Vinh Quang của sự Phi Lý (3)

Chương một

Như biển cả, như bầu trời

Chỗ tôi cư ngụ trong hầu hết thời gian làm việc tại Việt Nam từ đầu năm 1965 cho đến cuối năm 1969, và sau đó một lần nữa vào năm 1972 là căn suite số 214 của khách sạn Continental Palace. Nơi đó thật tiện nghi dễ chịu, kể cả cung cách của hai anh hầu trên tầng thứ hai đối với những đòi hỏi bất chợt của tôi. Họ biết tôi thích dùng quạt trần hơn là máy điều hòa không khí bị hư nát, tuy có thể đuổi muỗi mòng không cho vào phòng nhưng lại làm tôi thức suốt đêm vì tiếng ồn lọc cọc, lại không còn điều chỉnh được nhiệt độ nữa. Với ý tưởng đó trong đầu, hai anh chàng đầy tớ dễ mến đã bắt thằn lằn ngoài hành lang bỏ vào phòng tôi cho chúng xơi hết các loại côn trùng gây bệnh sốt rét.

Khách sạn Continental
Khách sạn Continental

Tôi không thể nghĩ ra một nơi nào thích hợp cho một phóng viên ở ngay giữa trung tâm Sài Gòn hơn là căn phòng số 214 đó. Các cửa sổ bên hông đối mặt về hướng Tây Nam. Bên dưới là con đường Tự Do, trước đây là đường Catinat, trải dài từ Nhà Thờ Đức Bà xuống bến cảng sông Sài Gòn. Tôi có thể nghe hòa âm hỗn loạn của tiếng ồn xe gắn máy, tiếng ọc ọc của xe taxi Renault 4 mã lực màu xanh trắng, tiếng chuông xe đạp, xe li-mu-sin và xe vận tải quân sự. Giữa hai cánh cửa sổ đó là cái bàn giấy của tôi. Về chiều thì nó biến thành cái quầy rượu, chỗ tôi pha những ly rượu mạnh Dry Martini cho những vị khách như anh bạn Peter Heller, phát ngôn viên của chính phủ Hoa Kỳ, sau khi anh ta sống sót ra khỏi các cuộc họp báo gọi là “Những câu chuyện điên rồ lúc 5 giờ” (Five O’clock Follies) thường làm anh kiệt sức. Anh ta xứng đáng được thưởng cho một ly rượu mạnh sau khi kể lại cho tôi nghe những bản tóm tắt dí dỏm các cuộc họp báo mà anh phải điều khiển mỗi ngày trong một văn phòng gần đó, gần một bức tượng mà giới báo chí chúng tôi mệnh danh là “Tượng đài thô tục” vì nó diễn tả hai người lính đang xung phong trong một tư thế không đẹp chút nào.

Tôi ít khi mất thời giờ vào cái “chuyện điên rồ” này vì nó thường bị áp đảo bởi những anh chàng “nổ” như Joe, biên tập viên của một tờ lá cải lớn của Mỹ, lúc nào cũng hung hăng và hay bắt bẻ. Hắn ta hiếm khi nào dám phiêu lưu vào vùng nội địa, nơi mà những sự bất tiện của chiến tranh sẽ đi ngược lại quan niệm về lối sống an toàn của hắn. Theo Richard Pyle của hãng thông tấn AP, 75% các phóng viên chính thức đã tường thuật cuộc chiến bằng cách ở quanh quẩn trong thành phố Sài Gòn, và vì thế chẳng quan tâm đến lời khuyên khôn ngoan của Barry Zorthian, tùy viên trưởng báo chí đầy huyền thoại của chính phủ Hoa Kỳ ở Sài Gòn: “Bạn phải ra khỏi thành phố và tự mình tìm kiếm.” Họ là những tay chỉ trích đường lối tiến hành cuộc xung đột một cách cố chấp nhất, trong khi đó thì các phóng viên chiến trường thật sự chạm mặt với thương tật và tính mạng còn đang mải lo bảo toàn mạng sống để mang thông tin ra ngoài, còn thời giờ đâu mà tranh cãi nữa.

