“Những đứa con ngỗ nghịch trong ngôi vườn của Trung Quốc”

Hình bìa báo Der Spiegel số 9 năm 1979
Hình bìa báo Der Spiegel số 9 năm 1979

Trung Quốc tấn công Việt Nam, Xô viết đe dọa Trung Quốc – sau ba cuộc Chiến tranh Đông Dương, cuộc chiến thứ tư, có lẽ là cuộc chiến nguy hiểm nhất, đang hiện hình. Cường quốc mới Trung Quốc muốn chứng tỏ cho thế giới biết rằng họ dám bước ra chống lại tử thù Liên bang Xô viết của họ. Mạo hiểm có tính toán trước của những người cộng sản?

Vào giữa tháng Hai, mây đen bao phủ trên vùng biên giới Việt-Trung. Vì vậy mà vệ tinh trên trời của Mỹ, trước sau thì cũng đã ít có mặt trên khu vực không còn được cho là quan trọng, không thể nhận biết những gì đang xảy ra trên mặt đất.

Cả liên lạc vô tuyến cũng không cho thấy điều gì bất thường. Con số ít ỏi của những gì mà các trạm nghe lén của Mỹ thu thập được trên thực tế là vô giá trị. Hẳn là người Mỹ đã cân nhắc việc gửi một con tàu gián điệp vào Vịnh Bắc Bộ, nhưng lại không thực hiện để tránh mọi rủi ro: đã có quá nhiều tàu thủy Xô viết đang đi lại ở đó.

Vì vậy mà thế lực quân sự mạnh nhất thế giới lại bất ngờ thêm một lần nữa, khi tấm màn sân khấu được kéo lên trước một khung cảnh quen thuộc đối với họ, cho một tấn kịch chiến tranh hoàn toàn mới vào ngày 17 tháng Hai 1979: vào lúc 4 giờ 30, ba đạo quân Trung Quốc, có lẽ là 160000 người, bắt đầu tấn công sang Việt Nam trên toàn bộ biên giới dài 700 kilômét.

Chỉ bốn năm sau khi cuộc Chiến tranh Đông Dương kéo bài 30 năm chấm dứt, địa danh Việt Nam lại được nhắc tới trên báo chí thế giới, những địch thủ mới lại chiến đấu chống lại nhau trong rừng rậm Viễn Ấn: không còn là đế quốc Nhật, thực dân Pháp hay người Mỹ chống cộng sản, mà là những người cộng sản với nhau, cộng sản Á châu, dân tộc láng giềng. Cuộc “Chiến tranh Mácxít-Mácxít” mới là nguyên cớ để tờ “Monde” ở Paris viết rằng: “Chúng ta hãy liều đánh cược: sẽ có nhiều cuộc chiến như vậy nữa.”

Đứng đe dọa ở phía sau đạo quân xâm lược là năng lực của trên 800 triệu người Trung Quốc và tuyên bố bất khả sai lầm mang tính khiêu khích của một quyền lực cổ xưa ở châu Á.

Nhưng đứng ở sau Việt Nam, theo Hiệp ước Hữu nghị của ngày 3 tháng Mười Một 1978, là thế lực Xô viết trên 60 tuổi, đã may mắn vượt qua được tất cả các cuộc khủng hoảng tồn tại và các lãnh tụ của nó ngày một mang ấn tượng ngột ngạt, rằng có thể cuộc xung đột to lớn cuối cùng rồi cũng sẽ ập lên họ vào một lúc nào đó. Một hạm đội Xô viết với một tuần dương hạm hạng nặng đã bắt đầu di chuyển hướng tới biển Đông.

Sự to tiếng và bực tức trong phản ứng của Moscov cho thấy rằng ngay cả Liên bang Xô viết đầy cảnh giác cũng bị bất ngờ bởi người Trung Quốc.

Ngoại trưởng Gromyko vì một hội nghị khẩn mà không thể đón tiếp đồng nhiệm Tiệp Khắc Chnoupek trên sân bay Moscow đúng theo nghi lễ được; sếp Đảng Breshnev đang nghỉ mát ở ngoài thủ đô Xô viết. Ba mươi tiếng đồng hồ sau khi người Trung Quốc tấn công, chính phủ Xô viết tuyên bố giận dữ: “Giới cầm quyền ở Bắc Kinh cần phải dừng lại trước khi quá muộn.”

Ngay sau tuyên bố này, một chiến dịch tuyên truyền vô tiền khoáng hậu để chống kẻ thù không đội trời chung Trung Quốc đã bùng phát ra trong Liên bang Xô viết và trong CHDC Đức. Trong nhà máy, nông trường và khu dân cư, người dân Xô viết tụ tập lại dưới những câu khẩu hiệu của tình đoàn kết bền vững với Việt Nam, xuất phát từ thời cuộc Chiến tranh chống Mỹ.

Radio Moscov loan báo những tin tức khủng khiếp về những đứa trẻ con bị người Trung Quốc nhận xuống các vũng bùn cho tới chết, về những người dân làng bị đốt chết bằng súng phun lửa. Tờ “Pravda” cũng có một bài thơ chống người Trung Quốc với cái tựa đơn giản “Những kẻ điên”:

Hòa bình cực nhọc vừa được củng cố

Thì những tên “gangster” mới đã có ý tưởng

Bước vào ngôi nhà đầy đau khổ, rạn nứt

Của người Việt.

