Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 33)

Ông Võ Văn Kiệt
Ông Võ Văn Kiệt

Võ Văn Kiệt

Ông Võ Văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa, là con út trong một gia đình nông dân không ruộng đất ở xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long. Ở quê, ông thường được gọi là Chín Hòa, theo cách gọi của Nam Bộ. Ở ấp Bình Phụng làng Trung Lương (nay là xã trung Hiệp) ai cũng biết ông Phan Văn Dựa và bà Võ Thị Quế là gia đình nghèo, không ruộng đất, không có cả đất thổ cư, chỉ có đôi bàn tay lao động làm mướn, hoặc mướn ruộng để làm. Nhà có 8 người con, 6 trai, 2 gái. Năm 1922, hạn hán mất mùa, người làm mướn nhiều, người thuê mướn thì ít, cuộc sống gia đình ông Phan Văn Dựa càng khốn khó. Một người bà con xa đẻ hoang đến nhờ bà Quế nuôi vú đứa trẻ, vừa để tránh tai tiếng, vừa để giúp bà Quế một số tiền nuôi con trong lúc ngặt nghèo. Thấy tình cảnh đó, ông chú họ Phan Văn Chi không có con nên xin Chín Hòa về nuôi. Chín Hòa ở với ông già nuôi phải đi bú thép, tức bú chực, bú nhờ dòng sữa tình thương của bà con làng xóm. Lớn lên Chín Hòa chỉ học bập bõm với ông giáo dạy trong xóm. Mười hai tuổi Chín Hòa đi làm mướn, gánh nước, coi trâu. Mười bốn tuổi Chín Hòa đi ở đợ cho gia đình bà Sáu Hộ trong làng, xay lúa, giã gạo… quần quật suốt ngày. Mười lăm tuổi Chín Hòa đã đi ở đợ cho một chủ khác, làm vườn, chăn gà, giặt giũ quần áo cho chủ. Năm 1938 mẹ mất, Chín Hòa về chịu tang. Tại đám tang, người thanh niên Chín Hòa có dịp gặp ông Hà Văn Út đến chia buồn. Ông Út đã cảm hóa và giác ngộ được nhiều thanh niên về “quốc sự” trong đó có Chín Hòa. từ đó, Chín Hòa thấy trong lòng có một cái gì đó gợi mở, vươn tới. Vừa lúc đó “Hội Tương tế ái hữu” ra đời, tổ chức giúp đỡ người nghèo khó, bệnh hoạn, tang tế. Chín Hòa cũng một người ở mướn là chị Năm Mão tích cực tham gia hoạt động trong Hội tương tế rồi tìm thầy học văn hòa, học võ, tìm học nhiều việc, nhiều nghề.

Chín Hòa sau đó đã bàn với ông chú cho anh đi thoát ly để hoạt động như các anh chị hoạt động cách mạng thường lui tới nhà vận động. Ông chú đồng ý cho Chín Hòa đi ở đợ một mùa (6 tháng) để lấy tiền nuôi gia đình, thời gian còn lại đi hoạt động. Từ đó, anh có quan hệ rộng rãi ngoài xã hội, hoạt động theo yêu cầu của tổ chức, đi giao liên, chuyển tài liệu bí mật. Anh hoạt động tích cực, được sự tín nhiệm của cán bộ huyện, tỉnh. Chín Hòa được đồng chí Châu Xương (tức Tạ Uyên) kết nạp vào Đảng. Gần ngày khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) anh được cử làm bí thư xã Trung Hiệp.

Pháp thất thế, rồi Pháp-Xiêm đánh nhau, cả Lục tỉnh Nam kỳ rạo rực.

Đêm 22.11.1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, Chín Hòa lúc đó 18 tuổi, là người dẫn đầu quân khởi nghĩa của hai xã đánh đồn Nước Xoáy. Nhà văn Thép Mới đã ghi lại lời Võ Văn Kiệt kể: “Tôi được mang lực lượng hai xã đi làm nhiệm vụ chiếm bắc Nước Xoáy. Đến 23 tháng 11 trước nửa đêm, chúng tôi từ quê nhà mình xuất phát, khoảng một trăm anh em, phần lớn là thanh niên trong tay chỉ có giáo mác, gậy gộc, hành quân lội bộ 10 kilômét, cứ thẳng đường cái mà đi. Chúng tôi, ngoài cây mác còn có một ống loa làm bằng sắt thùng, trong đầu chỉ có một phương án tác chiến thô sơ, hết sức ấu trĩ vì chỉ tính có một tình huống là thắng mà thôi.