Những cánh cửa sổ lớn đằng trước phòng tôi mở ra hướng Đông Nam nhìn ra giao lộ giữa đường Tự Do và đại lộ Lê Lợi, một khu vực bận rộn nhất của thành phố. Công trường Lam Sơn, mà trước kia gọi là Công trường Đại Hí Viện, nằm ở phía dưới. Một tòa kiến trúc thời thực dân Pháp theo kiểu mẫu “Tòa Cung Điện Nhỏ” tại Paris nằm bên trái của công trường này. Trong thời kỳ tiền cộng sản, đó là chỗ họp của Quốc Hội nhưng nay đã trở thành “Nhà Hát Thành Phố”. Bên kia công trường Lam Sơn là khách sạn Caravelle mà theo như thiên hạ nói thì sở hữu chủ là giáo phận Công giáo địa phận Sài Gòn. Tôi cảm thấy chỗ này khá khô khan, mặc dù có một số người khác lại ca tụng nó là một nơi trú ẩn an toàn vì cấm người lạ và đặc biệt không cho các phụ nữ vào ban đêm. Khách sạn Caravell là chốn ưa thích của hạng người mà Pyle mệnh danh là “các nhà bình luận nổi tiếng và tiên lượng gia chính trị”, cho dù tôi khá ngạc nhiên là có những nhà báo thường trực cũng trú ngụ tại đó. Khi những ngôi sao truyền thông đổ về Sài Gòn ở tạm, họ tìm thấy sự thoải mái trong bầu không khí chọn lọc của quán ăn và quầy rượu khách sạn Caravelle, nơi mà họ bàn cãi về hiện trạng của cuộc chiến với những nguồn tin tức có thẩm quyền vả đặc biệt là trao đổi lẫn với nhau. Sân thượng của khách sạn cho một tầm nhìn rộng rãi qua lãnh thổ của đối phương, là những vùng đầm lầy ngập mặn trên bờ bên kia sông Sài Gòn. Khi chiến tranh lan rộng, khoảng sân thượng này đã trở thành vị trí tốt nhất để quan sát cái mà chúng tôi gọi là “âm thanh và ánh sáng”, theo cách gọi những cuộc trình diễn ngoài trời ban đêm tại các di tích lịch sử của nước Pháp. “Âm thanh và ánh sáng” của Sài Gòn là những cảnh tượng chết người trình diễn bởi những con rồng ma quái “Puff”. Đây là biệt danh chúng tôi gán cho những chiến đấu cơ AC-47 loại Spooky của Không lực Hoa Kỳ. Với hàng loạt đạn bắn ra mãnh liệt, giống như tiếng đánh “rắm” khủng khiếp cùng với các âm thanh khác, những chiếc máy bay này có thể tưới lửa các vị trí của cộng quan với nhịp độ 100 viên đạn một giây.

Mặc dù được an ninh, tôi vẫn không màng đến cái sân thượng đó vì nó gây cảm giác xấu hổ đối với tôi như một địa điểm vô hồn trong một vùng đất đầy màu sắc. Giống như các phóng viên Âu châu và những quân nhân siêng năng với tật uống rượu như hũ chìm, dũng cảm nhưng vô danh trong số những đồng nghiệp người Mỹ của tôi, tôi thích không khí gay gắt của quán mái hiên của khách sạn Continental hơn nhiều. Khung cảnh nơi này trong thời kỳ huy hoàng sang trọng ngang hàng với những sân ngoài trời của những khách sạn Carlton ở Cannes, Shepheard ở Cairo hay Raffles tại Singapore. Nơi đây ta có thể tìm thấy trọn vẹn “toàn giới Sài Gòn” với những tướng tá, viên chức cao cấp dân sự và các nhà ngoại giao, các thành viên của giới thượng lưu địa phương; những tàn dư của cộng đồng Pháp cũ, các lãnh chúa thuốc phiện đảo Corse; các nhiếp ảnh gia nữ tự do, dâm đãng nhưng liều mạng, mang đầy miểng đạn trong mình, hệ quả tất nhiên của thói quen cứ xông lên phía trước những toán tiền quân để săn những tấm ảnh giật gân nhất; những tay nhà thầu béo phị cặp kè với những tên lại cái, những phần tử bất hảo trong nghề mại dâm; các chuyên gia, gián điệp, những nhà mạo hiểm, những tên lười biếng bất lương, những tay bác sĩ và y tá thuộc bệnh viện địa phương Seven Days Adventists, vì tôn giáo cấm uống rượu nên chỉ nhâm nhi những ly chanh vắt; và chắc  chắn là có lẫn một số cán bộ Việt Cộng nằm vùng mà chính sự hiện diện của họ đã tránh cho chúng tôi không bị khủng bố cho nổ bom.