Những người đã bị áp bức ba lần

Bây giờ lại bị hành hạ nữa?

Thực hiện điều đó

Chỉ có thể là những kẻ điên rồ.

Mang sự hằn thù vào đất nước láng giềng

Là một tên nghiện ngập điên rồ.

Hởi con người trên hành tinh tươi đẹp Địa Cầu

Tất cả chúng ta phải nói:

Hãy ngừng lại, đồ điên rồ!

Người ta không được phép hỗn láo

Chà đạp sự thật, tự do và lương tâm.

Khối Đông Âu rút ra khỏi Liên hoan Phim Berlin vì phim Mỹ “The Deer Hunter” mà trong đó Việt Cộng buộc các tù nhân Hoa Kỳ của họ phải chơi roulette Nga.

Ở Prag, giới trẻ hào hứng biểu tình chống cuộc xâm lược của người Trung Quốc. Có một lúc, người dân Ba Lan lo sợ là tân binh có thể sẽ được gửi sang Viễn Đông. Tin đồn lan truyền, rằng Hiệp ước Warsaw, tờ giấy khai sinh của liên minh quân sự khối Đông Âu, đã được sửa đổi theo ý này.

Cũng như thường lệ tại từ ngữ xâm lược, những người đang khẩu chiến lại nhắc tới nước Đức ở mọi lúc mọi điều. Việt Nam lên án tuyên truyền Trung Quốc là “theo lối Goebbels”. Albany vừa mới rời bỏ Bắc Kinh nhận thấy rằng “những lời tuyên bố của Trung Quốc về “lần trừng phạt” này có thể xuất phát từ Adolf Hitler, từng từ một”.

Chính phủ Hà Nội rõ ràng là cũng bị bất ngờ bởi cuộc xâm lược. Viên tổng tư lệnh quân đội của họ đang ở tại Romania, thủ tướng, nhiều bộ trưởng và tổng tham mưu trưởng cũng đang ở ngoài nước.

Họ ngủ trong ngôi nhà khách chính phủ ở thủ đô Campuchia và vào lúc đầu cũng ở lại Pnom Penh vẫn còn không một bóng người. Vào ngày hôm sau đó, họ ký kết với nước chư hầu Campuchia của họ một hiệp ước về “hữu nghị và cộng tác”, như họ đã ký kết với nước chư hầu Lào của họ năm 1976: tờ giấy đó hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Việt Nam, bây giờ cũng cả ở Campuchia nữa. 16 sư đoàn Việt Nam hiện nay đang đóng ở Campuchia, thêm bốn sư đoàn khác ở Lào – đa phần của 31 quân đoàn Việt Nam đóng quân ở nước ngoài.

Qua đó, Hà Nội thống trị cả Đông Dương – và qua đó họ thách thức những kẻ xâm lược ở biên kia biên giới. Cuộc xung đột tự nó đã báo trước từ lâu – không khác nhiều cho lắm khi so với những cuộc chiến tranh khác.

Hàng tháng trời, hai bên cáo buộc nhau đã xâm phạm nghiêm trọng biên giới, trước khi họ trừng phạt nhau: lúc đầu là Việt Nam trừng phạt láng giềng Campuchia, rồi Trung Quốc trừng phạt láng giềng Việt Nam. Bình luận của Đài Truyền hình Moscov: “Đây không phải là thời phong kiến Trung Quốc, và một cuộc chiến tranh như vậy phải bị trừng phạt.”

Vào ngày 9 tháng Hai, Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối tại Sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội về những cuộc tấn công và “nhiều tội phạm”.

Vào ngày 10 tháng Hai, thông tấn xã Bắc Kinh “Xinhua” cáo buộc người Việt, rằng từ tháng Giêng họ đã xâm phạm biên giới 50 lần dưới sự che chở của bóng tối, sương mù và hỏa lực.

Vào ngày 14 tháng Hai, Việt Nam phản công: 2158 lần xâm phạm biên giới trong năm năm vừa qua (cộng thêm 568 lần “xử lý bất hợp pháp đất Việt Nam”) cũng như “chuẩn bị chiến tranh một cách điên rồ”. Vào ngày 17 tháng Hai, Bắc Kinh tổng kết có 700 vụ xâm phạm biên giới với 300 người chết trong vòng sáu tháng vừa qua.

Rồi giới truyền thông Trung Quốc còn giữ kín những gì cụ thể đã xảy ra ở mặt trận trước người dân của họ nữa. Người ta cho đó chỉ là bảo vệ biên giới thôi mà. Việt Nam có nhiều kinh nghiệm trong quan hệ công chúng phân phát qua đại sứ quán vẫn tiếp tục hoạt động ở Bắc Kinh các thông báo với góc nhìn của họ về các sự việc và cũng mời nhà báo từ năm nước tới thăm thành phố trại lính Lạng Sơn: họ nhìn thấy những người nông dân đang chạy trốn và những người lính đang hành quân – không còn thấy gì xảy ra nhiều hơn từ cuộc Chiến tranh Việt-Trung trong thời đại truyền thông.

Hành động trừng phạt của Trung Quốc cung cấp cho tuyên truyền Xô viết một cái cúp độc nhất vô nhị: nỗi lo sợ Trung Quốc lâu đời của Nga dường như không còn lý do nữa, tất cả các cảnh báo đầy kích động, ảo tưởng của Moscov trước những kẻ gây chiến Bắc Kinh rõ ràng là có lý do. Giới lãnh đạo Xô viết: “Được chứng tỏ qua đó cũng là sự khinh suất mang tính tội phạm của giới lãnh đạo Trung Quốc khi cầm tới vũ khí.”

