịch riêng không thể nào dò biết được.

Sau này một người quen của tôi làm việc trong văn phòng công tố viện đã đưa ra một sự biện minh hữu lý cho hành động khó hiểu của cô ta. Cả hai đã lên giường và làm tình với nhau lần cuối. Sau đó thì ông đại tá đã vô tâm xoay lưng lại và ngủ thiếp đi, để mặc cho người tình một mình trong nỗi sầu khôn nguôi. Tòa án có vẻ chấp nhận lời khẳng định của cô là đã “thiến” tình nhân mình mà không có dự mưu gì cả và chỉ hành động nhất thời trong một giây phút bị tổn thương, dùng cái lưỡi dao cậu dâu của ông đại tá mới xài xong trước khi âu yếm cô.

Nếu tôi không lầm thì tòa án Sài Gòn đã gọi hành động của cô là một hành vi tội ác do đam mê và đã tuyên án cô mười lăm năm tù. Ba hay bốn năm sau cô được thả ra. Một người phụ nữ mảnh dẻ, hốc hác không son không phấn, trong bộ váy thật tầm thường đã đột ngột chận tôi lại trên con đường Tự Do: “Ông có biết tôi là ai không?”

“Chúa ơi, chuyện gì xảy ra cho bà vậy? Bọn nó ngược đãi bà trong tù hay sao?” Tôi hỏi.

“Hoàn toàn không có chuyện đó,” cô trả lời, “Mọi người đều tốt với tôi, kể cả cảnh sát, công tố viên, tòa án và nhân viên nhà giam. Ngày cả anh hầu khách sạn Majestic và một số người Mỹ cũng đã vào thăm tôi trong tù. Người mà ông đang thấy trước mặt là một phụ nữ khủng hoảng, u buồn và lòng đầy hối hận. Một người đàn bà đã lỡ giết người yêu quý nhất trên đời mà vẫn không hiểu tại sao,” cô nói và hòa mình vào dòng người đông đúc của giờ cao điểm trên đại lộ tấp nập nhất của Sài Gòn. Tôi không bao giờ gặp lại người phụ nữ lấy nữa.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (7)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (9)

Đọc những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

One thought on “Vinh Quang của sự Phi Lý (8)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s