Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 34)

Ông Võ Văn Kiệt
Ông Võ Văn Kiệt

Và chính tác giả Võ Văn Kiệt là một nhà báo xuất sắc, là người cầm bút đứng giữa dòng chảy của cuộc sống để viết nên những tác phẩm báo chí có sức lay động lòng người như bạn đọc cả nước đã thấy. Ông viết bài phản đối việc gạt người nghèo ra bên lề xã hội trong việc cướp đất ruộng của dân làm cái gọi là “khu công nghiệp”; ông viết phản đối việc mở rộng Hà Nội v.v. và v.v. Báo SGGP cho biết, ông còn viết nhiều bài với bút danh Trọng Dân, bênh vực kẻ thấp cổ bé họng, bị ức hiếp trong cái gọi là “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.

Theo tôi thì chưa bao giờ ông là cán bộ lão thành cả, lúc nào con người này cũng trẻ trung tràn đầy nhựa sống. Lúc ở tuổi 80 ông luôn nói: – Chưa lúc nào tôi thấy thiếu thời gian như lúc này!

Võ Văn Kiệt là một con người như sinh ra để đứng ở đầu sóng ngọn gió. Ông là con người “thà đi trong giọng bão còn hơn đi bách bộ trong sân”.

Tôi rất vui là bài phỏng vấn Võ Văn Kiệt cho tạp chí “Nghề báo” của Hội nhà báo TP. HCM đã được Tổng biên tập Hồng Phương đăng nguyên văn, không “kiểm duyệt” một chữ nào /Tạp chí NB 4/2003).

Ấn tượng tốt đẹp thứ hai của tôi về Võ Văn Kiệt là ông nhận thức được vai trò của trí thức trong cuộc kháng chiến cứu nước cũng như trong xây dựng hòa bình. Xuất thân là nông dân sau đó trở thành nhà lãnh đạo cao cấp của một đảng mệnh danh là của giai cấp vô sản, công nông nhưng ông thực lòng tin yêu trí thức, thấy được vai trò, tác dụng của trí thức với xã hội. Khi trở thành người lãnh đạo cấp cao, ông đã hành động. Hội trí thức yêu nước TP. HCM được thành lập sau 30-4-1975. Phát biểu trong dịp lễ kỷ niệm 2 năm thành lập Hội Trí thức yêu nước, ông nói: “Trong thế giới này nay nguồn lực hàng đầu là trí thức. Nói như thế không có nghĩa là đề cao những con người trí thức cụ thể, mà là để nói đến một điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển”.

Thật là chính xác và sắc sảo.

Khi là Thủ tướng Chính phủ, ông đã thành lập Ban Cố vấn cho Chính phủ gồm toàn các trí thức tên tuổi. Thời Phan Văn Khải vẫn giữ Ban Cố vấn đó. Nhưng khi anh y tá Nguyễn tấn Dũng lên làm thủ tướng thì giải tán liền!

Năm 1999, tôi in cuốn sách nhỏ “Nguyễn Khắc Viện như tôi đã biết” (NXB Thanh niên 1999) đem tặng ông. Mấy ngày sau ông gọi điện cho tôi, đại ý: – Nên viết thêm những cuốn sách về trí thức Nam Bộ, vì không có trí thức tham gia thì Cách Mạng Tháng Tám không thể thành công ở Nam Bộ. Tôi chưa thấy nhà lý luận Việt Nam nào dám nhận định như thế. Ít lâu sau tôi được biết ông đem ý kiến này phát biểu ở Hội Nhà văn TP. HCM, và đề nghị các nhà văn viết về các trí thức Nam Bộ trong Cách mạng Tháng Tám.

Một lần gặp ông ở một hội nghị, tôi phải đến “thanh minh” với ông rằng, tôi rất mến mộ các vị thí thức NAM Bộ nhưng vì hiểu biết và vốn sống của tôi về Nam Bộ còn ít quá nên không dám viết. Khi họa sĩ Diệp Minh Châu qua đời, nghĩ đến lời khuyên của ông Kiệt, tôi viết cuốn sách nhỏ “Diệp Minh Châu – Con người bẩm sinh là một nghệ sĩ” (NXB Thanh niên – 2002). Trong cuốn sách nhỏ đó, tôi có trích lời ông Kiệt ghi trong sổ tang nói về những ngày “vượt suối băng ngàn” của ông cùng với Diệp Minh Châu ra Bắc 1952.