Phía sau gương mặt luôn mỉm cười của người Trung Quốc yêu hòa bình, những người thích siêng năng làm việc, tài giỏi trong buôn bán và trong biến đổi, mà việc tiến hành chiến tranh đối với họ là một việc gây phiền nhiễu từ hàng ngàn năm nay, những người lính má hồng trông giống phụ nữ của họ thích xoay tròn lưỡi lê: bất thình lình xuất hiện ở phía sau cái mặt nạ đẹp đó là nét mặt lạnh lùng của những kẻ giết người.

Những con người thực tế, những người muốn hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp một cách hợp lý và kiên quyết, bây giờ đối với nhiều người lại trông giống như những kẻ liều lĩnh hiếu chiến. Phương Tây bàng hoàng thức tỉnh sau khi hân hoan vì Trung Quốc: Đất nước có nhiều dân cư nhất thế giới có tự đẩy mình là lực lượng hòa bình lớn xuống khỏi bục hay không? Ngoại giao được kết nối hết sức nghệ thuật của Đặng – trao đổi với Nhật, Mỹ, Tây Âu – chỉ là ngụy trang cho một chính sách bạo lực?

Trong con mắt Phương Tây, lần quyết định tấn công Việt Nam gần giống như một bộc phát của tính phi lý Viễn Đông: thế giới nghi ngại nhìn một Trung Quốc rõ ràng là hung hãn trong ngoại giao cũng như trong hành động, và không thể đoán trước được giống như thời trước tại những thời hỗn loạn trong nội bộ.

Điều gì đã thúc đẩy người Trung Quốc chấp nhận tất cả những rủi ro này?

Một mối đe dọa qua những giàn phóng tên lửa Xô viết trong “Cuba của châu Á”, như Trung Quốc đã gọi Việt Nam như vậy, không thể là nguyên nhân cho lần tấn công này: Việt Nam không sở hữu hỏa tiển tầm trung có thể đe dọa được Trung Quốc.

Có lẽ Trung Quốc muốn phá vỡ vòng bao vây bởi Nga ở phương Bắc và Việt Nam ở phương Nam, cho tới chừng nào mà họ còn có khả năng? Điều này thì khó có thể hoàn tất với một hành động trừng phạt “có giới hạn”.

Trung Quốc có ý định muốn ngăn chận không cho Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết tiếp cận với nhau trong chính sách giảm căng thẳng, muốn – với những phương tiện mạnh bất hợp lý – ngăn cản [hiệp định hạn chế vũ khí] Salt II? Để làm việc này thì không có đủ bảo đảm rằng Hoa Kỳ chấp nhận “bài học” này.

Dường như rằng những người cầm quyền ở Bắc Kinh sau hàng chục năm cô lập đã mất đi khả năng phán đoán thế giới bên ngoài một cách thích hợp – điều mà một loạt sai lầm về ngoại giao ủng hộ, ví dụ như chuyến viếng thăm của Chủ tịch Hoa trên bán đào Balkan và, trong thời gian của cuộc Cách mạng Ba Tư, vua Ba Tư.

Theo cách nhìn của Trung Quốc, các động cơ cho cuộc “phản công” là hoàn toàn khác. Theo đó, chiến dịch này đã được chuẩn bị trước một cách cẩn thận, các rủi ro chính trị cũng như quân sự đã được toan tính trước là có thể chấp nhận được. Từ đường lối an ninh và quyền lực của Trung Quốc thì cuộc tấn công Việt Nam có thể giải thích một cách hợp lý: nó tương ứng với thái độ cư xử của một cường quốc.

Trung Quốc phô diễn cho thấy rằng họ không còn là kẻ khổng lồ đang mê ngủ của quá khứ nữa, không còn là quả bóng của các nhà nước nhỏ bé nữa. Tại Washington, Đặng tuyên bố trong một buổi tiệc chiêu đãi của hội đồng về chính sách ngoại giao:

Chúng tôi không thể cứ để cho Việt Nam mãi đóng vai kẻ hung hăn. Vì lợi ích của hòa bình thế giới và vì sự ổn định, và vì lợi ích của đất nước chúng tôi, chúng tôi có thể nhìn thấy mình bị bắt buộc phải hành động trái với ý muốn của chúng tôi.

Việt Nam, đất nước có thể đe dọa với thanh kiếm của Nga, tiếp tục thách thức Trung Quốc: họ xua đuổi thiểu số người Hoa của họ, họ cũng có phần của họ trong những lần xâm phạm biên giới, họ lật đổ đồng minh của Trung Quốc ở Campuchia bằng phương tiện quân sự.

Nhiều năm trời, Trung Quốc đã cảnh báo thế giới về sự bành trước của Xô viết, và đã đổ lỗi cho Tây Âu cũng như Hoa Kỳ, là đã thực hiện chính sách nhân nhượng đối với Moscov. Bây giờ, một nước chư hầu Xô viết nhỏ bé lại thách thức Trung Quốc ngay trước cửa nhà của họ. Nếu như Bắc Kinh không tỏ ý muốn ngăn nhận sự bành trướng của Xô viết ở Đông Nam Á, thì các nước trong vùng này – những nước mà nhiều năm nay Moscov đã hoài công cố gắng tranh thủ họ cho cái được gọi là một hệ thống an ninh tập thể – trong tương lai sẽ khó mà chống đỡ lại được với áp lực Xô viết.

