Vinh Quang của sự Phi Lý (6)

Sáng sớm hôm sau đó có một đoàn xe nhỏ rời trại Mộc Hóa để đi Long Khốt. Tôi đi theo xe jeep của Trung uý Kenneth Crabtree thuộc Lực lượng Đặc biệt. Anh là một thanh niên khoảng chừng 24 tuổi, người gốc tiểu bang Colorado. Crabtree tự giới thiệu mình là cố vấn của Đại úy Ngữ. Tuy nhiên anh ta nhanh chóng cười vui vẻ thêm vào: “Thật là tức cười. Đại úy Ngữ gấp đôi tuổi tôi và kinh nghiệm hơn tôi cả trăm lần. Ông ta đã đánh nhau với Việt Minh từ thời là lính chuyên nghiệp trong quân đội Pháp. Trên thực tế ông là thầy và tôi là học trò của ông. Tuy nhiên chúng tôi đã trở thành bạn rất thân với nhau.”


Cabtree đưa cho tôi một khẩu súng lục Colt 0.45, chỉ cách mở chốt an toàn và nói: “Tôi biết phóng viên không mang vũ khí trong khu vực chiến tranh. Nhưng trong tình huống bị phục kích, anh phải tự bảo vệ lấy thân vì có thể tụi nó đông hơn mình nhiều.”

“Phục kích ở đây? Vùng này phẳng lỳ như tờ giấy, núp ở đâu được?” Tôi hỏi lại, vừa nhìn quanh quất quang cảnh đầy bụi bậm và khô ráo trong mùa khô.

“Anh sẽ ngạc nhiên đấy,” Captree trả lời. “Những người nông dân bên đường, mấy đứa trẻ đang cưỡi trâu kia kìa. Họ đều có thể là Việt Cộng, hay ít nhất là trinh sát của chúng nó. Tôi cảm thấy không an toàn cho đến khi nào vào được lãnh thổ của Đại úy Ngữ. Ông ta nắm vững được tình hình, ở đây thì không chắc ăn chút nào.”

Địa hạt của Đại úy Ngữ vào khoảng 80.000 mẫu tức 309 dặm vuông. Bộ chỉ huy và chỗ ở của ông là một căn biệt thự màu trắng xây theo kiểu tây thực dân chỉ cách biên giới Cambodia độ chừng 500 thước. Lúc đến gần, chúng tôi thấy hằng đoàn người Cambodia đang quẩy gánh mang ra chợ Long Khốt các loại trái cây, rau cỏ, cá, vải vóc, rượu dứa Trung Hoa và thuốc lá Gauloises của Pháp –  nhãn hiệu ưa thích của tôi lúc đó.

“Phần lớn là hàng buôn lậu đấy nhưng những chuyện này không lo,” Trung uý Crabtree nói. “Tụi tôi chỉ để ý những tên vượt biên giới vào ban đêm. Chúng mới là kẻ địch – bọn Việt cộng đấy. Cambodia thực sự là khu ẩn nấp của tụi nó, mặc dù Sihanouk có nói gì đi chăng nữa.”

Trở lại năm 1965,10 năm trước khi chế độ diệt chủng Khmer đỏ sát hại hai triệu người dân tức một phần ba dân số Cambodia, vương quốc này là một chốn thần tiên huyền hoặc. Đó là phần đất hòa bình cuối cùng của vùng Đông Dương thuộc Pháp cũ, là một quốc gia trung lập mà người cai trị, thái tử Norodom Sihanouk đã chứng tỏ được sự sáng suốt của mình trong nhiều lãnh vực: như là một chính khách, một biên đạo múa, một tài tử và đạo diễn điện ảnh, một nhà thơ, nhà phê bình văn học, một đầu bếp, một nhạc sĩ saxo, nhạc sĩ dương cầm, nhạc sĩ phong cầm và nhà soạn nhạc hòa tấu gợi nhớ đến giai điệu lãng mạn của Charlie Chaplin. Nhưng có một điều mà ông ta thiếu sót: đó là sức mạnh quân sự. Đội ngũ 34.000 người của ông không kiểm soát nổi khu vực phía Đông của Cambodia mà Việt Cộng đã sử dụng làm nơi trú ẩn an toàn và cơ sở hậu cần. Ngay từ 1965, tôi đã thấy Việt Cộng vượt biên giới qua lại như chỗ không người. Để đối phó lại thì Đại úy Ngữ, một tay chi khu trưởng Việt Nam Cộng Hòa tầm thường, đã cài được người ở phía bên kia biên giới để mật báo về khi nào bọn Việt Cộng di chuyển và chuyên chở những thứ gì. Đây là trường hợp xảy ra trong ngày tôi gặp ông ta.