Lúa mùa lên đã hơi cao. Đoàn quân đi cướp đồn lòng vui như lúa vậy. Con sông Mang Thít xanh đen. Đồn lính bên kia sông thuộc quận Tam Bình, phải qua bắc (phà) mới sang được. Vừa lúc đó, có một chiếc xe hơi du lịch từ Vũng Liêm lên. Đó là xe của một tên cai tổng trong vùng, chỉ có lái xe, không có chủ ngồi. Chúng tôi chặn xe lại, bắt xe gọi phà qua rước. Xe rọi đèn, bắt phải chèo qua ngay. Cả một trăm người theo chiếc xe con xuống bắc hết. Công nhân bắc thấy lạ, chúng tôi trấn tĩnh họ ngay, ra lệnh cứ chở sang đến bờ bên kia, xe bò lên rọi đèn thấy rõ đồn, lính ngủ trong mùng, nằm la liệt trước đồn, vài tên lính gác đứng lớ ngớ chừng như buồn ngủ rũ.

Xe tới ngang đồn, chúng tôi cho người giữ xe đứng lại, còn toàn bộ lực lượng ráp vô đồn. Lính đang ngủ trở tay không kịp, chạy toán loạn. Chúng tôi vây bắt lại tước hết súng, rồi theo kế hoạch đã định, phân công người mang đục, búa xuống đục chìm phà thả theo nước lớn. Một số anh em khác leo lên dùng giáo, mác chặt đứt hết dây thép cắt đường thông tin liên lạc. Xong xuôi tất cả, tôi mới leo lên cổng đồn bắc loa kêu gọi đồng bào nổi dậy đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc phong kiến. Lấy xong đồn Nước Xoáy chúng tôi ung dung lắm, phấn khởi lắm, đinh ninh là giờ này Sài Gòn với thị xã Vĩnh Long cũng nổi dậy xong. (Trích khởi nghĩa Nam kỳ ở Vĩnh Long – Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Vĩnh Long xuất bản).

Vì không nhớ ngày sinh nên ông Kiệt lấy ngày Nam kỳ khởi nghĩa làm ngày sinh nhật của mình: 23 tháng 11. Cũng vì thế mà đến năm ông tròn 85 tuổi, theo gợi ý của tiến sĩ Tô Văn Trường, tôi đã viết một bài mừng thọ ông trên báo SGGP số ra ngày 23.11.2007, bài báo đó có nhan đề “phong độ, bản lĩnh và sáng tạo”. Kết thúc bài báo tôi nhớ đến hình ảnh người thanh niên 18 tuổi Chín Hòa dẫn đầu đoàn khởi nghĩa đi cướp đồn giặc năm xưa nên đã đề tặng ông một câu đối:

Áo vải cờ đào, thời thanh xuân là anh hùng cứu nước

Giấy trắng mực đen, tuổi tám lăm thành hào Kiệt của Dân.

Chữ “Kiệt” và chữ “Dân” tôi viết hoa là có ý “chơi chữ” vì Kiệt và Dân đều là tên của ông: Sái Kiệt, Sáu Dân!

Ngày 11.6.2008 ông ra đi. Để kỷ niệm lần thứ 86 ngày sinh của ông, tôi đã tập hợp 7 bài viết của mình khi ông còn sống cũng như sau ngày mất và nhiều bài của các tác giả khác để cho in cuốn sách nhan đề: “hào Kiệt của Dân”. Chữ “hào” và chữ “của” viết thường, chữ “Kiệt” và chữ “Dân” viết hoa để “chơi chữ”. Nhưng ông trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy Phan Xuân Biên kiên quyết không cho lấy tên sách như thế. Ông ta sợ… ông ta đề phòng… ông ta lo xa… như tôi đã nói ở đầu sách. Cuối cùng sách phải lấy tên là Võ Văn Kiệt, một cái đề sách rất “trung bình”, do Nhà xuất bản Tổng hợp Tp HCM in năm 2008(!). Có người đã mắng tôi:

– Sao anh ngu thế! Sao không đem sách về tỉnh Vĩnh Long mà in! Có lẽ tôi ngu thật. Nghĩ đến bây giờ vẫn tiếc.

Lần đầu tiên tôi gặp ông Võ Văn Kiệt là vào năm 1988, khi đó ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đi khảo sát kiểm tra vùng khai hoang Đồng Tháp Mười ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Đêm đoàn ngủ lại ở nông trường khai hoang trồng khóm (dứa) tân Lập thuộc tỉnh Tiền Giang, tỉnh có 90.000 hecta thuộc Đồng Tháp Mười.

