Vinh Quang của sự Phi Lý (5)

Chương ba

Tôn vinh Đại úy Ngữ

Tôi chỉ gặp được Sir Robert G.K. Thompson một lần ngắn ngủi trong những năm tôi sống ở Việt Nam. Cuộc gặp gỡ xảy ra vài tuần lễ trước khi phái bộ cố vấn Anh Quốc do ông cầm đầu hết nhiệm vụ vào năm 1965 và Sir Robert, chuyên viên có uy tín nhất thế giới về chiến tranh chống du kích phải từ giã Sài Gòn. Một phóng viên người Anh đã giới thiệu tôi với ông. Tôi rất thắc mắc về niềm tin vững chắc của Sir Robert khi ông cho rằng hỏa lực hùng hậu, ưu thế về nhân sự và trang thiết bị tối tân hoàn toàn không hiệu quả bằng lòng quyết tâm đón nhận và đánh bại đối phương bằng chính những phương tiện của họ.

Lính Mũ Nồi Xanh
Lính Mũ Nồi Xanh

Chiến lược này đã được người Anh áp dụng thành công tại Mã Lai Á. Một trong những khía cạnh bi thảm của cái mà tôi mệnh danh là “Hí viện của sự phi lý” là Sir Robert không thuyết phục được những tay trí thức sa-lông trong các chính quyền của Kennedy cũng như Johnson tại Washington. Theo tờ Times của London, “[Sir Robert] Nghĩ rằng thành phần cán bộ nằm vùng quan trọng hơn quân du kích trong rừng rậm và phải là mục tiêu ưu tiên để tấn công trước. Các lực lượng cảnh sát và tổ chức tình báo hữu hiệu (hoặc yếu kém) là những yếu tố quyết định. Các binh sĩ, nhân viên cảnh sát và nhân viên chính phủ phải hoạt động trong phạm vi luật pháp cho phép. Ngoài ra, viện trợ phát triển chỉ có hiệu quả nếu xây dựng được một nông thôn lớn mạnh với những người có khả năng điều hành giỏi, thay vì bị hoang phí đi trong những công trình có tính phô trương chắc chắn sẽ sụp đổ một khi nguồn tài trợ để duy trì chúng từ bên ngoài bị cạn đi.

Khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc vào năm 1975, Sir Robert Thompson tuyên bố: “Người Mỹ không bao giờ có thể nhận thức được Việt Nam trong bối cảnh Mã Lai Á vì họ không có lòng nhẫn nại cho loại chiến tranh như vậy.”

Đã có quá nhiều tác giả từng nhấn mạnh về sự khác biệt giữa những đề nghị của Thompson và chiến lược quân sự ồn ào của Hoa Kỳ nhằm mau chóng tìm kết quả. Đó không phải là mục đích của cuốn sách này cũng như không thuộc khả năng của tôi nhằm xét xử những vấn đề có tính cách chiến lược như vậy. Đây chỉ là câu chuyện của một phóng viên luôn khát khao tìm hiểu và đã có cơ may được giải đáp trí tò mò: tôi muốn biết chiến lược của Sir Robert Thompson đã thành công như thế nào sau bốn năm liên tiếp làm cố vấn cho chính quyền Sài Gòn. Do đó, tôi chụp ngay cơ hội này.

Tôi hỏi Sir Robert Thompson có thể chỉ cho tôi một nơi nào mà khái niệm chiến lược tát nước bắt cá của ông đã thành công không? Nói cách khác, có một vùng nào đã được ổn định sau các cuộc hành quân, ngăn ngừa được kẻ địch không trở lại, và chính quyền đã giành lại được lòng dân như là một hệ quả tất yếu?

