Vinh Quang của sự Phi Lý (1)

Mở đầu

Đức – Vinh quang của sự phi lý

Uwe Siemon-Netto

Bốn mươi năm trước, sự phi lý đã thắng cuộc tại miền Nam Việt Nam. Vào ngày 30 Tháng Tư 1975, phía sai trái đã thôn tính cái đất nước đầy thương đau này. Bọn Cộng sản đã không thành công do nắm chính nghĩa, như đám xu nịnh trong thế giới Phương Tây vẫn thường làm chúng ta lầm tưởng. Họ đã đè đẹp miền Nam bằng sự tra tấn, bằng thảm sát hàng loạt và những hành vi khủng bố tồi tệ với ý đồ chiến lược thản nhiên, bất chấp công pháp quốc tế. Tôi đang sống tại Paris lúc các chiến xa cộng quân húc đổ cổng Dinh Độc Lập tại Sài Gòn. Trong lúc đang theo dõi sự kiện này trên màn ảnh truyền hình, tôi đã tự nhủ: Làm sao mà họ có thể nắm thế thượng phong được sau các cuộc thất bại rõ ràng về quân sự mà tôi đã từng chứng kiến với tư cách một phóng viên chiến trường trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 tại Huế?

Câu trả lời có thể tìm thấy trong câu tiên đoán nham hiểm của tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Bắc Việt rằng: “Kẻ thù (có nghĩa là Phương Tây)… không có được những phương tiện tâm lý và chính trị để theo đuổi một cuộc chiến kéo dài.” Trong lúc bình luận về sự thất thủ của Sài Gòn, Adelberg Weinstein, một chuyên viên quân sự xuất sắc của tờ báo Đức nổi tiếng, Frankfurter Allgemeine Zeitung đã tóm tắt lý do thắng cuộc của chế độ toàn trị này bằng một câu nói ngắn gọn đầy bi thảm là: “Nước Mỹ đã không thể chờ đợi được.”

Những câu nói tiên tri của Võ Nguyên Giáp và tính từ “Phi Lý” sẽ xuất hiện nhiều lần trong các chương của quyển sách này. Đó chính là chủ đề lặp đi lặp lại nhằm nhắc nhở quý độc giả tại sao tôi viết cuốn hồi ký về 5 năm tôi đã sống tại Việt Nam bốn mươi năm sau. Tôi mong là nét chủ đạo này sẽ chiếu sáng xuyên qua đống táp nham của niềm vui hay của nỗi buồn, điều luyến ái cũng như sự tàn phá trong các chương tôi đã kể ra. Chủ đề thứ hai không kém phần quan trọng nằm đằng sau những mẩu chuyện là sự bộc lộ niềm thương yêu của tôi đối với dân tộc miền Nam Việt Nam nhiều đau thương, đã từng bị phản bội và bỏ rơi mà một số tác giả của nhiều cuốn sách khác viết về cuộc chiến này đã gán cho một vai trò phụ thuộc một cách đầy ngạo mạng và phi lý.

Đây cũng là lý do tại sao tôi đã đặt tựa lại cho đợt tái bản cuốn hồi ký này là “Vinh Quang của sự Phi Lý”, để thay thế cho tựa ban đầu là “Đức”. Nhưng tôi muốn khẳng định rằng có ba lý do cho cái tựa đầu tiên vẫn luôn nằm trong tâm trí tôi: 1. Đức là tiếng Việt chỉ về người Đức (hay nước Đức) và nói cho cùng đây là những hồi ức của một phóng viên chiến trường người Đức. 2. Đức là biệt danh mà các bạn người Việt đã đặt cho tôi khi tôi sống chung với họ. 3. Đức là tên của hai nhân vật chính, một là đứa trẻ chăn trâu tại miền Trung và người kia là anh chàng bụi đời tinh quái mà tôi đã kết bạn tại Sài Gòn.