Tôi đã nhận ra ngay từ phút đầu gặp gỡ, Võ Văn Kiệt là một con người hóm hỉnh, humour (khôi hài). Từ đó về sau, tôi không nhớ đã gặp ông bao nhiêu lần “trên từng cây số” ở Đồng bằng Sông Cửu Long, ở các hội nghị hay ở nhà riêng 16 Tú Xương của ông. Trong suốt cuộc đời làm báo quốc doanh gần 30 năm cho đến lúc về hưu (2002), tôi đã trực tiếp tháp tùng, ghi âm, đưa tin, viết bài về hoạt động của 5 đời thủ tướng, từ Phạm Văn Đồng đến Phan Văn Khải nhưng chỉ có Võ Văn Kiệt là để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng tôi. Cũng xin mở ngoặc nói thêm, như đã nói ở phần trên, các phóng viên ở nước ta chỉ cần làm báo được dăm năn là phấn đấu vào Đảng, tìm một ghế phó phòng, trưởng phòng biên tập để tiến thân bằng con đường quan chức trong nghề báo. Có ghế rồi, họ ngồi ở tòa soạn, có phòng lạnh, sa long, tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn nọ, sai phái phóng viên đi viết tin này, bài kia, và họ chỉ biết có bốn bức tường. Tôi làm phóng viên suốt đời, lúc về hưu hưởng lương phóng viên bậc 10/10, rất thấp, được có 850.000 đồng vào năm 2002. Nhưng tôi rất bằng lòng với công việc mình lựa chọn vì tôi được trực tiếp làm việc, quan sát hoạt động của xã hội. Trong các đợt đi công tác, đến các điểm nóng của đất nước, đến các hội nghị, các cuộc họp báo, tôi luôn là anh phóng viên nhiều tuổi nhất và cũng là người quen biết nhiều, đó là lợi thế của một người cầm bút. Một quy định rất quái gở của nhà nước là, nếu một cuộc hội nghị có Thủ tướng Chính phủ chủ trì thì chỉ có báo, đài loại A gồm: Thông tấn xã VN, Báo Nhân dân, Đài Tiếng nói VN và Đài Truyền hình VN là được dự, các báo ngành, báo địa phương không được dự. Tôi thuộc loại báo A nên luôn được tiếp cận các cuộc họp do Thủ tướng chủ trì (ở phía Nam).

Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người mà tôi may mắn nhiều lần được tiếp xúc, làm việc do ở vị trí người lính “xung kích” của nghề báo, đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng đẹp, trước hết là ở thái độ lắng nghe, dám nghe, chấp nhận đối thoại với mọi tầng lớp, đặc biệt là giới trí thức, văn nghệ sĩ, báo chí. Anh em trí thức thành phố Sài Gòn lưu truyền một câu chuyện có thực là sau 30.4.1975 nhiều trí thức đã vượt biên và ông Kiệt là người đi đón các anh em trí thức đó về khi vượt biên không thành, bị giữ. Trong một cuộc họp với giới trí thức thành phố, ông nói đại khái: – Anh em cố nán lại, nếu trong vòng ba năm nữa mà tình hình không thay đồi thì anh em không cần phải vượt biên mà chính ông sẽ là người tiễn anh em đi. Một vị trí thức có tên tuổi lúc đó đã đứng lên nói: – Nếu ba năm nữa mà tình hình không thay đổi thì người ra đi là chính các ông chứ không phải chúng tôi! Không khí hội nghị trở nên căng thẳng, ai cũng lo cho số phận của ông trí thức “to gan” ấy. Nhưng sau đó đã không có gì xảy ra.

Nhà báo Lưu Trọng Văn, con trai nhà thơ nổi tiếng Lưu Trọng Lư có kể với tôi rằng, trong một cuộc gặp gỡ lãnh đạo báo chí, mọi người hùa theo, tâng bốc lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt nhưng Lưu Trọng Văn đã phản bác hoàn toàn ý kiến ông Kiệt, lời lẽ anh còn gay gắt nặng nề. Ông Kiệt đã nổi nóng…

Nhà báo Lưu Trọng Văn kể tiếp: – Tôi quan sát rất kỹ, ông ta giơ tay lên, định đập mạnh xuống bàn. Nhưng khi bàn tay sắp chạm mặt bàn thì… ông dừng tay lại… ôn tồn nói và sau đó còn gặp riêng tôi để trao đổi. Khi đã hiểu nhau rồi thì ông tỏ ra rất hài lòng với tôi.