Một thành viên trong đội ngũ nhân sự của ông đề nghị tôi hãy ghé thăm địa danh Long Khốt gần biên giới Cambodia. Long Khốt là một ngôi làng bụi bặm của chi khu Tuyên Bình, thủ phủ của một quận cùng tên với chỉ huy trưởng là Đại uý Ngữ. Tôi đã thích ngay người sĩ quan đầy cá tính này, một người từng trải, dũng cảm và dẻo dai nhưng lại có một tính tình khôi hài rất thực tế. Ông ta cũng là một người đầy mưu lược về quân sự và thích mang tôi ra làm trò đùa với những con thú ngoại lai kỳ quái.

Tuy nhiên, đến được chỗ của Đại úy Ngữ không phải là dễ mặc dù Long Khốt chỉ cách Sài Gòn có 150 dặm về hướng Tây. Đường bộ đến Long Khốt rất nguy hiểm và hằng ngày có quá nhiều vụ du kích tấn công dọc theo con lộ chạy quanh co đến đó. Với tư cách một biên tập viên chính thức tôi được phép bay bằng máy bay quân sự tới hầu hết bất cứ chỗ nào trong miền Nam Việt Nam miễn là còn chỗ. Nhưng các phóng viên thường được mang cấp bậc quân sự đồng hóa với cấp thiếu tá hoặc trung tá nên có khá nhiều ưu tiên. Vả lại một chỗ ngồi trên máy bay dạo đó chưa đến nỗi khó khăn như vài tháng sau này khi chiến sự lan rộng hơn. Vào đầu năm 1965 khi tôi đi thăm đại úy Ngữ mới chỉ có 27.000 lính Mỹ đồn trú tại miền Nam Việt Nam và trong số đó gần 4000 là cố vấn, phi công, phi hành đoàn trực thăng và nhân sự tiếp vận. Số còn lại thì sống thoải mái ở Sài Gòn, được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” hoặc “Paris của Phương Đông”.

Tương tự, lực lượng báo chí Sài Gòn khi đó cũng còn khá ít. Vì vậy, quân đội Mỹ đối xử với chúng tôi rất hào phóng, đưa đón chúng tôi cẩn thận bằng xe cơ quan từ khách sạn đến phi trường Tân Sơn Nhứt. Tuy nhiên đến đó thì niềm diễm phúc thường bị đứt đoạn vì thủ tục hành chánh quân sự rườm rà tiếp nối theo, đặc biệt là những luật lệ theo kiểu tùy tiện; đúng như phương châm “nhanh lên rồi chờ đó”.

Vào lúc 3 giờ sáng, một chiếc xe hơi bốn cửa có gắn máy lạnh của không lực Hoa Kỳ (USAF) đến đón tôi trước cửa khách sạn Majestic sang trọng, nơi tôi sống trong những tuần lễ đầu tiên tại Việt Nam để đưa tôi đến trạm máy bay quân sự 20 phút sau. Tuy nhiên, trong suốt 11 tiếng đồng hồ sau đó, tôi đã phải ngồi chờ dưới sàn nhà để đón chuyến bay 7 giờ rưỡi sáng bị hoãn đi hoãn lại nhiều lần. Nóng quá, tôi đổ tháo mồ hôi và đói vã cả người. Có ai đó đưa cho tôi một khẩu phần chiến đấu, thường được gọi là “C Rats”, và tôi ăn hết một hộp xúc xích nấu đậu, một món chẳng thích họp chút nào trong vùng nhiệt đới.

Cuối cùng thì chiếc máy bay tôi đi cũng xuất hiện. Bay đến Mỹ Tho trong vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ mất có 20 phút đồng hồ, nhưng cũng đủ để gây trong tôi sự ác cảm với chiếc vận tải cơ C-123 Provider cổ lỗ sĩ đang là phương tiện di chuyển chính của không lực Hoa Kỳ trong thời gian đầu của cuộc chiến. Chiếc máy bay này lúc nào cũng run lên bần bật, lạng qua lạng lại và thực sự là một phòng tra tấn trên không vô cùng hiệu quả với hai cái động cơ điếc cả tai. Vì vậy khi đến Mỹ Tho, tôi thật sung sướng khi được chuyển qua một chiếc Caribou, nhẹ, êm và nhỏ hơn một chút của quân đội Hoa Kỳ do Úc sản xuất với động cơ phản lực cánh quạt. Tuy nhiên nó chỉ đưa tôi đến được Mộc Hóa mà không xa hơn nữa. Trời chiều đã đổ xuống. Thật là liều lĩnh nếu lúc này phải đón một đoàn xe quân sự nhỏ để bắt đầu một chuyến đi dài ba tiếng đồng hồ đến Tuyên Bình bằng đường bộ. Đại úy Ngữ phải chờ thôi.