Đức, anh chàng tôi vừa nói, người mà tôi muốn đề cập trong phần mở đầu này, là thủ lãnh vóc dáng mảnh khảnh của một băng trẻ bụi đời vẫn thường lang thang trên vỉa hè nơi góc đường Tự Do “của tôi” tại Sài Gòn. Chúng tôi gặp nhau vào năm 1965 khi con đường Tự Do, hoặc Catinat cũ, còn mang dấu vết quyến rũ của thời thực dân Pháp với hàng me xanh tươi rậm rạp mà sau này là nạn nhân do khói thải của hàng chục ngàn chiếc xe gắn máy động cơ hai thì, và của những chiếc xe hơi cổ lỗ sĩ như chiếc Citroen màu xám đời 1938 “15 mã lực traction avant” của tôi, “chiếc xe của tụi băng đảng” trong những phim Pháp cổ điển. Chiếc xe này gần bằng tuổi tôi, một tấn khối thanh lịch trên bánh xe – và luôn luôn khát xăng; nó cho tôi tối đa được tám dặm mỗi ga-lông xăng. Đó là nếu bình xăng không bị rò rỉ, một điều mà anh thợ máy của tôi vẫn thường giải quyết mau mắn bằng cách trét kín lại với miếng kẹo cao su Wringley ẩm ướt móc từ trong miệng ra.

Như quý vị sẽ thấy liền bây giờ, tình bạn giữa tôi với Đức và tình yêu của tôi dành cho chiếc xe được gắn bền chặt với nhau. Sự thật, chiếc xe cũng không hẳn là của tôi. Tôi đã thuê nó từ Josyane, một cô gái người Pháp khả ái nguyên là người được hãng cho thuê xe Hertz nhường quyền kinh doanh. Sau này tôi khám phá ra cô ta đồng thời cũng là gián điệp của một nhóm tình báo Tây Âu, trong đó có BND, một cơ quan Đức tương đương với CIA của Mỹ. Tôi vẫn thường tự hỏi tại sao Josyane hay lén lút lục lọi những bản thảo trên bàn giấy của tôi mỗi lần cùng bạn bè đến dự những buổi “trà dư tửu hậu” tại căn suite số 214 của khách sạn Continental Palace nơi tôi trú ngụ. Tôi đã mơ mộng phải chăng cô ta mê cái mã Đức trẻ trung thanh mảnh và những ly rượu mạnh Dry Martini của tôi? Cô ta không hề lộ ra là cô biết tiếng Đức, thế tại sao cô cứ muốn dán mắt vào những bản viết của tôi, nếu cô không hiểu chúng? Giờ thì tôi đã rõ: Cô ta là một con ma sói, theo lời viên sếp bộ phận Hòa Lan có lẽ là một trong những người tình của cô. Nhưng thế thì đã sao? Tôi mê cái xe của cô còn cô ta lại mê những ly Martini của tôi mà cô trao cho mọi người với một dáng dấp đáng yêu tuyệt vời. Cô có quyền đọc những bản thảo của tôi bất kỳ lúc nào, vả lại những mẩu tin này cũng để dành cho công chúng ai cũng có thể đọc được.

Nhưng tâm trí tôi lại tản mạn rồi. Chúng ta hãy cùng trở về với Đức. Em là một đứa bé tinh ranh 12 tuổi đầu với một nụ cười tinh nghịch làm tôi nhớ lại bản thân mình khi đồng tuổi em. Tôi cũng từng là một cậu nhóc trong một thành phố lớn thời chiến, những chiếc phóng pháo cơ Lancasters của Anh quốc và pháo đài bay Mỹ ngày đêm dội bom Leipzig trong những năm cuối cùng của Thế Chiến Thứ Hai đã cố hết sức bắt tôi phải đi theo con đường đó. Giống như Đức, tôi từng là một thằng bé tinh quái thành thị đã vươn lên làm sếp sòng những đứa khác trong xóm. Tuy nhiên, Đức có những điểm khác tôi. Em là một đứa trẻ bụi đời có tinh thần trách nhiệm rất cao. Đức trông nom bảo vệ một nhóm trẻ mồ côi nhỏ hơn em sống trên khoảng đường Tự Do giữa đại lộ Lê Lợi và đường Lê Thánh Tôn. Đức báo cáo lại với một phụ nữ trung niên gọi là bà “Má” đóng đô trên lề đường bên ngoài quán La Pagode lừng danh với những món bánh Pháp, điểm hẹn nổi tiếng của đám “trẻ nhung lụa” của Sài Gòn trước thời kỳ Cộng sản. Bà Má là “trùm sò” mạng lưới phân phối báo chí của phần đất đó trong thủ đô. Bà ngồi chễm chệ trước cửa quán La Pagode bao quanh là từng  chồng báo chí Anh, Pháp, Việt, Tàu; người Việt rất ham đọc báo. Đức và đám trẻ mồ côi cùng các nhóm lâu la khác được bà giao báo đi phân phối trong các khu vực lân cận.