Biết ông Kiệt hay đọc sách, tôi mua và đọc được cuốn sách nào thấy hay thì đem đến tặng ông. Một lần, tôi được ông trần Đức, nguyên phó ban Nông nghiệp trung ương tặng cho cuốn “Trang trại ở Pháp”. Trần Đức được Hội Nông dân Pháp mời sang nghiên cứu. Ông đã ở Pháp ba tháng liền, “ba cùng” với các chủ trang trại Pháp nên cuốn sách rất có giá trị thực tiễn để tìm hiểu về trang trại. Tôi đọc rất say mê nhưng trót gạch chân, đánh dấu vào sách. Chợt nghĩ đến ông Kiệt nhưng tôi băn khoăn là sách đã bị gạch, bị đánh dấu không còn mới nữa. Nhưng lúc đó lại đang có tranh luận về kinh tế trang trại (1997-1998). Ban Kinh tế trung ương còn mở cả một hội nghị lớn ở Sông Bé để bàn về kinh tế trang trại. Tôi được anh Nguyễn Tấn Trịnh, Phó Ban Kinh tế trung ương lúc đó đến tận nhà rủ đi dự hội nghị. trong hội nghị này người ta tranh cãi nhau rất quyết liệt, nhất là chính sách “hạn điền” cho trang trại. Tôi nhớ, giáo sư Đào Công Tiến phát biểu “gay” nhất. Chủ trì hội nghị là ông Phan Diễn cũng không dám rung chuông. Tôi nghĩ, phải để ông Sáu Kiệt đọc cuốn “Trang trại ở Pháp”, nên tôi đem đến tặng ông. Lúc đưa sách, tôi nói: – Xin lỗi ông Sáu, tôi tặng ông cuốn sách không còn mới, đã trót gạch chân, đánh dấu vào sách nhưng thấy ông Sáu nên đọc cuốn sách này, nhất là trong bối cảnh này nên mạnh dạn đem tặng ông Sáu… Tôi chưa nói hết lời thì ông Sáu đã cười cầm lấy sách rồi bảo tôi: – Dân Hà Nội có khác. Ông chỉ nói đến thế thôi còn tôi muốn hiểu thế nào cũng được, chẳng hạn dân Hà Nội khách sáo cẩn thận quá thờ lợ quá v.v. và v.v.

Nhiều lần đối thoại với ông Sáu Kiệt, tôi biết ông là người rất thông minh, luôn đoán ra ý nghĩ của người đang đối thoại với mình. Điển hình là hôm nhà thơ Tố Hữu mất, tôi đi lang bang đến Hội Nhà văn TP. HCM, gặp nhà thơ Viễn Phương, một chức sắc của Hội, tôi hỏi: Anh Viễn Phương đánh giá Tố Hữu thế nào? Viễn Phương nói ngay: – Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc. Tôi lặng lẽ chạy xe đến nhà ông Kiệt. Sau lời chào hỏi, tôi thưa: Nhà thơ Tố Hữu vừa mất, ông Sáu đánh giá Tố Hữu thế nào? Ông Kiệt nhìn tôi nghiêm nghị, trả lời chậm rãi, rõ ràng: – “Tố Hữu là nhà thơ lớn của Đảng”. Trả lời xong ông lại nhìn tôi nheo mắt cười. Tôi “đọc” được trong ánh mắt nheo cười của nhà chính trị rằng… Phú Khải cậu đừng lừa tôi, cậu cứ đem cái nhận định của tôi về Tố Hữu đi rao giảng khắp nơi, khắp chốn thế đó! Võ Văn Kiệt nhận định thế đó!!! Đừng tưởng!!!

 Lại nói về cuốn “Trang trại ở Pháp”. ông Kiệt cầm cuốn đó, không quên cảm ơn tôi. Ông tâm sự: – Có nhiều người bảo tôi là nông dân mà ra vẻ trí thức, lúc nào cũng đọc sách. Tôi nghĩ, nếu đọc sách mà bớt ngu đi thì tôi ra vẻ trí thức suốt đời! Tôi rất mừng là sau này, quan điểm của ông Kiệt về “hạn điền” trong vấn đề trang trại ở nước ta rất sáng suốt, rất cấp tiến, trái hẳn với quan điểm của ông cố vấn Lê Đức Anh lúc đó. Cụ thể là trong vấn đề cho thuê đất trong vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long Anh để lập trang trại. Tôi sẽ nói về vụ này ở một phần sau.