Theo cách nhìn của mình, Trung Quốc muốn cho Phương Tây thấy rằng không chỉ Việt Nam là một con cọp giấy, mà cả người anh Liên bang Xô viết của họ nữa, sau những thành công của Xô viết tại Angola và Ethiopia, Afghannistan và có thể là cả ở Ba Tư nữa.

Nếu như Trung Quốc muốn được xem là cường quốc trong tương lai của châu Á, và là đối tác tiềm năng của Phương Tây, thì họ phải làm một điều gì đó theo sự hiểu biết riêng của họ, để đối đầu với Moscov và đồng minh Việt Nam của nó.

Thuật ngữ “chinh phạt” trong tiếng Trung Quốc cũng phù hợp với vốn từ vựng của tư tưởng chư hầu xưa cũ thời hoàng đế: Trung Quốc xuất hiện trong môi trường xung quanh nó, cái tương ứng với vòng các nước chư hầu ngày xưa, như là một cường quốc đòi hỏi. Điều đó có nghĩa là: sự bất tuân của các dân tộc ở vùng biên cương đối với trung ương sẽ bị trừng phạt.

“Đại pháo gầm vang, khói của trận đánh làm tối đen bầu trời, biển Đông hét lớn; và mắt của cả thế giới nhìn xuống Hoàng Sa, quần đảo anh hùng.” Một trường ca anh hùng gồm 30 khổ thơ của nhà thơ Đảng Trương Vinh Muội bắt đầu như vậy, bài thơ mà bất cứ đứa học trò nào ở Trung Quốc đều cũng phải học thuộc lòng.

Nó mô tả cuộc đụng độ kéo dài ba ngày mà qua đó, tàu tuần tra Trung Quốc vào đầu tháng Giêng 1974 đã đẩy các lực lượng chiến đấu của Nam Việt Nam ra khỏi quần đảo Hoàng Sa.

Ngược với kỳ vọng của nhà thơ, phần thế giới còn lại ở bên ngoài Trung Quốc và Việt Nam đã không biết tới lần giao chiến vì một chục rạn san hô không người sinh sống đó.

Nhưng đó là – ngoại trừ những giúp đỡ về vũ khí và vật chất – phần tham dự tích cực của Trung Quốc cộng sản vào cuộc chiến chống chính quyền Sài Gòn được Hoa Kỳ trợ giúp.

Hai năm sau đó – nước Mỹ đã bị xua đuổi khỏi Sài Gòn, miền Nam Việt Nam được giải phóng bởi quân đội miền Bắc cộng sản – bưu điện Việt Nam phát hành một con tem đặc biệt mà trên đó quần đảo Hoàng Sa được đánh dấu là lãnh thổ Việt Nam.

Tem kỷ niệm Hoàng Sa và Trường Sa
Tem kỷ niệm Hoàng Sa và Trường Sa

Bắc Kinh phản ứng giận dữ trước “khiêu khích to lớn” này. Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố trước giới chóp bu chính trị và quân sự: “Trong trường hợp Việt Nam cả gan muốn thôn tính quần đảo Hoàng Sa”, thì trung ương đã đưa ra chỉ thị cụ thể cho đơn vị đồn trú tại đó: tức là “phải giải quyết một cách kiên quyết, triệt để và sạch sẽ mọi xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc trong bất cứ trường hợp nào”.

Đó là lời đe dọa một cuộc chiến tranh nóng đầu tiên của Bắc Kinh. Rằng tại cuộc tranh chấp gay gắt này giữa hai láng giềng đỏ là về những mỏ dầu khổng lồ được phỏng đoán ở dưới những rặn san hô vô giá trị đó, điều này thì cho tới ngày nay cả hai bên đều không nói ra. Yêu cầu chủ quyền của cả hai bên đều dựa trên chỉ dẫn về “biên giới lịch sử”.

Nhưng trong lịch sử trên 2000 năm giữa các láng giềng thù địch này không có biên giới rõ ràng và được hai bên chấp nhận cả trên đất liền lẫn trên biển. Nhìn theo lịch sử thì Trung Quốc có thể đòi chủ quyền nhiều phần lớn của Việt Nam cũng như Việt Nam nhiều phần lớn ở Nam Trung Quốc.

Từ thời tiền sử, những gì mà con người không làm thì thiên nhiên đã lo liệu cho ở trên đất liền. Dãy núi cao cho tới 3000 mét, phần kéo dài về phía Đông của dãy Himalaya, phần lớn được phủ bởi rừng mưa nhiệt đới khó đi lại, là rào cản tự nhiên của Việt Nam chống lại Trung Quốc ở phía Bắc và Lào ở phía Tây.

Những lổ hổng duy nhất xuyên qua khối núi đá đó là các thung lũng lởm chởm của sông Hồng và sông Đà mà trong thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, các bộ tộc Việt đã từ miền Trung Trung Quốc, bị người Trung Quốc đẩy đi, lùi về phương Nam.

Triều đại các hoàng đế người Hán thôn tính miền Nam, thiết lập một chế độ quân quản, và Việt Nam ngày nay đã thuộc về “Vương quốc ở giữa” 1000 năm trời.