Theo những gì tôi nhận xét được, Đức là đàn em đắc lực nhất của bà Má và là sếp sòng giao báo của góc tấp nập nhất trong khu vực của em. Giang sơn của Đức là vỉa hè giữa quán Givral, một tiệm ăn nổi tiếng với món mì Tàu và món súp hành Tây chánh hiệu nhất toàn vùng Đông Nam Á, và cổng ra vào thông qua khu thương xá Eden, hồi đó là nơi đặt trụ sở bộ phận lãnh sự của tòa đại sứ Tây Đức và văn phòng hãng thông tấn Associated Press. Tôi nghĩ tôi là một trong những khách mà Đức ưa thích nhất bởi vì mỗi ngày tôi mua của em tờ Saigon Daily News và tờ Vietnam Guardian, rồi tờ Saigon Post và tờ Journal d’Extrême Orient. Thỉnh thoảng tôi còn để em dụ mua một vài tờ báo tiếng Việt, chẳng phải vì tôi có thể đọc nổi chúng nhưng vì tôi cảm thấy hiếu kỳ bởi những khoảng trống thường xuyên xuất hiện trên những tờ báo đó, trò thủ công của nhân viên kiểm duyệt trong chính phủ.

Trong một buổi chiều muộn khởi đầu của mùa mưa, tôi và Đức đã trở thành bạn hợp tác làm ăn chung. Những đám mày lớn trên bầu trời nhiệt đới vần vũ sắp vỡ tung ra. Những mảng nước đe dọa sẽ giáng xuống tôi với sức mạnh của lưỡi dao máy chém và sắp biến con đường lưu thông chính của thành phố Sài Gòn thành một dòng sông chảy xiết. Tôi vội vã lái ép chiếc Traction vào một khoảng đậu chật hẹp bên ngoài quán Givral, một bài tập thể dục thật cực nhọc vì chiếc xe với động cơ điều khiển bánh trước không có hệ thống lái trợ lực và chạy bằng động cơ sáu máy đúc gang rất nặng nề. Kiệt sức, tôi tắt máy xe. Đúng lúc tôi đang mơ tưởng đến một chai bia Larue trong sân lộ thiên của khách sạn Continental Palace thì Đức chận tôi lại.

Cánh cửa chiếc Traction cũ kỹ mở ra phía trước, tức là ngược chiều với tất cả những chiếc xe tối tân hơn. Trong lúc tôi đang cố gắng lách mình ra khỏi xe, Đức đứng trước mặt tôi chỉ vào miếng giấy phép dán nơi kính chắn gió mới được tòa đại sứ cấp sáng hôm đó. Tấm giấy mang màu cờ quốc gia Đức, đen, đỏ và vàng, chứng nhận tôi là “Báo chí Đức” tức phóng viên người Đức. Điều này nhằm bảo vệ tôi trong trường họp đụng độ với Việt Cộng chặn đường trong những lần cuối tuần vù đi chơi  Cap Saint-Jacques, sau này gọi là Vũng Tàu, một khu nghỉ mát ven biển được biết đến như St. Tropez của vùng Viễn Đông. Nó thực sự đã cứu tôi trong những ngày đó. Lần nào đụng nhằm toán tuần tiểu du kích Cộng sản mặc toàn đồ đen, họ đều bắt tôi đóng thuế nhưng cũng cho tôi đi, sau khi cấp cho tôi một biên lai có đóng dấu hẳn hòi.

Citroën Traction Avant trên đường phố Sài Gòn
Citroën Traction Avant trên đường phố Sài Gòn

“Ông Đức!” Em khoái chí la lên. “Tên tôi là Đức! Cả hai người mình đều là Đức, giống như anh em với nhau!”

Chúng tôi bắt tay nhau. Bây giờ tôi đã có một thằng em tại Sài Gòn. Sau này tôi học được là câu nhận xét đó còn có một ý nghĩa sâu hơn. Đó là một cách chơi chữ. Đức Tiếng Việt còn có nghĩa là đức hạnh.