Anh Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang, một người gần gũi với ông Kiệt nhiều năm, có lần bảo tôi rằng, anh rất mến ông Kiệt bản tính ưa nói thẳng. Theo anh Nhị, ông Sáu đã có lần tâm sự với anh, và cũng là lần đầu tiên anh được nghe một đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng nói về các vị nhân sĩ trí thức đi theo kháng chiến như thế. Tôi hỏi, ông Kiệt nói thế nào. Ảnh nhắc lại lời ông Kiệt: “Chúng ta đi theo cách mạng, nếu có mất thì chỉ mất cái quần đùi, còn họ thì hy sinh cả một sự nghiệp, điền sản lớn, vinh hoa phú quí. Đo đó, không thể đánh giá lòng yêu nước của họ ngang như ta được”. Bảy Nhị tỏ ra bất ngờ về câu nói đó của ông Kiệt. Tôi đã đem câu nói đó vào trong bài viết về Sáu Kiệt nhân ngày mừng thọ ông 85 tuổi (2007). Khi bài bào đăng rồi, còn có độc giả gọi điện cho tôi hỏi, “Có phải anh bịa ra câu nói đó không? Có thực Bảy Nhị đã nói với anh thế không?” Thật buồn!

Tiếp xúc với ông Kiệt, tôi còn được ông chỉ bảo cho nhiều điều bổ ích về các vấn đề của Đồng bằng sông Cửu Long, điều mà tôi rất cần với tư cách, nhiệm vụ là phóng viên thường trú của Đài Phát thanh quốc gia tại khu vực trọng điểm này. Chính phù sa mịn màng, nắng mưa hào phóng của quê hương Vĩnh Long Nam Bộ đã sinh ra Võ Văn Kiệt. Và, tắm mình trong lao động cần cù vất vả thời thơ ấu, dấn thân trong đấu tranh cách mạng để giải phóng quê hương, từng tế bào, từng huyết mạch trong con người Võ Văn Kiệt thấm đượm sức sống của đất đai quê mẹ. Hơn ai hết, ông hiểu về mảnh đất quê hương mình. Đầu xuân 2004, tôi đến chúc Tết ông. Lúc đó lại vào dịp cúm gà đang hoành hành, ông lại vừa về quê ăn Tết lên, nên bảo tôi: – Con cá đã lên ngôi. Gà vịt vừa qua chết nhiều thì càng thấy vị trí của con cá ở đồng bằng. Như tôi đã nói với Phú Khải năm ngoái, từ trước đến nay ta chỉ mới truy bắt con cá mà chưa nuôi thả đúng mức. ĐBSCL tiềm năng thủy sản còn lớn lắm. Cả ba khu vực mặn, ngọt, lợ đều có những loài thủy sản rất có giá trị như con tôm ở vùng mặn, cá kèo vùng lợ, vùng ven có con cá đối, vùng ngọt có con tôm càng xanh và các loại cá đồng ĐBSCL có các loại cá quí như trạch – lấu, cá hô nặng hàng trăm ký trên sông Tiền, sông Hậu, cá cóc nặng hai ba ký. Kể ra nhiều loại cá quí như vậy rồi ông Sáu kết luận: – Cho đến bây giờ không có bất cứ loại cá gì là không nuôi được. Cá kèo đã dưỡng được, cá thác lác ở Cần Thơ đã nuôi được. Trước đây cá ba-sa giống phải đi mua từng con một, nay đã cho đẻ nhân tạo được rồi. Cá ba-sa, cá tra, cá linh, tôm càng xanh là những thủy sản mà vùng ĐBSCL của ta có ưu thế hơn hẳn các nước vùng sông Mê Kông. Phải biết biến thế mạnh đó để khai thác, nuôi trồng tốt hơn. Phải tiến tới lập các khu bảo tồn thủy sản, ngân hàng gen, quỹ gen cho thủy sản ĐBSCL.

Tôi không ngờ ông Sáu Kiệt lại hiểu biết rành rẽ về tương lai con cá ở ĐBSCL như thế. Đành rằng xuất thân là nông dân, nhưng ông đã “xa rời” ruộng đất từ nhiều năm và còn trăm công nghìn việc của một nhà chính trị trong một xã hội nặng nề đấu đá quyền lực làm sao ông có thể sát thực tế nông thôn đương đại đến thế. Ông nói một thôi về con cá. Tôi phải đề nghị ông nói chậm lại để ghi chép. Thế là cuộc gặp chúc Tết đầu năm trở thành một cuộc làm việc về con cá! Nhưng tôi vẫn còn nghi ngờ về những “con cá” mà ông Kiệt nói nên đánh máy sạch sẽ rồi đưa cho đương kim Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Việt Thắng, quê ở Đồng Tháp xem lại(!). Anh Thắng nói: Chính xác 100%.