Lúc tôi và Trung uý Crabtree bước vào văn phòng thì Đại úy Ngữ còn đang mặc quần đùi và áo thun.

Đứng trước một tấm bản đồ lớn, Ngữ nói, vừa hào hứng chỉ vào một điểm bên kia biên giới chỉ cách nhà ông chưa tới một dặm: “Đây này, chúng ở đây này. Người của tôi đã khám phá ra cả một đại đội Cộng quân với 2000 bao gạo. Điều này chứng tỏ chúng đang sửa soạn di hành xa. Để mình sẽ chào mừng tụi nó bằng pháo bông. Tôi đã báo động bên BTT rồi.”

BTT là ký hiệu quân sự của Bình Thành Thôn, một căn cứ gần đó, nơi đồn trú của hai đại đội Việt Nam Cộng Hòa (ARVN) và toán Lực Lượng Đặc Biệt A-413 gồm 12 sĩ quan và hạ sĩ quan. Họ có đủ hỏa lực để chận đứng Việt Cộng xâm nhập.

Hầu hết những người đàn ông Việt Nam tôi quen đều nói với một giọng mũi khá cao, nhưng Ngữ thì không như vậy. Ông có một giọng trầm, khàn như Jean Gabin, có lẽ được thừa hưởng từ nhiều năm phục vụ trong quân đội Pháp mà đa số là nhiệm vụ chiến đấu.

Đại úy Ngữ mặc quân phục vào để dắt tôi đi thăm chi khu nhưng trước đó ra hiệu cho tôi ngó kỹ vào tấm bản đồ:

“Chúng tôi có 10.295 cư dân và trong đó có 6834 người sống trong vùng tôi kiểm soát. Phần còn lại sống dưới chế độ cộng sản. Tuy nhiên nó đã khác rất nhiều so với năm năm trước khi tôi về đây. Lúc đó bọn cộng sản nắm hơn hai phần ba dân số trong chi khu này.”

“Cái gì đã làm thay đổi điều đó?” Tôi tò mò muốn biết.

Đại úy Ngữ chỉ vào 13 khu định cư. “Lấy mấy cái ấp chiến lược này làm thí dụ nhé. Đây là những chỗ chúng tôi đưa dân về theo kiểu người Anh đã làm tại Mã Lai Á khi ông Robert Thompson còn ở đó.”

Trước khi dẫn tôi đi chung quanh bằng chiếc tàu đổ bộ của quân đội Hoa Kỳ đang đậu neo ngay sát  căn nhà ông bên một nhánh của dòng sông Cửu Long, Đại uý Ngữ bắt đầu giở một trong những trò đùa thực tế của ông, có lẽ để nắn gân tôi. Chúng tôi ghé vào một tiệm tạp hóa, giả tảng là để mua một ít vật dụng. Vừa vào tới cửa thì một con trăn to từ đàng sau quầy bò ra quấn vào người tôi và đặt cái đầu của nó trên vai phải tôi. Mọi người phá ra cười, Ngữ, Craptree, chủ quán, cả nhà và khách chung quanh nữa.

Tôi liếc nhìn khẩu Colt 0.45 trong bao của Trung uý Crabtree, tự nhủ có thể nào chụp lấy bằng tay trái và nổ vào đầu con trăn nếu nó định quấn chặt tôi thêm hay không. Nhưng tôi nhấc không nổi cánh tay vì con trăn trói chặt quá. May thay con vật to lớn này thôi không siết tôi nữa mà bò về chỗ cũ đàng sau cái quầy sau khi thấy chủ nhân ra hiệu.

“Thế đó, ông bạn, điều này chứng tỏ chúng tôi biết làm thế nào để duy trì an ninh tại đây.” Ngữ cười lớn. “Đố thằng trộm nào lẻn được vào đây ban đêm. Nếu dám làm như vậy, nó sẽ bị con trăn này bóp cổ và luộc sống ngay. Nhìn đây nè, còn một con nữa sau quầy nè. Con này còn nhỏ nhưng chẳng mấy chốc sẽ sẵn sàng để hành động.”