Thiết lập xong mối giao hảo, Đức vẫn chưa cho tôi đi. “Ô-kê, ô-kê,” em nói. “Mưa tới nơi rồi, ông Đức, mưa năm bờ ten.” Tôi biết tiếng lóng dân Sài Gòn vừa đủ để hiểu là đứa em mới thân này không ám chỉ đây là cơn mưa thứ mười. Không, “năm bơ ten” có nghĩa là xấu nhất, các lỗ sụp, những cái gì đó phải tuyệt đối tránh xa.

“Ô-kê, ô-kê,” Đức tiếp. “Ông Đức, ông năm bờ oan (số dách). Tôi với ông làm ăn chung nhé, ô-kê?”

Sau đó thì em phác họa sự hợp tác giữa chúng tôi: Tôi cho phép em và đám trẻ mồ côi được trú ẩn trong chiếc Traction. Nó sẽ trở thành chỗ ngủ của họ, và chúng hứa sẽ giữ gìn thật sạch sẽ. Nếu tôi có muốn để lại thứ gì quý giá trong xe, chúng sẽ giữ gìn cẩn thận. Vả lại khóa xe không còn dùng được nữa, điều này Đức đã chứng minh rõ ràng rồi.

“Ô-kê, ô-kê, ông Đức?” Em bồn chồn khẩn khoản.

Tôi gật đầu. Đức liền huýt gió và tức thì có tám đứa bé chạy túa ra từ những cánh cửa chung quanh và chen chúc vào chiếc Traction của tôi. Ba đứa cuộn vào băng sau, hai đứa khác thì nhảy vào hai cái ghế phụ nơi chỗ để chân, mỗi đứa một bên, một bé gái chiếm ngay cái ghế trước bên phải, một đứa nữa thì chui vào khoảng trống phía dưới, còn anh chàng Đức thì đương nhiên ngồi vào đằng sau tay lái.

“Chúc ông Đức ngủ ngon, ông là năm bờ oan!” Đức nói, vừa đóng sầm cửa xe lại và quay kính lên. Ngay lúc đó, cơn mưa đổ ụp xuống tôi và chiếc xe. Bọn trẻ đã an toàn rồi. Tôi thì ướt đẫm thấu xương chỉ trong vài giây đồng hồ. Tôi chạy vội về khách sạn Continental, nghĩ bụng phải cần một cái gì đó khá hơn là một chai bia Larue mới được. Đầu tiên tôi vào phòng tắm rửa, rồi sau đó nhâm nhi một ly whisky ngoài sân mái hiên. Khi màn đêm buông xuống tôi ngóng qua đường Tự Do nhìn về phía chiếc xe Traction kềnh càng với những cửa kính mờ hơi nước bên ngoài tiệm Givral. Cảnh tượng này làm tôi hài lòng. Mấy đứa trẻ đã được khô ráo và ấm áp. Trong tất cả những năm sống tại Việt Nam, tôi ít khi nào cảm thấy hạnh phúc như trong buổi chiều hôm đó, một cảm giác hiếm có trong cuộc đời của một phóng viên.

Tôi xin được dành cuốn sách này cho Đức bởi vì trong thâm tâm tôi, em tượng trưng cho những đặc tính đã tạo nên tình cảm và lòng ngưỡng mộ của tôi đối với người dân miền Nam Việt Nam, và sự cảm thông với họ sau khi bị bỏ rơi bởi những người đáng lẽ phải bảo vệ họ, lại còn bị phản bội bởi một số đồng nghiệp của tôi, mặc dù không phải là tất cả. Giống như Đức, họ rất năng động và giỏi chịu đựng; họ không than vãn mà tự vươn lên được và chăm sóc cho nhau. Khi bị vấp ngã, họ lại trỗi dậy nữa và thực hiện nhiều điều đáng kinh ngạc. Tôi rất ngạc nhiên trước những thành tựu của hàng trăm ngàn người Miền Nam Việt Nam sống và làm việc gần nơi tôi cư ngụ tại miền Nam California. Lòng tôi đầy cảm phục đối với các cựu thuyền nhân và những người sống sót qua những trại tù cải tạo cộng sản, các cựu chiến binh còn đang âm thầm đau khổ vì chứng rối loạn tâm thần sau chấn thương và các bệnh tật nghiêm trọng khác gây ra bởi tra tấn và chấn thương đầu trong chiến tranh.