Hóa ra lại may mắn cho tôi khi buổi tối bị mắc kẹt tại Mộc Hóa. Tại đây có toán B-41 thuộc Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ đang đồn trú. Lực lượng Đặc biệt, hay Mũ Nồi Xanh đóng một vai trò rất quan trọng trong nỗ lực chống du kích mà tôi đang nghiên cứu, bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với Sir Robert Thompson. Các nhân viên tình báo Pháp cùng với các nhóm tình báo Mỹ, Úc và Việt Nam, thường xuyên gặp gỡ nhau tại “hang động của điệp viên”, nơi mà giới báo chí chúng tôi đặt tên cho cái quán rượu Cheval Blanc trong một con hẻm chật hẹp tại Sài Gòn, đã hết lời ca tụng các chiến sĩ Mũ Nồi Xanh này: “Ba Mũ Nồi Xanh còn giá trị hơn cả một đại đội bộ binh,” họ thường nói như vậy.

Những tay tình báo Pháp này so sánh họ giống như lính nhảy dù trong đoàn quân Lê Dương Pháp qua tính cách chuyên nghiệp, trang thiết bị và thành phần “quốc tế” của họ. Họ cũng đội mũ nồi xanh như vậy. Hơn 35000 lính Lê Dương, trong đó có 70 % là người Đức đã chiến đấu trong cuộc chiến Đông Dương vừa qua; đất Việt Nam đã đẫm máu của 10.483 người lính đánh thuê này, trong đó một nửa là người Đức, thường là cựu chiến binh của quân đội Đức Wehrmacht trong Thế Chiến Thứ Hai.

Xét trên nhiều khía cạnh, lực lượng đặc biệt tại Mộc Hóa khá giống lực lượng tinh nhuệ Pháp nói trên. Họ cũng là lính nhảy dù và cũng đại diện cho tầng lớp tinh hoa của lính ngoại quốc phục vụ cho Hoa Kỳ. Đầu tiên là đại uý Sully H. de Fontaine, một quý tộc gốc Bỉ. Anh ta đã trở thành một trong những sĩ quan chống du kích nổi tiếng nhất của chiến trường này. Sau đó có hai người gốc Đức là các thượng sĩ Hans Koch và Walter Rübel. Sau này trong cuộc chiến, tôi gặp lại nhiều đồng hương tương tự trong các sắc phục quân đội Hoa Kỳ, Úc và Tân Tây Lan. Một số trong họ là lính bộ binh, hạ sĩ quan, đại đội trưởng, hoặc là phi công trực thăng và chiến đấu cơ. Khi tôi viết về toán biệt phái B-41 trên tờ nhật báo Đức Die Welt, tôi đã so sánh họ như một tổ chức Liên Hiệp Quốc thu nhỏ. Ngoài những người gốc Âu châu, tôi đã gặp cả người Phi Luật Tân và Mỹ châu La tinh, người gốc Cambodia và đặc biệt là người bộ lạc Nùng. Họ là một dân tộc thiểu số thượng du Bắc Việt nhưng có nguồn gốc từ Trung Hoa và nổi tiếng về khả năng truy lùng Việt Cộng một cách hung hãn bất kỳ nơi nào, đặc biệt là trong rừng rậm.