Nơi đây đã từng là “quán mái hiên” của Graham Greene. Có lẽ nó không khác biệt gì mấy so với thập niên 1950 mà ông đã ở trong lúc tường thuật cuộc chiến Đông Dương Pháp, ngoại trừ trước kia phong cách chắc chắn kiểu cách hơn. Quán mái hiên Continental rất đặc trưng trong cuốn tiểu thuyết Người Mỹ Thầm Lặng của Greene về cuộc xung đột đó. Cuốn chuyện này nguyên là cuốn gối đầu giường của tất cả các biên tập viên đúng đắn tại Sài Gòn, cùng với hai cuốn sách quan trọng khác là: Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân, một tập cẩm nang chiến tranh du kích viết bởi tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp, và cuốn Hai đất nước Việt Nam của Bernard Fall. Đây là một bản phân tích chính trị và quân sự về bản chất và nguồn gốc cuộc chiến “ủy nhiệm” nóng bỏng của Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Sau này chúng ta sẽ bàn luận về sự thất bại khó hiểu của nhiều nhà phân tích về thảm kịch Việt Nam để nhìn ra những kết luận phù hợp từ công trình của Giáp và Fall. Đọc Graham Greene, tôi không thể không sặc cười đoạn ông viết về người phụ nữ Việt Nam trong cuốn người Mỹ thầm lặng:

“Mang người phụ nữ An Nam lên giường giống như mang một con chim vậy: họ líu lo và hót trên gối của bạn.”

Tôi tưởng tượng căn suite 214 có thể đã từng là căn phòng của Greene; có lẽ tại đây, trên chiếc giường bây giờ là của tôi, ông đã đưa ra nhận xét chính xác này. Mặc dù vậy, cảm giác riêng của tôi đối với những tạo vật tuyệt diệu này được tạo thành thông qua nhãn quang nhiều hơn là thính giác. Mỗi buổi sáng, tôi điểm tâm bằng bánh sừng bò, xoài, đu đủ, măng cụt và cà phê đen trong một chiếc ghế bành da thời thuộc địa đặt trước một trong những cửa sổ đàng trước, và sung sướng thưởng thức một cảnh tượng kỳ diệu. Ngay sau 6 giờ sáng khi hết giờ giới nghiêm, từng đoàn người dáng dấp đẹp đẽ đổ dồn xuống các đường phố trung tâm Sài Gòn: hàng chục ngàn người phụ nữ và nam giới đi bộ, đi xe đạp, lái xe gắn máy, hoặc ngả lưng trên ghế hành khách của những chiếc xe gọi là xích lô đạp. Các bạn nam giới người Việt hãy tha thứ cho tôi về chuyện chỉ chú tâm vào các phụ nữ đầy khiêu khích trong bộ trang phục quốc gia gọi là áo dài, một kiểu áo khêu gợi không hề có trong bất cứ văn hóa nào; đúng như câu nói “chiếc áo dài bao phủ tất cả mọi thứ nhưng không che dấu một cái gì cả.”

Chiếc áo dài có lẽ là một trong những ví dụ hay nhất của một sự pha trộn Đông Tây hoàn toàn thành công về nét thẩm mỹ và sự cảm thụ. Áo dài có nguồn gốc từ văn hóa Việt Nam, nhưng qua cảm hứng từ thời trang Paris, đã được thiết kế lại bởi các nghệ sĩ của trường đại học Hà Nội. Sau đó các nhà may mặc của Sài Gòn thập niên 1950 còn sáng chế ra, tạo thêm phần quyến rũ nữa. Chiếc áo dài gồm một dải lụa bó sát phần ngực, chặt hơn là chiếc áo sườn xám của Trung Hoa, và tách ra vùng trên thắt lưng thành hai cánh tà dài, một ở phía trước và một ở phía sau.