Tôi mong mỏi tuổi thơ và cuộc sống trưởng thành của Đức cuối cùng sẽ là một câu chuyện thành công, nhưng tôi không rõ. 18 tháng sau cuộc gặp gỡ đầu tiên, chúng tôi mất liên lạc với nhau. Có khi nào em đã gia nhập quân đội miền Nam Việt Nam và có thể đã tử trận trong lúc chiến đấu? Hay là em đã theo Việt Cộng và đã mất mạng vì phục vụ cho họ? Em có trong số hàng ngàn thường nhân bị Việt Cộng thảm sát trong đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968 hay không? Hay đứa trẻ tinh quái này đã xoay sở trốn thoát ra khỏi quê hương sau chiến thắng của cộng sản năm 1975? Cũng có thể em còn sống trong lúc tôi đang viết những dòng chữ này và là một doanh nhân 58 tuổi thành đạt tại thị xã Westminster, California, hoặc một chuyên viên thành công đang sống ngay đầu ngõ nhà tôi? Có lẽ em đang đọc cuốn sách này?

Tôi nghĩ về Đức khi gặp một cặp vợ chồng bạn Việt Nam tuyệt vời, Lý Văn Quý và cô vợ Quỳnh Châu, được biết đến nhiều hơn qua tên Jo, đã mời tôi phát biểu trong một buổi hội nghị của những cựu sĩ quan quân y quân đội miền Nam Việt Nam. Lâu nay họ vẫn thúc giục tôi viết lại những ký ức thời chiến tranh. “Ông phải làm điều đó cho chúng tôi,” họ nói. “Cho những thế hệ con cháu của chúng tôi. Chúng muốn biết những gì đã xảy ra. Ông có được uy tín đặc biệt vì là người Đức và không bị thua thiệt với phía nào trong cuộc chiến này.” Và rồi, sau khi nghe tôi kể lại những giai thoại, chẳng hạn như câu chuyện gặp gỡ của tôi với Đức, một số các vị bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ đã nghỉ hưu trong số khán giả cũng thốt lên điều tương tự, và phân tán bài nói chuyện của tôi trên mạng Internet.

Tôi không mong viết lại lịch sử của cuộc chiến Việt Nam hay thậm chí tổng kết lại toàn bộ thời gian sau gần 5 năm sống tại Đông Dương, Trước hết với tư cách là phóng viên cho tập đoàn Axel Springer Group của báo chí Đức và sau đó là biên tập viên không thường trực của Stern, một tạp chí có uy tín đóng trụ sở tại Hamburg. Tôi xin các đọc giả đừng trông đợi tôi đứng về phe nào trong các xung đột nội bộ của những thành phần trong miền Nam Việt Nam, phần nào vẫn còn tiếp diễn trong những cộng đồng lớn của các lưu dân Việt Nam. Khi tôi nhắc đến cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn, điều này không có nghĩa là tôi ủng hộ ông ta hơn là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, hoặc ngược lại. Tôi ở đây chỉ để kể chuyện, trong đó bao gồm một số về ông Kỳ và một số khác về ông Thiệu mà không có nhu cầu phê phán ai hết. Số phận của họ chẳng ai ham muốn cả, nhưng họ đều đáng được tôi trân trọng vì đã dám đứng ra nhận lãnh những trách nhiệm nặng nề.

Như tôi đã bày tỏ trong đoạn thứ nhất của chương mở đầu này, tôi không hoan nghênh chiến thắng  của Cộng sản năm 1975. Họ xứng đáng để hưởng chiến thắng này một cách cũng nhỏ nhen như bọn Taliban ở Afghanistan cũng sẽ xứng đáng được hưởng chiến thắng, mà tôi sợ rằng nó sẽ đến một khi lực lượng NATO phải rời bỏ quốc gia này. Chính vì viễn cảnh này trong trí mà tôi đã viết nên cuốn sách này.

Ở Việt Nam, tôi đã từng là nhân chứng cho những hành động tàn bạo và ghê tởm mà những người Cộng sản đã thực hiện như là một chính sách chung, là nhân chứng cho những vụ giết người hàng loạt và thảm sát; mà bên cạnh đó, những vụ vi phạm quy luật chiến tranh của phe Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam – rõ ràng không phải là một vấn đề chủ trương hay chiến lược – thật mờ nhạt khi so sánh chúng với nhau. Tôi biết là các phương tiện thông tin đại chúng Hoa Kỳ và quốc tế, các trường đại học đã bất công, tùy tiện và ngạo mạn khi nói xấu người miền Nam Việt Nam, và họ vẫn còn tiếp tục làm điều đó. Tôi đã ghê tởm về cách đối xử của những đồng hương của tôi đối với các cựu chiến binh GI khi họ trở về và kinh ngạc trước sự kiện là những sự đau khổ liên tục của các cựu quân nhân miền Nam Việt Nam đã không được các báo chí Mỹ đánh giá một cách xứng đáng.