Tầng lớp trên, phần lớn đều có quan hệ qua hôn nhân với người Trung Quốc, nhanh chóng tiếp nhận văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của dân tộc cai trị họ. Nhưng sự chống đối những kẻ chiếm đóng thì lại càng dữ dội hơn trong giới nông dân: một loạt những cuộc nổi dậy, tất cả đều bị nhận chìm vào trong máu, là nguyên do cho sự căm thù tỉnh táo của người Việt đối với láng giềng hùng mạnh.

Cho tới ngày nay, những người anh hùng dân tộc của Việt Nam vẫn là những người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu giành tự do chống người Trung Quốc. Như đền thờ quan trọng nhất của Hà Nội là đền thờ Hai Bà Trưng huyền thoại, những người đã dẫn đầu cuộc nổi dậy đầu tiên của nông dân trong năm 40 trước Công Nguyên để chống hoàng đế người Hán. Khi thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai lần đầu tiên viếng thăm Hà Nội năm 1954, ông chỉ có thể bắt đầu các cuộc trao đổi sau khi đã bày tỏ sự tôn kính của mình tại tượng đài kỷ niệm những người phụ nữ du kích quân đó.

Một trong những con đường chính ở Sài Gòn được đặt theo tên người anh hùng đấu tranh giành tự do Lê Lợi, một ngư dân, người theo truyền thuyết đã chiến thắng được thế lực vượt trội của Trung Quốc nhờ vào một thanh kiếm thần và tự lên làm hoàng đế. Và tượng đài kỷ niệm quan trọng nhất ở Sài Gòn nhắc nhở tới đô đốc Trần Hưng Đạo, người đã chiến thắng hạm đội Trung Quốc năm 1284, bằng cách dụ họ vào luồng nước nông, nơi các chiếc thuyền bị đâm thủng bởi hàng ngàn cọc nhọn bằng tre đã được dấu kín.

Sự phản kháng tiềm tàng thành công: vùng đất định cư của người Việt, bị chinh phục về quân sự, có tên là “An Nam” (miền Nam được bình định), có thể vứt bỏ sự cai trị của nước ngoài và thành lập triều đại riêng của mình với vương quốc Đại Việt. Bắt đầu từ thế kỷ 11, các vị vua còn trở thành hoàng đế, phải triều cống hoàng đế hùng mạnh hơn nhiều ở Trung Quốc.

Đối với Bắc Kinh, đất nước An Nam bên cạnh Nhật Bản và Triều Tiên là “em”, người theo học thuyết của Khổng Tử “phải vâng lời người anh”.

Hoàng đế và quan lại kình địch nhau đã chia cắt đất nước, chỉ một lãnh tụ dân nhân có thể vứt bỏ thêm một lần nữa sự giám hộ của người láng giềng. Năm 1787, Tây Sơn Nguyễn Huệ, một người con trai  của các dân tộc miền núi không thuộc dân tộc Việt, tiến quân chống hoàng đế Lê của Việt Nam được Trung Quốc hỗ trợ. Ông lật đổ người cai trị, xua đuổi người Trung Quốc và tự mình lên làm hoàng đế Quang Trung. Nhưng ngay đến người nổi loạn này cũng tuân theo học thuyết đạo Khổng: Việt Nam tiếp tục triều cống cho triều đình ở Bắc Kinh.

Ngay cả khi người Pháp xâm chiến dần từng phần một đất nước này, và buộc triều đình An Nam phải ký một hiệp định về “trợ giúp chống mọi xâm lược từ bên ngoài và những cuộc nổi dậy từ bên trong, người Việt vẫn tiếp tục nghi thức khuất phục của mình đối với Bắc Kinh.

Sử gia người Việt Hoang Van Chi lý giải sự phục tùng khó hiểu đó:

Tuy là nền văn hóa Trung Quốc vào lúc ban đầu rất tốt cho Việt Nam, nhưng cùng với học thuyết Khổng Tử, nó đã thành một công thức, in sâu cùng một hình dạng vào trong mỗi một cái đầu và qua đó đã loại trừ những ý tưởng độc lập và tinh thần đổi mới… Sự nô dịch của người Việt Nam dưới chủ nghĩa thực dân Phương Tây là hậu quả của sự nô lệ lâu dài trong nền văn hóa cứng nhắc của Trung Quốc.

Mục đích thật sự mà vì nó thế lực thực dân Pháp đổ bộ vào An Nam và sau đó vào Bắc Kỳ nằm ở Trung Quốc: người Pháp muốn thâm nhập vào Nam Trung Quốc dọc theo sông Hồng và nếu cần thì sẽ dùng lưỡi lê để phá vỡ những cánh cửa vào thị trường Trung Quốc đã bị Bắc Kinh đóng kín.

Cũng vì vậy mà một trong các việc làm tiên phong ở châu Á, công cuộc xây dựng đường sắt của Pháp, kết quả của chiến lược dành cho Trung Quốc của Pháp, hầu như không mang lại lợi ích gì cho nước Việt Nam bị Pháp chiếm đóng.

Vì đoạn đường sắt đầu tiên dài tròn 1000 kilômét, được đặt trên 107 cây cầu và qua 172 đường hầm xuyên qua rừng núi dưới những cực nhọc và hy sinh không tả xiết, dẫn từ thành phố cảng ở Bắc Việt Nam Hải Phòng qua Hà Nội vượt qua biên giới vào Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam nằm cạnh biên giới.