Sau vụ đó thì chúng tôi lên đường đi thăm vài ấp chiến lược của Đại úy Ngữ bằng tàu thủy.

“Tại sao anh không mang súng theo?” Tôi hỏi ông ta.

“Người Pháp đã dạy tôi là một người lịch sự phải bỏ súng ra khi vào nhà riêng của một người khác.”

“Nhưng…?”

“Không có nhưng gì hết. Những ngôi làng này là cơ ngơi riêng của dân. Do đó tôi không được phép mang vũ khí vào nhà họ. Mọi người rất trân trọng điều này.”

Lẫn trong tiếng động cơ nổ dòn của chiếc tàu, Đại úy Ngữ chỉ cho tôi ba ngôi làng trên tấm bản đồ: “Trong ngôi làng này, một phần ba dân là thân cộng. Cái này thì chỉ có ba tên, còn cái làng kia gần đó thì chỉ còn có hai tên theo Việt Cộng thôi.”

“Sir Robert Thompson cho là cán bộ nằm vùng trong làng còn quan trọng hơn là du kích quân Việt Cộng trong rừng,” tôi nói.

“Ông Thompson nói đúng phóc. Nhưng tôi biết hết bọn cán bộ nằm vùng ở đây. Tôi biết từng tên một làm chúng không làm ăn gì được. Dĩ nhiên tôi có thể tóm cổ chúng,” Ngữ nói. “Nhưng để làm gì? Cứ mặc kệ bọn nó lại còn theo dõi được hoạt động của kẻ địch, ai là liên lạc viên và chúng định giở trò gì. Tôi còn biết cả tên của hai tên Việt Cộng đang nằm vùng trong một đại đội VNCH ở BTT. Nhưng chúng tôi để yên tụi nó. Thực tế bọn nó đang giúp chúng tôi mà không biết. Một mạng lưới chỉ điểm chặt chẽ là một trong những yếu tố quan trọng nhất để việc chống những cuộc nổi dậy được thành công và tôi đang có một mạng lưới tay chân có hiệu quả như vậy.”

Chúng tôi vào một trong những ấp chiến lược và đến thẳng trạm y tế mới toanh trong một chòi đất. Thượng sĩ William Nichols, tay y tá thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi chung với chúng tôi lập tức bắt tay vào việc cùng với một anh y tá quân đội Việt Nam. Họ phát thuốc, chích thuốc, săn sóc phụ nữ mang thai, băng bó vết thương, khám phổi với ống nghe, và cố gắng an ủi một ông lão bị lao phổi nặng.

“Nichols này giỏi lắm,” Trung uý Crabtree nhận xét. “Tôi đã từng thấy hắn mổ cả những trường hợp khó khăn nữa.”

Chúng tôi ra ngoài và tôi sửng sốt thấy nhiều người đàn ông mặc đồ đen mang súng trường M-1 đứng đầy trong làng.

“Trời đất ơi, đại úy,” tôi thốt lên. “Việt Cộng không hà!”

“Bình tĩnh lại,” Ngữ thản nhiên trả lời. “Không sao đâu, đây là người của tôi. Họ trông giống Việt Cộng đấy nhưng là lực lượng nhân dân tự vệ. Họ sống chung với gia đình ở đây. Nhiệm vụ của họ là bảo vệ xóm làng, nhất là vào ban đêm để đừng bị rơi vào tay Việt Cộng lúc trời tối. Khi cần thiết, họ sẽ được tăng cường yểm trợ nhanh chóng từ những đơn vị đang đóng ở BBT.”

“Như vậy họ là một thành phần quan trọng cho chương trình chống nổi dậy à?”

“Đúng vậy. Nhìn bề ngoài tưởng không quan trọng nhưng trên thực tế họ rất hiệu quả. Chúng ta phải đánh cuộc chiến này theo lối của Việt Cộng làm. Thật là ngu nếu phải đánh nhau với những phương cách quy ước, mà càng ngày càng có nhiều người cứ muốn làm như vậy. Chiến tranh quy ước không mang lại cảm giác an toàn cần thiết cho người dân. Cách của chúng tôi tốt hơn, ông thấy đấy.”

Trên đường trở về Long Khốt, Ngữ nói với tôi với vẻ mặt bí ẩn: “Anh là người Đức, anh thích ăn thịt ngỗng, đúng không? Tôi từng có nhiều bạn bè người Đức trong đội lính Lê Dương, thằng nào cũng thích thịt ngỗng cả.”