Bên dưới các tà áo, người phụ nữ mặc một chiếc quần dài nhưng để lộ ra một vài phân phần da thịt ở hai bên phía trên chỗ xẻ của chiếc áo. Nếu là chiếc quần màu trắng và mỏng, như trong đa số các trường hợp, người mộ điệu chăm chú ngắm kỹ có thể nhận ra ẩn hiện chiếc quần lót bên trong. Sự kết hợp của bộ chân phụ nữ với chiếc quần dài và đôi giày cao gót đưa đẩy tà áo lụa về phía trước khiến cho bước chân trở nên duyên dáng vô cùng. Không một nhà làm phim đồi trụy nào của thế kỷ 21 có nổi bộ óc tưởng tượng và ham muốn đủ để tạo ra một cảm xúc như vậy được. Nếu thêm vào đó một mái tóc đen dài trên một cặp mắt hạnh nhân là bạn đã say đắm với cả một quốc gia rồi. Hoặc ít nhất đó là trường hợp của tôi.

Tôi cầu mong quý độc giả thời nay sẽ lượng thứ cho tôi đã diễn tả sự khêu gợi của người phụ nữ Việt Nam một cách say mê và sớm sủa như vậy trong cuốn sách này. Có lẽ chẳng qua vì tuổi già. Tôi hân hạnh tự nhận thuộc vào thế hệ người Tây Phương vẫn luôn nghĩ rằng điều thường tình nhất là yêu thương, chinh phục, ngưỡng mộ và luôn che chở cho người khác phái. Giống như Ernest Hemingway, tôi nhận thức rằng “cảnh tượng của một phụ nữ bị chết thật là kinh hoàng!” Đó cũng là lý do tôi xin dâng tặng tập hồi ký này cho “dân tộc Việt Nam nhiều đau thương” hay như lời phụ đề của đợt tái bản này ghi rõ, dành tặng cho “dân tộc Việt Nam bị bỏ rơi”. Nói một cách chính xác hơn, điều đầu tiên tôi liên tưởng đến khi nhớ về đất nước Việt Nam là nét đẹp của người phụ nữ Việt. Và điều này đi đôi một cách hợp lý với những ký ức về hình ảnh bị giết hại khủng khiếp của những người này, trong đó có nhiều người bị cộng sản đem chôn sống mà quý độc giả sẽ đọc được ở chương 15.

Đó là những gì tôi nhớ lại khi bác sĩ nhãn khoa Anna Phuong Nguyen ở Costa Mesa, California, với ánh mắt tinh nghịch, yêu cầu tôi khai ra những cảm xúc lãng mạn trong cuộc sống tại Sài Gòn, thành phố quê hương của cô.

“Vậy thì, hi hi, ông có bỏ lại cuộc tình lớn nào tại Sài Gòn hay không?” Cô ta hỏi tôi.

“Có cả trăm ngàn người,” tôi đánh trống lảng, “tôi yêu tất cả những người đẹp tôi đã ngắm từ cửa sổ phòng tôi tại khách sạn Continental.”

Bộ cô ta muốn tôi biến cái cửa tiệm này thành một nơi xưng tội hay sao? Tuy nhiên tôi lại mến cái tính tò mò bộc trực của Anna, giống như lần tôi rất thú vị cái lối dò xét trắng trợn của một số phụ nữ người Việt trong tiệm làm móng tay đầu tiên tôi ghé qua khi ở Irvine.

“Ông muốn uống…?” Cô tiếp viên hỏi sau khi đưa tôi vào ghế ngồi.

Tìm được trong đầu một chút dư âm của vốn ngữ vựng Việt văn nhỏ bé của tôi, tôi bật nói: nước!!

“Ông nói tiếng Việt!” Cô gái đang ngâm nước bàn tay trái của tôi kêu lên.

“Ông này nói được tiếng Việt!” Một cô gái xinh xắn khác đang ngồi trên cái ghế đẩu phía chân trái tôi, sửa soạn ngâm nó vào cái bồn nước ấm, phụ họa theo.