Mãi cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa thực dân trong những năm giữa hai thế chiến mới mang giới đối lập có tư tưởng quốc gia chủ nghĩa từ Trung Quốc và Việt Nam lại với nhau. Các ý tưởng của người thành lập nước Cộng hòa Trung Hoa Tôn Dật Tiên đã tạo phấn khởi cho Mao và Chu Ân Lai cũng như cho các người Việt Hồ Chí Minh và Pham Văn Đồng.

Những người bạn về chính trị phát hiện nhiều gốc rễ chung: hơn năm mươi phần trăm tiếng Việt là từ vay mượn từ tiếng Trung, chữ tiếng Việt, được phát triển trong thế kỷ 14 từ ký tự Trung Quốc, mãi 300 năm sau đó mới nhận được phiên âm La tinh qua các nhà truyền giáo châu Âu.

Lúc 180.000 lính Quốc Dân Đảng Trung Quốc chiếm đóng miền Bắc Việt Nam sau khi Đệ nhị Thế chiến chấm dứt theo quyết định của phe Đồng Minh, những người cộng sản Việt Nam còn sẵn sàng hợp tác với những kẻ chiếm đóng. Họ thu thập tiền và tặng cho thống đốc Trung Quốc tướng Trương Phát Khuê một bộ hút thuốc phiện bằng vàng: Họ thích triển vọng trở thành một tỉnh của Trung Quốc hơn là việc người quốc gia chủ nghĩa cánh hữu chiến thắng ở Việt Nam.

Một chương lịch sử Đảng mà những người cộng sản của Hồ Chí Minh nhanh chóng quên đi khi người cộng sản Mao nắm lấy quyền lực ở Trung Quốc: trong một vài năm, cho tới khi cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc bùng nổ, Bắc Kinh và Hà Nội thật sự là gắn kết với nhau “như môi với răng”: Trung Quốc cách mạng là gương mẫu cho một Việt Nam cách mạng.

Thế nhưng ý muốn làm bá chủ của giới lãnh đạo Hà Nội, yêu cầu được thể hiện hết sức rõ ràng, muốn lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng không chỉ cho Việt Nam mà cho toàn Đông Dương, chẳng bao lâu sau đó đã làm cho các đồng chí Trung Quốc bực dọc.

Đặc biệt là Chu Ân Lai đã hết sức ghê tởm các cuồng vọng của Việt Nam. Chu nói về người anh hùng chiến tranh của Việt Nam, tướng Giáp: “Một tên hạ sĩ quan lên mặt ta đây.”

Ngược lại, Việt Nam chế giễu công khai cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc mà sự lộn xộn của nó không phù hợp với kỷ luật quân đội của tình trạng tổng động viên liên tục ở Việt Nam. Trong giai đoạn này, từ 1965 tới 1970, định hướng mới mang lại nhiều hậu quả nặng nề của Hà Nội, quay sang với Liên Bang Xô viết, được đưa ra.

Trung Quốc thành công thêm một lần nữa trong việc áp đặt ý muốn của mình lên Hà Nội: Trong tháng Tư 1970, các lãnh tụ của bốn mặt trận đang chiến đấu ở Đông Dương gặp nhau tại Quảng Châu: Việt Cộng của Nam Việt Nam, Pathet Lào của Lào, Khmer Đỏ của Campuchia và Quân đội Giải phóng Nhân dân của Bắc Việt Nam.

Dưới sự giám sát của Chu, các đại biểu long trọng hứa hẹn tại chiếc bàn vuông, rằng sẽ bảo đảm cho nền độc lập của láng giềng ngay cả khi chiến thắng. Việt Nam, Campuchia và Lào, ba người em nhỏ, tốt hơn nữa là một Việt Nam bị chia cắt, tức là bốn, điều đó cũng phù hợp với các ý tưởng của Bắc Kinh về một cảnh quang chính trị trước cửa nhà của họ.

Những sự việc đã diễn ra khác đi. Còn trước cả chiến thắng ở Nam Việt Nam, người ta đã có thể thấy rõ, rằng mặc cho tất cả những lời hứa hẹn, Hà Nội vẫn không từ bỏ giấc mơ về một Đông Dương thống nhất và có sức chiến đấu mạnh. Chỉ nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc, người Khmer Đỏ ở Campuchia mới có thể chiến thắng được hoàn toàn, Hà Nội và Moscov khước từ không cung cấp vũ khí hạng nặng cho họ.

Ngược lại với ý muốn của Bắc Kinh, Hà Nội nhanh chóng thống nhất hai miền đất Việt Nam, và bắt đầu một cuộc tranh chấp biên giới đẫm máu với láng giềng Campuchia.

Trong tháng Ba 1978, ở biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng đã có trận chiến đầu tiên giữa hai liên đoàn xe tăng thù địch rồi – việc mà cả hai bên kiên quyết phủ nhận. Một nhà ngoại giao Á châu ở Hà Nội nói với SPIEGEL: “Bắc Kinh bực tức những đứa trẻ con hỗn xược trong ngôi vườn ở phía Nam của Trung Quốc.”

Trong đêm rạng sáng ngày 1 tháng Năm 1970, khi quân đội Mỹ tiến vào Campuchia, tổng thống Hoa Kỳ Nixon đã lý giải quyết định xâm lấn của ông trên truyền hình: “Khi các con bài được lật ngữa”, thì Hoa Kỳ không được phép được đứng đó như một “tên khổng lồ bất lực đáng thương hại”. “Cái được thử thách vào đêm nay không phải là sức mạnh của chúng ta, mà là ý chí và tính cách của chúng ta.