Cuốn sách này là một bộ sưu tập của những bản phác thảo riêng về những sự kiện mà tôi đã thấy, đã quan sát, đã từng trải qua và tường thuật lại trong những năm sống tại Việt Nam. Đó là một loạt những câu chuyện xen kẻ nhau về những kinh nghiệm cá nhân mà phạm vi trải rộng từ điều khủng khiếp cho đến cái phi lý, từ các cuộc theo đuổi tuyệt vời đưa đến phù phiếm, từ nỗi tuyệt vọng đến niềm hy vọng. Tất cả các nhân vật được nêu ra trong cuốn sách này đều là có thật, tuy trong vài trường hợp tôi đã phải thay đổi tên nhằm bảo vệ họ và gia đình họ.

Tuy nhiên để nhắc nhở các độc giả và bản thân tôi rằng cuối cùng đây là một cuốn sách về một cuộc chiến tranh bi thảm được kết thúc bằng sự thất trận của các nạn nhân của kẻ xâm lược, cứ sau một vài chương tôi sẽ chen vào một đoạn hồi tưởng nhằm nhấn mạnh ý niệm này, bắt đầu bằng sự mô tả vụ giết người hàng loạt mà Cộng sản đã thực hiện trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Tôi biết ơn nhiều người, đặc biệt là hai người bạn trung thành là Quý và Jo, đã luôn đứng đằng sau lưng hỗ trở về mọi mặt trong lúc tôi khổ cực hoàn thành bản thảo cuốn sách này. Mỗi lần tôi viết xong một chương, Quý đã dịch ngay lập tức qua tiếng Việt với sự giúp đỡ của người bạn Nguyễn Hiền. Các anh đã thực hiện bản in, trang trí bìa và cung cấp cho tôi những lời khuyên hữu lý về các vấn đề văn hóa và lịch sử. Tôi rất hãnh diện đã trở thành một phần trong gia đình cổ truyền Việt Nam của Quý và Jo tại quận Cam. Tôi cảm ơn anh họ của Quý là Tôn Thất Di và người vợ tên Trân là những người đã tiếp xúc với tôi lần đầu tiên khi tôi dọn về miền nam California và đã giới thiệu cho tôi đến với hội cộng đồng lớn đầy tính năng động của người Việt tại quận Cam.

Điều hiển nhiên là tôi biết ơn Đức, người em vắng mặt, và vô số bạn bè Việt Nam, Mỹ, Pháp, Anh và Đức mà tôi đã kết thân tại Việt Nam. Tôi cũng muốn cảm ơn các cựu chiến binh Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà tôi đã phục vụ trong cương vị một giáo sĩ tập sự tại Trung Tâm Y Tế VA ở Saint Cloud, Minnesota, và những bác sĩ tâm lý, các mục sư đã cùng tôi làm mục vụ chung để giúp đỡ phần hồn cho các cựu chiến binh đó. Tôi hết sức cảm ơn anh bạn Ferry Kretz đã cho phép tôi được xuất bản trong cuốn sách một số hình ảnh tuyệt vời của anh từ chuyến phóng sự chung tại Việt Nam vào năm 1972.

Tôi cũng cảm ơn người bạn biên tập viên Peggy Strong và, đầu tiên và quan trọng nhất, Gillian, người vợ 50 năm của tôi đã luôn sát cánh bên tôi và đã từng chịu đựng những khoảng thời gian dài chia lìa vì công vụ của tôi tại một xứ sở huyền diệu đã bị chiến tranh tàn phá mà tôi rất yêu thương.

Uwe Siemon-Netto

Laguna Woods, California, tháng 01 năm 2014

Đọc bài kế tiếp: Vinh Quang của sự Phi Lý (2)

Đọc những bài trước ở trang Vinh Quang của Phi Lý

Advertisements

3 thoughts on “Vinh Quang của sự Phi Lý (1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s