“Ông nói tiếng Việt! Ông tham dự chiến tranh Việt Nam? Ông có con rơi ở Sài Gòn, đúng không?” Một cô gái đồng nghiệp khác đang làm móng chân cho một cô khách tóc vàng với vẻ rầu rĩ ở ghế bên mặt mừng rỡ nói chen vào.

“Mọi người lắng nghe đây! Ông này có con ở Việt Nam. Ông có con gái, đúng không? Chắc chắn rồi, ông có con gái. Con gái ông tóc vàng giống Mỹ còn mắt đen như Việt Nam, đúng chứ?”

“Tôi không phải là người Mỹ, tôi là người Đức,” tôi sửa cô ta. Đúng lúc này, ngay cả cô khách tóc vàng đang ủ rũ bên phải tôi cũng phải chú ý bật cười to lên. Và cả cái bà Ấn Độ trên cái ghế bên tay trái tôi cũng vậy, bà cười phá lên. Chẳng bao lâu sau, nửa tá các cô thợ móng tay, móng chân, và cả người phụ bán hàng nữa rúc rích vây quanh tôi.

“Ô kê, ô kê,” cô gái đang hỏi cung tiếp tục, “ông là người Đức, cao, có tóc vàng. Ông có con gái tóc vàng với cặp mắt Việt Nam, ô kê?”

Im lặng.

“Nó đây này,” cô ta kêu lên, chỉ tay vào một cô gái khác có vẻ là con lai. “Kelly. Nó đây này. Mọi người nghe đây! Chúng ta đã tìm ra bố của Kelly. Ông ta là người Đức.”

Đến lúc này, chúng tôi đã đạt đến độ mà sự vui mừng náo loạn đã dẹp đi hết những điều hợp lý liên quan đến tuổi tác và thời gian trong cái tiệm móng tay đó ở Irvine. Khỏi cần biết là Kelly sinh vào cuối năm 1973, một năm sau khi tôi rời bỏ cái thành phố đó lần cuối cùng. Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, tôi đã có được một cô con gái, cộng thêm một đại gia đình các cô gái vui vẻ. Cái cô đã tuyên bố rỡn chơi tôi là cha của Kelly đã ôm chặt lấy tôi lúc tôi ra về.

Vở kịch ngắn đó tại Irvine làm tôi nhớ lại những đức tính mâu thuẫn mà tôi rất mê ở người phụ nữ Việt Nam một nửa thế kỷ về trước. Một mặt thì ho có vẻ dịu dàng, mảnh mai, thật đúng với tiếng hót ngọt ngào líu lo bên gối người đàn ông mà Graham Green đã mô tả. Mặt khác thì họ có thể thực tế và thẳng thừng, thậm chí vô tình đầy ác ý, ngay cả trong vấn để xác thịt, như bất kỳ người phụ nữ Đức đầy tự tin nào mà tôi đã từng gặp. Là người Đức, tôi cảm thấy sự kết hợp này cực kỳ hấp dẫn, nhất là khi so sánh với cái chói tai của quan niệm nữ quyền đầy vị kỷ của thế hệ “trẻ em bùng nổ” sản sinh từ những năm 1960 mà tôi cho là dấu hiệu của sự yếu đuối. Người đàn bà Việt Nam không tỏ ra là mạnh mẽ. Họ thực sự rất mạnh mẽ. Đó là sự khác biệt.

Tôi không phủ nhận là đôi khi đặc tính này có thể được biểu lộ một cách quá đáng. Tôi nghi là sự ác cảm của một số ký giả Mỹ, trú ngụ trong khách sạn Caravelle và đặc trách theo dõi chính quyền Sài Gòn, đã bắt nguồn phần nào từ việc ngộ nhận những người mà họ gọi là những “con rồng cái” trong Phủ Tổng Thống. Dữ dằn nhất trong số này là bà Trần Lệ Xuân đã quá cố, được biết đến như bà Nhu, mà cái miệng ồn ào và sắc đẹp gợi cảm có vẻ như không phù hợp với nhau, nhất là nếu xét theo tiêu chuẩn của một nền văn hóa khó tính đã sản sinh ra cái quan điểm kỳ quái gọi là “thái độ đứng đắn về chính trị”.