“Vâng,” tôi vội đáp lời, “chúng tôi ai cũng thích hết, nhất là vào dịp Giáng Sinh: ngỗng quay ăn với cải đỏ và bánh khoai tây. Một món ăn khoái khẩu mùa đông, nhưng tôi nghĩ sẽ không thích hợp cho khí hậu nhiệt đới ở đây.”

“Tối nay sẽ có món thịt ngỗng lạnh trộn xà lách,” Ngữ tuyên bố với vẻ mặt tinh quái.

Tôi lại phải sửa soạn cho một trò đùa thực tế nữa rồi. Khi chiều xuống, chúng tôi ngồi trước một bàn ăn phủ một tấm vải trắng bên cạnh các cánh cửa kiểu Pháp dẫn ra khu vườn của nhà Đại úy Ngữ. Có một con khỉ bị xích lại cứ nhảy tưng tưng qua lại trong nhà ra cái cây ngoài vườn. Bà vợ Đại úy Ngữ tiếp cho chúng tôi rượu Beaujolais trong những hộp thiếc, có lẽ mua từ những tay buôn lậu Cambodia.

Một người làm dọn lên một tô thuỷ tinh chứa đầy một chất lỏng màu đỏ trong đó có lẫn những miếng thịt bầy nhầy.

“Thịt ngỗng nè,” Ngữ cười vang lên. Gỏi ngỗng tươi. Ngon lắm.”

Tôi thật tình không biết có phải là thịt ngỗng không, hay lại bị anh chàng Ngữ cho vào tròng. Tuy nhiên tôi cũng múc một ít vào đĩa và độn vào một đống cơm với ý định chỉ ăn một chút phần trên thôi. Nhưng cái chất lỏng màu đỏ từ từ thấm ra khỏi đống cơm và đúng lúc đó con khỉ đu vào trong phòng ăn và hạ cánh chễm chệ trên đầu tôi.

Tôi nhìn vào đĩa cơm đẫm màu máu trong khi con khỉ nắm tóc tôi. Mọi người cười vật vã ra và đột nhiên tôi cảm thấy muốn bệnh. Ngữ chỉ cho tôi đến phòng vệ sinh. Tôi tìm không ra công tác bật đèn nhưng đoán đây chắc là loại nhà vệ sinh ngồi xổm kiểu Pháp mà tôi biết. Tôi bước lên hai cái bệ mà tôi cho là bệ nhà cầu để đi tiểu, và nôn thốc tháo về cái hướng mà tôi đoán là cái lỗ cầu tiêu.

Bỗng nhiên mặt đất dưới chân tôi bắt đầu di chuyển, đưa hai bàn chân tôi dạn ra càng lúc càng xa hơn. Tôi tìm ra cái bật lửa Zippo và nhận ra là tôi đang đứng trên hai con rùa khổng lồ đang cố bò thật nhanh đến hai con khác. Đã đến lúc phải về thôi. Vả lại, tối hôm đó tôi dự định tháp tùng Trung uý Crabtree và toán hỗn hợp quân lính Việt và Mỹ trong một cuộc hành quân ngăn chặn Việt Cộng xâm nhập. Do đó tôi từ giã Đại uý Ngữ và bà vợ anh ta.

“Hẹn gặp ngày mai để anh nhảy dù nhé.”

Tôi, nhảy dù? Lại giỡn chơi nữa hay sao?

Đêm hôm đó, Trung uý Crabtree và tôi nằm sấp trong một cái mùng cách biên giới 200 thước, mắt nhìn chằm chằm vào bóng đêm. Chẳng thấy ai tới cả. Tuy nhiên một chốc sau, có lẽ khoảng nửa dặm về phía tay mặt của chúng tôi, trời đất bỗng nổi cơn thịnh nộ. Tiếng súng nhỏ, súng liên thanh, tiếng bích kích pháo nổ rền trời. Tôi thấy trời đêm rực sáng lên.

“Phe ta chắc đang đột kích tụi đại đội Việt Cộng với 2000 bao gạo mà Đại úy Ngữ đã nói tới,” Crabtree nói.