Ông Kiệt có tư duy từ cuộc sống như thế, không bị một giáo điều, một “học thuyết đứng đường” (thơ Trần Mạnh Hảo) nào chi phối tư duy của ông. Chính vì vậy mà ông là nhà lãnh đạo cộng sản đi xa nhất về tư duy chính trị. Marx nói: “Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy”. Vậy cứ như lời Marx thì khi nói về con em những gia đình công chức, quân đội cũ, ông Kiệt khẳng định: “Không ai chọn cửa để sinh ra”, và chính ông đã có sáng kiến tuyệt vời là giao cho Thành Đoàn thực hiện tổ chức lực lượng Thanh niên Xung phong của TP HCM, đón nhận bất kể các thanh niên xuất thân từ mọi thành phần. Và, trải qua lao động trên đồng khô, cỏ cháy, rừng sâu, núi cao, một lớp người không còn bị mặc cảm về “vết đen lý lịch” đã trưởng thành. Có thể kể: Trần Ngọc Châu, Nguyễn Đông Thức, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật Ánh, Trường Kiên, Tiếng Thu v.v. Khi nói về lòng yêu nước, ông nói: “Có trăm con đường yêu nước khác nhau, Tổ Quốc Việt Nam không phải của riêng một đảng, một phe phái tôn giáo nào”. Khi nói về ngày 30-4-1975, ông phát biểu: “Ngày 30-4-1975 có một triệu người Việt Nam vui, lại có một triệu người VN buồn. Vậy nên gọi đó là ngày thống nhất đất nước”. Những ngôn từ như thế theo ông Marx là “cái vỏ vật chất” của tư duy. Tư duy của Võ Văn Kiệt đã không xuất phát từ “học thuyết đứng đường” hay những “thiên đường vỡ chợ” nào (Trần Mạnh Hảo) mà xuất phát từ lợi ích, từ sự sống còn, từ hạnh phúc của dân tộc nên mới mang “cái vỏ vật chất” như ta thấy. Cái đó không có ở những nhà lãnh đạo đi theo một nhân quan giai cấp, một giáo điều xơ cứng, nhập ngoại “đứng đường”! Đi theo dân tộc đương nhiên phải hướng tới dân chủ. Và ông đã là người tiệm cận với dân chủ khi tuyên bố “chính kiến khác nhau là chuyện bình thường” và “một quốc hội có người tự ứng cử, và dân bầu lên một cách tự do sẽ tốt hơn quốc hội bây giờ”.

Không có gì thuyết phục hơn là nghe nhà đấu tranh dân chủ, nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Thanh Giang nói về Võ Văn Kiệt: “Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người lãnh đạo Đảng CSVN đương đại mà tôi ngưỡng mộ nhất”. Khi anh Thanh Giang vô Sài Gòn, đến nhà tôi, nhờ tôi dẫn đến thăm ông Sáu, nhưng tôi từ chối vì muốn giữ “an toàn” cho cả hai vị. Sau đó, ông nhờ con gái ông Nguyễn Hội dẫn đến thăm ông Sáu, nhưng bảo vệ nói “đi vắng!”.

Trong suốt nhiều năm làm việc, tiếp xúc, đối thoại với ông Kiệt, tôi hết sức tránh những gì liên quan đến chính trị. Tôi sợ những đối đáp có màu sắc chính trị sẽ làm khó cho tôi, có khi làm tôi xa mất nguồn kiến thức về ĐBSCL mà ông Kiệt là một kho báu. Chẳng hạn, có lần bất thần ông bảo tôi: “Với ĐBSCL thì không có lũ cũng là thiên tai”! Chỉ một câu nói ngắn gọn của ông thế thôi cũng đủ là một đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề lũ lụt ở ĐBSCL. Vậy mà ông Đỗ Mười có lần lại tuyên bố… sẽ huy động sức mạnh toàn Đảng, toàn dân để đắp đê cho ĐBSCL. Thứ trưởng Bộ Thủy lợi lúc đó là ông Chín Giới lo cuống cuồng, phải xua cả một đàn chuyên gia hàng đầu về thủy lợi để tiếp đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đi “kinh lý” Nam Bộ. Các chuyên gia của ông Chín Giới đã phải thuyết phục đồng chí TBT Đỗ Mười không nên “huy động sức mạnh toàn Đảng, toàn dân để đắp đê cho ĐBSCL”! Ông Chín Giới kể với tôi, lúc họp ông run lắm, động viên các chuyên gia nói thẳng, nói thật với đồng chí TBT. Nếu có gì làm TBT phật ý thì ông sẽ chịu trách nhiệm.