Là em dâu của tổng thống Ngô Đình Diệm, một người độc thân, bà nghiễm nhiên trở thành đệ nhất phu nhân bởi vì chồng bà là Ngô Đình Nhu, người em đầy quyền lực của tổng thống Diệm với chức vụ cố vấn trưởng về chính trị. Cả hai đều theo đạo Công giáo và cùng bị giết chết trong một cuộc đảo chánh vào tháng 11 năm 1963, sau hàng loạt vụ biểu tình của Phật giáo chống lại cái gọi là kỳ thị tôn giáo. Cơn khủng hoảng này lên cực điểm sau vụ tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức, một Thượng tọa Phật giáo tại ngay trong trung tâm thành phố Sài Gòn. Bà Nhu đã bình luận biến cố này với một thái độ rõ ràng là thiếu hòa nhã. Người ta phải có tính khí châm biếm và chua chát lắm mới chịu nổi những lời phân trần của bà bằng tiếng Anh với âm sắc tiếng Pháp trong một buổi truyền hình. Bà vừa về phe phẩy quạt cái cằm quý phái, vừa nói:

“Những người (ngừng lại với vẻ hùng biện) lãnh đạo Phật giáo đã làm gì…? Họ đã ‘nướng’ một trong các nhà sư của họ, sau khi đã chụp thuốc ông ta – và đã lợi dụng niềm tin của người ta. Đó không phải là ‘nướng’ thì là gì?”

Bà ta còn châm vào sự xúc phạm bằng cách nói thêm:

“Lại còn không sử dụng các phương tiện sẵn có trong nước nữa mà phải dùng xăng nhập cảng.”

Thật là vô tình, hãi hùng, và không hay chút nào. Tuy nhiên, khi cặp môi thu hút của bà thốt lên những điều tàn nhẫn sống sượng đó, bà vẫn tỏ ra yêu kiều một cách nổi bật. Phải công nhận rằng: với bà Nhu, chúng ta biết bà là ai.

Nói xong điều đó, tôi phải kể thêm một nhận xét riêng trong “bài thơ” ngợi ca người phụ nữ Việt Nam của tôi. Thẳng thắn ra, tôi tự nghĩ không nên né tránh bác sĩ nhãn khoa Anna với một lý do chung chung nào đó. Không phải tôi đang thú nhận điều gì đâu nhưng có chuyện Josephine.

Một buổi sáng thứ bẩy tôi lấy chiếc xe Citroen 15 mã lực Traction Avant để đi chơi biển trong ngày với một anh bạn mà tôi sẽ gọi là Fabian Fuchs cho câu chuyện này. Fabian đại diện cho một tổ chức phi chính phủ Tây Đức đang giúp đỡ chính phủ Sài Gòn trong những vấn đề xã hội. Anh mới quen một cô bạn gái mới rất xinh đẹp gọi là Monique mà cha là một người Pháp kết hôn với một người công giáo di cư từ Hà Nội. Cô ta mang theo một người bạn khác, cũng là như cô, hay gọi là “trộn giống” cũng vậy. Cô này là người phụ nữ lộng lẫy nhất mà tôi từng gặp tại Sài Gòn: cao ráo với đôi môi như bà Nhu, mắt ướt và mái tóc đen dầy dài xuống quá hông. Và tên cô là Josephine.

Tôi cũng mời cả Đức, người trong nom cái xe và thủ lãnh của băng trẻ bụi đời đi theo chơi cho vui. Tôi còn đề nghị trả lại cho bà Má, bà chủ của Đức, số tiền bị lỗ vì Đức đi chơi với tôi. Nhưng bà ta xua tay: “Không, không, nó cần nghỉ ngơi một chút! Đi đi, Đức, đi chơi cho vui!” Tuy nhiên thằng bé từ chối: “Mấy đứa khác không đi, con không đi. Đi về an toàn nhe, tụi con cần cái xe tối nay.” Chiếc Traction, nói cho cùng, chính là cái phòng ngủ của bọn nhỏ. Đúng là Đức của tôi, một đứa bé tinh quái nhưng đầy tinh thần trách nhiệm.