Sáng hôm sau chúng tôi lái xe đến Bình Thành Thôn. Một chiếc Caribou của quân đội Hoa Kỳ vừa đáp xuống cái phi đạo đất để cho các sĩ quan và binh lính Lực Lượng Đặc Biệt nhảy dù bồi dưỡng nhằm tiếp tục được đeo huy hiệu Dù. Đại úy Ngữ đã có mặt sẵn tại đó, miệng cười toe toét. Phi hành đoàn lập tức đeo một cái túi dù trên lưng tôi. Tôi không dám phản đối. Tôi chưa bao giờ nhảy dù trong đời tôi nhưng không muốn bị mất mặt với Đại úy Ngữ. Vả lại theo như lời Crabtree kể rằng, anh ta là một người hùng mà. Thời gian đó, tôi hết sức ngông cuồng, tuổi thì trẻ và rất dẻo dai, chỉ nặng chưa tới 70 cân, lại không có gió mạnh nữa. Tôi tự nhủ chẳng có gì mà lo lắng cả.

Điều tiếp theo tôi biết là chúng tôi đã bay lên trời rồi. Tôi đứng dậy theo mọi người và làm theo họ; móc dù vào sợi dây cáp phía trên. Tôi nghe người phụ trách nhảy dù hô toáng lên. Mọi người nhanh chóng nhảy ra theo từng đợt từ phía sau chiếc Caribou. Tôi chưa kịp suy nghĩ bao giờ đến phiên mình thì đã bay ra ngoài chiếc máy bay và rơi xuống rồi. Chiếc dù mở ra như dự tính. Có ai đó đã từng mách với tôi là khi nhảy dù chạm mặt đất thì phải lăn mình ra phía trước. Tôi làm y như vậy. Thế là xong. Tôi còn sống sót và toàn mạng. Chúng tôi rơi xuống một cánh đồng khô ráo. Tôi cuốn dù lại với sự giúp đỡ của một anh lính và đi theo những người khác đến một trạm nghỉ chân.

Bỗng nhiên mặt đất dưới chân tôi sụp xuống. Tôi vội vàng nhảy qua một bên. Chỗ tôi vừa đứng lại trồi lên lại. Tôi dùng hết sức mình nhảy mạnh lên chỗ đó và nghe thấy một tiếng rên. Tôi lại bước qua một bên, hiểu ra là có ai đó đang núp bên dưới. Tôi cẩn thận moi đất chung quanh để lộ ra một cái nón cối ngụy trang, cái kiểu mà lính Việt Cộng hay đội vậy. Tiếp theo là tôi thấy một mũi súng thò ra. Tôi cẩn thận nắm lấy ngay và kéo nó ra khỏi mặt đất. Đó là một khẩu M-1 cổ lỗ sĩ từ thời  Đệ Nhị Thế Chiến. Tôi gọi một anh Lực Lượng Đặc Biệt lại và hè nhau lôi ra một gã ốm yếu, trạc tuổi trung niên và mặc toàn đồ đen. Hắn đứng run lẩy bẩy.

“Can đảm lên đồng chí, đối với anh cuộc chiến đã chấm dứt rồi,” tôi nói với hắn bằng tiếng Pháp. Anh ta nhìn tôi nhăn nhó.

Những người Mỹ giữ khẩu súng và trao tù binh cho các sĩ quan VNCH. Tôi giữ lại cái nón cối làm kỷ niệm. Nó nằm hàng chục năm trời trên một cái kệ đàng sau bàn giấy trong thư viện ngôi nhà tôi tại Pháp. Tôi thường ngắm cái vật đó và tư lự: Đại úy Ngữ, bây giờ anh đang ở đâu? Anh quả là một người hùng, một người cương trực với tính khôi hài dữ tợn. Đâu rồi những con trăn, con khỉ, đĩa xà lách ngỗng tươi và những con rùa khổng lồ của anh? Anh có sống sót nổi qua những trận đánh ác liệt những năm sau đó đã lan vào Long Khốt và chi khu của anh không? Anh có còn sống không sao chiến thắng của Cộng Quân năm 1975? Liệu bọn Cộng sản có thắng nổi nếu lý thuyết của Sir Robert Thompson và của anh đã thành công?

Vâng, anh là một người tốt. Một người thật giỏi. Chương này đã được viết ra để vinh danh anh, và những người muốn tỏ lòng tôn kính anh có thể đến Viện Bảo tàng Chiến tranh Việt Nam tại Garden Grove, California. Đó là nơi mà chiến tích của tôi, cái nón cối của gã Việt Cộng mà tôi đã bắt được sau chuyến viếng thăm anh đã tìm được chốn dung thân cuối cùng.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (5)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (7)

Đọc những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (6)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s