Rồi ông kết luận với tôi: – May quá đồng chí TBT đã không huy động toàn Đảng, toàn dân”.

Nhân nói về TBT Đỗ Mười, tôi có câu chuyện “như đùa” thế này. Nhân được ông Sáu Phan giới thiệu từ Hà Nội, tôi lên T78 (nhà khách trung ương) ở Tp HCM để gặp TBT Đỗ Mười và tặng ông cuốn sách “Viết từ Đồng bằng sông Cửu Long” của tôi do NXB Thanh Niên xuất bản. Nói chuyện xong, lúc tôi ra về, ông Đỗ Mười cầm cánh tay tôi lắc lắc và bảo: Sao cậu gầy thế? Tôi trả lời: – Có phải đảng viên đâu mà béo được! Ông Đỗ Mười bảo: – Thế là tốt!

Mấy ngày sau tôi đem câu chuyện này “khoe” với anh Trần Thế Tuyến, lúc đó là Trưởng cơ quan Báo QĐND tại TP HCM, tờ báo mà tôi đã cộng tác từ ngày còn ở Hà Nội. Anh Tuyến cười bảo tôi: – Ông ngu bỏ mẹ, người ta làm chính trị nên chỉ nói nửa lời. Tốt là tốt cho Đảng. Nếu một người như ông mà vào Đảng thì chỉ có phá Đảng mà thôi! Có thế mà ông cũng không hiểu, còn đi khoe!!! Chúng tôi đã cười nghiêng ngả!!!

Trở lại câu chuyện với ông Sáu Kiệt, tôi luôn tránh né nói cái gì liên quan đến chính trị. Nhưng cuộc sống lại không đơn giản đến thế. Chính trị, triết học, lịch sử, khoa học, văn hóa được con người tách ra để nghiên cứu riêng vì nó phức tạp quá. Nhưng trong đời sống xã hội thì tất cả các yếu tố ấy đều hòa quyện, đan xen vào nhau. Một mâm cơm mà ta ăn, nhìn vào đó thấy cả chính trị, khoa học, văn hóa. Ăn gạo gì thì đó là kết quả của khoa học lai tạo, ăn như thế nào là văn hóa, có ngồi cùng mâm với người bất đồng chính kiến với mình không thì đó là chính trị. Bởi vậy, có những lần vô tình, tôi lại bàn luận về đề tài chính trị với ông Sáu. Hôm đó cũng là một ngày đầu xuân, tôi đến chúc Tết ông như thường lệ. Khi tới, các vị đến trước đang bàn về “dân chủ ở cơ sở”. Khách về rồi, tôi nói những điều vô thưởng vô phạt với ông Sáu, chẳng hạn như: ông Nguyễn Khác Viện có ý kiến là nước ta không có truyền thống dân chủ nên bây giờ phải tập dân chủ ở mọi nơi, mọi cấp. Tôi không ngờ ông Sáu Kiệt nói một thôi: Xưa kia tôi đi làm cách mạng vì thấy ngoài đời mất dân chủ quá, kẻ giàu ức hiếp người nghèo, cường hào ác bá đè nén dân đen. Khi vào Đảng, tôi thấy trong Đảng thật thương yêu nhau, đồng chí với nhau thật dân chủ, có gì cũng bàn bạc trao đổi dân chủ, không ai đè nén, áp đặt ai. Nay Đảng là nơi mất dân chủ nhất. Cái mất dân chủ của Đảng nó ô-tô-ma-tic ra ngoài dân. Dân học Đảng để mất dân chủ với nhau. Tôi nhớ nhất cái từ “ô-tô-ma-tic” của ông Sáu Kiệt!