Trung Quốc cộng sản cũng đã nhiều lần sẵn sàng chứng minh một cách kỳ lạ như vậy cho những rủi ro từ quyền lực của nhà nước. Ở Triều Tiên, người Trung Quốc đánh đuổi người Mỹ, những người đã cân nhắc tới việc tấn công bằng bom nguyên tử, từ biên giới Jalu với Trung Quốc về cho tới vỹ tuyến 38. Họ dừng lại ở đó – một chiến dịch có giới hạn.

Năm 1958, họ đấu pháo binh với Đài Loan trên các hòn đảo Kim Môn và Mã Tổ – và mặc dù vậy vẫn không đổ bộ lên các hòn đảo. Năm 1962, họ tấn công Ấn Độ – và sau nhiều tháng chinh chiến trên núi đã đơn phương tuyên bố ngưng bắn. Họ trao trả các từ binh và vũ khi thu được.

Năm 1969, họ có giao tranh ở biên giới với Liên bang Xô viết cạnh sông Ussuri – và không để xảy ra chiến tranh lớn. Một nhà ngoại giao Xô viết sau đó đã nói với SPIEGEL, Moscov đã dạy cho Trung Quốc “một bài học” mà họ sẽ không thể quên được. Thế như hòn đảo bị tranh chấp Damanski/Trân Bảo cho tới nay vẫn thuộc Trung Quốc.

Thời gian dài chuẩn bị tấn công Việt Nam cho thấy chính khách Bắc Kinh cũng đã cân nhắc và lập kế hoạch cẩn thận cho chiến dịch này.#

Chiến tranh biên giới Việt-Trung
Chiến tranh biên giới Việt-Trung

Họ di tản gần nửa triệu người Trung Quốc từ biên giới với Liên xô sâu vào 30 kilômét và qua đó đã tính toán trước với một phản ứng của Nga. Hoa Kỳ và Nhật Bản được Đặng đích thân thông báo trước về đại cương, ngay cả khi không được thông báo về thời điểm và quy mô. Ba ngày trước lần tấn công, tờ báo Đài Loan “Lien-ho” nói rằng ở Nhật Bản, người ta đã được thông báo trước về những biện pháp phản công có thể có của Trung Quốc.

Rủi ro, nước ngoài Phương Tây có thể quay mặt đi với một Trung Quốc hung hãn, rõ ràng là được xem nhẹ. Với cuộc “phản công”, Trung Quốc cũng tính toán trước rằng mình sẽ không bị ưa thích trên thế giới, tờ “Politika” của Nam Tư tường thuật hồi tuần trước từ Bắc Kinh. Nhưng nó tin rằng phản ứng có hại này sẽ không kéo dài. Người Trung Quốc không có sự lựa chọn nào khác.

Cho tới cuối tuần vừa rồi, dẫn sao đi nữa thì họ cũng đã tính toán đúng. Vào thứ Tư, trong lúc chiến sự đang diễn ra, ủy viên Liên minh châu Âu Roy Jenkins đến Bắc Kinh. Tại buổi tiệc chiêu đãi đầu tiên của mình, ông xác nhận: “Mỗi người trong chúng ta đều có một mối quan tâm đặc biệt tới sức mạnh và thịnh vượng của người kia.” Phái viên của tập đoàn Liên bang Đức MBB ký kết ở Bắc Kinh một hiệp định về bán vệ tinh truyền hình, trực thăng và dụng cụ y khoa.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Blumenthal bắt đầu chuyến đi theo kế hoạch của ông tới Bắc Kinh. Chuyên gia Xô viết của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Marshall Shulman, thông báo đường hướng của Hoa Kỳ: không có quan hệ ngoại giao với Việt Nam (việc này sắp sửa xảy ra), không hoãn việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, việc đã được lên kế hoạch cho tuần này. Shulman: “Bình thường hóa nằm trong mối quan tâm của chúng tôi.”

Đối với Moscov, cuộc tấn công của Đặng thì lại là kết quả một sự cộng tác của Hoa Kỳ với Trung Quốc – đồng thời, Điện Kreml cũng ra hiệu cho người dân của họ, rằng cả những khả năng can thiệp của mình cũng bị giới hạn, nếu như không muốn thách thức người Mỹ và qua đó là mạo hiểm một cuộc chiến tranh lớn. Sự mỉa mai của chiến lược Trung Quốc: họ dự tính rằng Liên bang Xô viết sẽ lui lại trước một cuộc chiến tranh thế giới.

Liên bang Xô viết cũng hầu như không thể tấn công trực tiếp bằng vũ khí hạt nhân, vì ngày nay Trung Quốc đã có khả năng điều khiển tên lửa tầm xa có đầu đạn hạt nhân cho tới Moscov. Vì vậy và các nhà lập kế hoạch ở Bắc Kinh rõ ràng là cũng đánh giá thấp mối nguy hiểm của một cuộc can thiệp bằng phương tiện quân sự của Xô viết vào xung đột với Việt Nam.

Có thể nghĩ tới một cuộc chinh phạt Xô viết: một chiến dịch nhanh với những tập đoàn lớn, cơ động, tiến tới các trung tâm của Trung Quốc, trở về lại bên này biên giới sau khi phá hủy chúng.