Buổi tối trong trại lực lượng đặc biệt đã mang lại cho tôi một nguồn tin tức hết sức phong phú. Sau vài chầu rượu ngon tôi đã được nghe kể lần đầu tiên các chi tiết về một trong những công tác nguy hiểm và hiệu quả nhất mà sau này biến thành chiến dịch Phụng Hoàng của CIA đầy tranh cãi. Đặc trưng là các kĩ thuật ám sát cán bộ Cộng sản trong lúc họ đang ngủ trong các ổ trú ẩn ban đêm. Khi nắm được tin tình báo cung cấp bởi người địa phương, một yếu tố quyết định trong nỗ lực chống du kích, từng đơn vị nhỏ lực lượng đặc biệt không quá một chục mạng sẽ lẫn vào trong rừng hàng tuần lễ mỗi lần như vậy. Trang bị với một món đồ nghề gồm một sợi dây kẽm gắn vào hai đầu tay cầm bằng gỗ, họ lẻn vào lều của cán bộ Việt Cộng chỉ huy, vòng sợi dây kẽm quanh cổ nạn nhân đang ngủ, giựt mạnh và thế là cắt đầu kẻ địch.

Khi những hoạt động bí mật này, sau này được tiếp nối bởi nhân viên tình báo CIA, bị lộ ra ngoài vào cuối thập niên 1960, thì dân Mỹ và phong trào hòa bình thế giới đã phản ứng rất dữ dội. Nhiều buổi điều trần trước Quốc hội đã được triệu tập và hàng loạt những bài xã luận đã được viết ra để lên án hành động đó. Là một trong những người đã trải qua một số năm thời thơ ấu trong những hầm trú ẩn để tránh bom Anh và Mỹ, tôi cảm thấy sự kích động này ồn ào và không trung thực. Phải chi quân Đồng Minh đã tìm ra cách thức tương tự để loại trừ cho thế giới những quan to Đức Quốc Xã, các quan chức độc ác địa phương, mật thám Gestapo và sĩ quan SS, thì có lẽ rất nhiều mạng sống thường dân đã được cứu vớt rồi.

Các ký giả thuộc trường phái cũ được những quân nhân chuyên nghiệp rất tin tưởng vì họ luôn luôn hành động theo một nguyên tắc sắt đá là không bao giờ để lộ nguồn tin tức đã thu thập được. Giữ bí mật là một đức tính của người phóng viên tương tự như khả năng tìm bới tin tức vậy. Đây là lý do tôi chưa bao giờ viết về chuyện này mãi cho đến bây giờ, mặc dù tôi đã được nghe rất nhiều chi tiết sốt dẻo đêm hôm đó. Chẳng hạn tôi được kể là nếu muốn đi theo một toán công tác như vậy thì phải chuẩn bị cho bản thân mình ít nhất là ba tuần lễ trước đó: không hút thuốc lá, không uống sữa, không dùng nước hoa cạo râu hay thuốc khử mùi. Tại sao không được ăn bơ hay uống sữa? Tôi tự hỏi. Những tay Mũ Nồi Xanh giải thích tại vì bọn Việt cộng rất thính mũi, chúng có thể đánh hơi được mùi khai từ cơ thể tiết ra khi tiêu thụ các thức ăn có sữa. Mùi này có thể tồn tại nhiều ngày trong bầu không khí bí đọng của tàn cây dầy bốn tầng trong rừng sau khi một người Phương Tây đã nhổ trại vài tiếng đồng hồ hay có khi cả vài ngày trước đó. Điều này sẽ tiết lộ sự hiện diện của họ đối với những tay Việt Cộng dày dạn kinh nghiệm và có thể nói trên thực tế là họ có thể “đánh hơi” ra bạn.

Tuy nhiên tôi không phải hy sinh bơ sữa hay bỏ thuốc lá mãi cho đến khoảng một chục năm sau, bởi vì không có gì vô lý hơn trên phương diện nghề nghiệp là phải tháp tùng một chuyến đi công tác đầy nguy hiểm mà lại không có quyền tường thuật lại.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (4)

Đọc bài kế tiếp: Vinh Quang của sự Phi Lý (6)

Đọc những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (5)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s