Võ Văn Kiệt bộc trực như thế. Có lẽ vì cái bộc trực “Anh Hai Nam Bộ” này mà ông gặp nạn. Cái chết của ông thật khó hiểu. Đang khỏe mạnh, còn mua vé trước để đi Hà Lan với Tiến sĩ Tô Văn Trường để nghiên cứu về chống nước biển dâng tràn tới DBSCL. Vậy mà, chỉ đi Hà Nội về là lăn ra chết. Bác sĩ Quế – Phó Ban Bảo vệ Sức khỏe trung ương, bạn với tôi nói: – Chụp phổi thấy trắng xóa (tức là đen) là điều rất hiếm. Bệnh phổi không thể chết nhanh như thế được!!! Tôi là một trong những người được biết tin ông Sáu Kiệt mất sớm nhất. Tôi điện cho vợ anh Tô Văn trường, ít phút sau thì từ bên Đức, nơi anh Trường hẹn đợi ông Sáu qua để cùng đi Hà Lan. Anh Trường vừa nói chuyện với tôi vừa khóc trong điện thoại. Anh cứ khóc nấc lên, rất tội. Lúc đó tôi cũng cứ thấy cay xè hai con mắt! Nhìn lại thời gian ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, đất nước chuyển mình rõ rệt. Năm 1990, tổng thu nhập bình quân đầu người Việt Nam chỉ đạt ước khoảng 200 đôla Mỹ. Đến năm 1997, chỉ số này là 300 đôla Mỹ. Lạm phát được kiềm chế đến một chữ số trong hai năm 1996-1997. Xuất khẩu lương thực tăng liên tục. Năm 1997, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 3 trên thế giới. Đầu tư nước ngoài sau 10 năm kêu gọi (1987-1997) đã lên đến gần 30 tỷ đô la Mỹ. Trên trường quốc tế, từ thế bị bao vây, Việt Nam trở thành một quốc gia chuyển mình mạnh mẽ qua kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Có thể nói, thời gian ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, Việt nam có gương mặt sáng sủa nhất từ sau chiến tranh, được thế giới tin tưởng và hy vọng nhiều về một Việt Nam trên đường đổi mới. Đó là một dấu son của lịch sử.

Nhưng thật là thiếu khách quan, công bằng nếu không nói đến những sai lầm của Võ Văn Kiệt trong một công trình lớn là đường dây tải điện Bắc-Nam 500 kilôvôn. Chỉ có những người trong cuộc, ở ngành tài chính và điện lực mới hiểu rõ điều này. Nhưng trong một thể chế toàn trị thì những con số “bí mật” luôn được che đậy, giữ kín. Đường dây 500 kilôvôn là một công trình lấy tư duy chính trị để làm kinh tế. Đến nay công trình này vẫn không quyết toán được, Khi làm một công trình lớn lao như thế nhưng Quốc Hội không được bàn bạc và thông qua. Việc bảo quản và duy tu cho đường dây này là một gánh nặng lâu dài cho nền điện lực mà các chi phí của nó luôn được dấu kín. Nếu chỉ để hòa mạng lưới điện quốc gia thì không cần đến đường dân này, còn để tải điện thì ở đầu bắc đường dây đỏ rực mà ở đầu phía nam điện vẫn chập chờn. Tiêu hao trên đường đi là vô cùng lớn, vì thế, khi có ý định làm đường dây này, tôi đã được đọc rất nhiều phản biện của các chuyên gia ở Việt Nam đưa cho tôi, với hy vọng là một nhà báo tôi có thể lên tiếng! Nhưng làm gì có chuyện đó ở Việt Nam với các nhà báo. Đấy là chưa kể đến tham nhũng trong việc mua bán vật tư để thi công đường dây này.

Vì thế, khi đường dây làm đến địa phận miền Nam, Đài TNVN (Cơ quan thường trú tại TP HCM) cử tôi đi viết tin bài về công trình đường dây này, tôi không đi và còn phát biểu rất gay gắt trong cuộc họp phân công ai đi viết bài. Giám đốc Cơ quan thường trú lúc đó là ông Hồng Mão phải gào lên: – Không đi thì thôi, anh Khải đừng phát ngôn như thế mà đi tù cả cơ quan! Cuối cùng, nhà báo Đặng Xuân Mai của cơ quan tôi, cháu gọi ông Trường Chinh là ông (ông bác) phải đi thế tôi. Đi về, ông Mai đã kêu trời về sự vất vả của công nhân, phải gùi từng can nước ngọt lên đỉnh núi để đổ bê tông!

Đương nhiên làm thì có đúng có sai, với tôi, Võ Văn Kiệt luôn là hình ảnh của một con người suốt đời tận tâm, tận lực với đất nước, với dân tộc cho dù ở ông ý thức hệ hay chiến tuyến nào.

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài trước: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 33)

Đọc bài tiếp theo: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 35)

 

2 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 34)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s