Theo tính toán của Trung Quốc, một chiến dịch săn lùng như vậy có thể được tiến hành từ Mông Cổ hướng về Bắc Kinh hay về vùng thưa dân cư Tân Cương hay trải ra trên những vùng công nghiệp và mỏ dầu ở Mãn Châu – trong trường hợp nào thì cũng là một chiến dịch liều lĩnh.

Ngay mùa Đông lạnh giá là đã chống lại những hành động như vậy rồi: vùng Amur và Ussuri đang có tuyết cao bốn mét. Chuyên gia người Mỹ Shulman cho rằng những trận tấn công như vậy là “không có thể”.

Vì việc hết sức đáng ngờ là liệu Liên bang Xô viết có muốn chấp nhận những rủi ro như vậy vì nước Việt Nam xa xôi hay không. Moscov luôn có khuynh hướng để cho những nhóm hỗ trợ mang hạt dẻ ra khỏi đám lửa đang cháy, như người Cu Ba.

Liên bang Xô viết – nếu như họ không muốn đứng đó như là con cọp giấy – chỉ còn cách tăng sự giúp đỡ cho Việt Nam. Và vì vậy mà trong tuyên bố đầu tiên ủa họ, người Xô viết ca ngợi khả năng của Việt Nam, chiến thắng bằng chính sức lực của mình.

Đó thật sự là mối nguy hiểm lớn nhất cho Trung Quốc – rằng cuộc trừng phạt thất bại tại con số nạn nhân. Dự tính, sau khi đưa ra “bài học”, tức là tiêu diệt nhiều đơn vị lớn của Việt Nam, sẽ rút lui về từ đất địch, rõ ràng là đã không thành công ở cuối tuần vừa rồi.

“Quyền lực của Trung Quốc chỉ xa như bộ binh của họ có thể hành quân tới”, một nhà ngoại giao quân sự ở Viễn Đông mô tả khái quát khả năng của Quân đội Giải phóng Nhân dân lạc hậu về kỹ thuật. Nhưng bộ binh Trung Quốc muốn hành quân xa cho tới đâu?

Hôm thứ Ba, thứ trưởng Bộ ngoại giao Hà Tĩnh thông báo cho đại sứ Libanon như là trưởng đoàn đoàn ngoại giao ở Bắc Kinh, quân đội Trung Quốc đã bắt đầu rút lui về nước. Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phủ nhận tin này.

Cuộc phản công của Việt Nam vừa mới bắt đầu vào thời điểm này: khéo léo về chiến thuật – theo nguyên tắc của Mao: “Kẻ địch tấn công, chúng ta lui lại” –  Hà Nội đã rút phần lớn quân chính quy của họ ra khỏi các vùng đất biên giới và để cho lực lượng dân quân địa phương chống cự đầu tiên. Một nhà ngoại giao Hoa Kỳ: “Bắc Kinh không tính trước với việc là người Việt Nam sẽ làm điều mà người Trung Quốc sẽ làm khi người Nga tấn công họ.”

Thế nhưng người Việt cũng đã phải cho các đơn vị chính quy từ Bắc Lào hành quân về tỉnh Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc Việt Nam và người ta còn cho rằng đã rút một phần ba lính của họ từ Campuchia về – đúng theo tính toán của Trung Quốc, lôi kéo Việt Nam vào trong một cuộc chiến hai mặt trận.

Vì ở Campuchia, chiến tranh không hề chấm dứt. Ở đó, có ước chừng 20.000 du kích quân của Khmer Đỏ đang chiến đấu chống lại những kẻ chiếm đóng người Việt.

Đài phát thanh bí mật của họ, đóng ở Nam Trung Quốc, loan báo cả chục cuộc tấn công vào tuần trước. Trước đây ba tuần, Khmer Đỏ chiếm tỉnh lỵ Takéo và giữ nó ba ngày liền.

Theo nhận biết của tình báo Thái Lan, những người kháng chiến này có xe bọc thép và đại bác. Vũ khí, đạn dược và lương thực được mang lên núi với số lượng lớn trước khi người Việt tiến vào.

 Kho hàng trong các thành phố đã trống rỗng, những người chiếm đóng đang gặp khó khăn về cung cấp. Từ lý do này mà người dân còn chưa trở về các thành phố.

Người ta cho rằng tinh thần chiến đấu của những người chiếm đóng không được tốt: du kích quân không bắt tù binh. Họ giết chết các trưởng làng do người Việt bổ nhiệm. Lòng căm thù truyền thống của người dân Campuchia đối với người Việt bắt đầu xua đi nỗi niềm vui mừng được giải phóng khỏi chủ nghĩa cộng sản đồ đá của Khmer Đỏ.

Vì vậy mà vào tuần vừa rồi trông có vẻ như một cuộc chiến kéo dài mới ở Đông Dương đang bắt đầu thay thế cho “chiến dịch có giới hạn” của Trung Quốc, với tổn thất nặng cho tất cả các bên.

“Các anh chị nghĩ rằng chúng tôi không có cơ hội chống lại người Trung Quốc ư?” Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch hỏi giới nhà báo hồi tuần rồi ở Liên Hiệp Quốc. “Các anh chị hãy nhớ rằng trong lịch sử của chúng tôi, Việt Nam đã chiến đấu thành công chống lại một một vài nước rất lớn.”

Phan Ba dịch từ Der Spiegel số 9 năm 1979:  http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-40350993.html

 Đọc những bài khác ở trang Chiến Tranh Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s