Chúng tôi lái xe về hướng Đông Nam dọc theo quốc lộ 5 đến biển Đông. Chiếc xe của tôi hẳn đã thực hiện chuyến du hành dài tám mươi dặm này không biết bao nhiêu lần rồi: từ thời trước Thế Chiến Thứ Hai, trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Việt Nam, thời gian trước khi Pháp bị thất trận tại Điện Biên Phủ, và sau khi Việt Nam bị chia đôi năm 1954. Chúng tôi lái lượn qua những chiếc xe vận tải, xe jeep, xe bọc sắt và xe trọng pháo. Chúng tôi lái qua mặt những chiếc chở đầy hành khách phun đầy khói đen, những chiếc xe gắn máy chở cả một gia đình năm người, xe buýt Lambretta ba bánh – gọi là xe lam – chứa hàng chục người nông dân trong đó, những chiếc limousine gắn máy lạnh của giới thượng lưu Sài Gòn và từ các nước Âu và Á Châu. Tất cả đều dán những tấm giấy thông hành từ tòa đại sứ của họ lên kính xe như Pháp, Đức, Ý, Anh, Canada, Úc, Nhật, Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và Do Thái. Vào thời kỳ đó của cuộc chiến, không ai nghĩ là du kích Cộng sản sẽ chận đường trong ngày thứ bẩy thành thử những người ngoại quốc thường trốn khỏi cái oi bức của thủ đô để tìm chút thoải mái của vùng “Riviera” Đông Dương.

Dù vậy, chúng tôi phải trở về Sài Gòn trước ban đêm, vì khi màn đêm buông xuống, con đường quốc lộ 5 sẽ thuộc quyền kiểm soát của Việt Cộng. Khi trời vừa trở nóng vào lúc gần trưa, chiếc Traction bị chết máy, may mắn thay chỉ cách một trạm xăng khoảng 500 mét. Monique, Fabian và tôi ra khỏi xe; Josephine, mà chồng cũ đã từng dạy cô lái xe, thì ngồi điều khiển tay lái. Chúng tôi vất vả đẩy cái tấn thép từng mét một vào gara. Một tay thợ máy nói được tiếng Pháp ra tiếp.

“Hết xăng rồi,” anh ta nói bằng tiếng Pháp, “tội nghiệp cái xế này.”

Anh ta chui vào gầm xe, tìm ra vết nứt của cái ống nối bình xăng vào máy xe và hướng dẫn tôi cách chữa: Chỉ việc dán một miếng kẹo cao su ẩm là sẽ giữ được xăng. Sau đó tôi có dạy lại cho anh thợ máy của tôi ở Sài Gòn cái trò luôn luôn hiệu nghiệm này. Từ đó, cái lỗ rò trong cái ống nối đó không bao giờ được hàn lại một cách đàng hoàng.

Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình trong nắng trưa và toát mồ hôi khi đến được Cấp St. Jacques. Do đó chúng tôi lái thẳng đến bãi biển đầy cát trắng Vịnh Hàng Dừa, còn gọi là Bãi Trước theo tiếng Việt, và tung mình vào những làn sóng của biển Đông. Khi chúng tôi bơi khá xa ra khỏi bờ và không có ai bên cạnh, Josephine bắt đầu bơi chung quanh tôi, càng lúc càng gần hơn nữa. Nàng bám lấy tay tôi nói: “Nhảy đi anh.” Chúng tôi ôm nhau nhảy trên biển, tiếng nhạc trong đầu, và mái tóc dài của nàng như một tấm thảm đen bao quanh lấy chúng tôi.

“Em yêu anh như biển cả, như bầu trời.” Nàng nói bằng tiếng Pháp.

Chúng tôi nhảy với nhau một chốc rồi quay trở lại bãi biển. Sau đó trở về lại Sài Gòn trước khi màn đêm nhiệt đới đổ xuống.

Đọc bài trước: Vinh Quang của sự Phi Lý (2)

Đọc bài tiếp theo: Vinh Quang của sự Phi Lý (4)

Đọc những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

 

Advertisements

2 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (3)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s