Nhà thơ Nguyễn Du có lần đến nhà tôi chơi, dự một bữa liên hoan vui vẻ cùng bạn bè, anh kể cho mọi người nghe, đại ý… có lần tại nhà Nguyễn Quang Sáng, các anh liên hoan tiễn ông Sáu Kiệt đi ra trung ương nhận nhiệm vụ. Cao hứng, Duy có đọc cho ông Kiệt nghe bài thơ có tên là: “Đánh thức tiềm lực”. Đây là một trong những bài thơ nổi tiếng của Duy, phê phán gay gắt các nhà lãnh đạo đất nước thời đó (đầu thập kỷ 80) vì “Tiềm lực còn ngủ yên trong bộ óc mang khối u tự mãn”, vì “Tiềm lực còn ngủ yên trong lỗ tai viêm chai màng nhĩ”. Nhà thơ Nguyễn Duy kết luận: “Ông Kiệt ngồi yên lắng nghe, sau đó ông nói: – Nặng lắm nhưng chịu được!”.

Võ Văn Kiệt là người chịu được những lời chỉ trích nặng nề của nhân dân đối với lãnh đạo. Đó là phẩm chất của một nhà lãnh đạo có bản lĩnh và trung thực. Viết đến đây tôi lại nhớ đến ông Phạm Văn Đồng. Anh bạn tôi là một giáo viên của trường trung học Chu Văn An, tức trường Bưởi cũ, nơi ông Đồng đã từng học. Khi ông là Thủ tướng, nhà trường kỷ niệm ngày thành lập trường, có mời Thủ tướng, học sinh cũ của trường Bưởi về dự. Trước buổi Thủ tướng đến, anh thư ký của Thủ tướng đến trước, họp với Ban giám hiệu và giáo viên, dặn dò rằng: Đừng nói gì những chuyện gay gắt, tiêu cực trong xã hội làm ảnh hưởng đến sức khỏe Thủ tướng! Các nhà lãnh đạo của ta là rứa! Chỉ thích nghe tâng bốc, nịnh bợ!

Riêng với tôi, may mắn được nhiều lần trò chuyện tâm tình với ông Kiệt (khi ông đã thôi làm Thủ tướng, có thời gian rảnh rỗi…), tôi ghi nhận được nhiều điều. Lần tôi thay mặt tạp chí “Nghề báo” của Hội nhà báo thành phố HCM, phỏng vấn ông những vấn đề xoay quanh quan hệ giữa báo chí và chính trị, đi sâu vào những chuyện ngóc ngách của nghề báo… của mọt tạp chí chuyên ngành, chuyên sâu về báo chí này… Ông cho thư ký kêu tôi lên vào buổi tối để có nhiều thời gian làm việc. Tại buổi tối làm việc đó ở 16 Tú Xương, ông Kiệt kể cho tôi nghe sự gắn bó của ông với báo chí từ những ngày chống Pháp xa xưa. Ông “khoe”: “Thời chống Pháp lúc tôi phụ trách huyện rồi lên tỉnh, cơ quan của huyện và cơ quan của tờ báo “Tiếng súng kháng địch” của Quân khu 9 đều ở trong tỉnh Rạch Giá. Tôi quan hệ thân thiết với các nhà báo và được biết sớm các thông tin, nhất là tin chiến trường. Tôi thường xuyên liên hệ và cùng trao đổi tình hình với anh em ở báo Tiếng súng kháng địch của Quân khu 9 như: Rum Bảo Việt, Lê Minh Hiền, Ung Văn Khương. Đó là thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau này, trong kháng chiến chống Mỹ thì tôi thường liên hệ với anh em báo Giải phóng của R (Trung ương Cục) và anh em đặc trách báo chí công khai ở Sài Gòn”. Ông cũng cho tôi cái nhìn toàn cảnh và công bằng về báo chí TP HCM sau 1975: “Sau ngày giải phóng ta tiếp quản đài truyền hình, đài phát thanh và phát sóng sớm nhất. Còn báo viết thì mất mấy ngày sau mới có báo Sài Gòn Giải phóng. Thành phố cũng nhanh chóng tiếp nhận báo Nhân dân, báo Quân đội Nhận dân nhưng số lượng không nhiều và thông tin chưa thật sát với bà con thành phố. Đối với dân Sài Gòn, từ lâu đọc báo như một nhu cầu thành thói quen không thể thiếu vào buổi sáng. Việc thay đổi và thiếu báo như thế làm bà con có phần hụt hẫng. Vì vậy chúng tôi cùng với anh em tuyên huấn tập trung lo cho báo chí rất nhiều, nhanh chóng cho xuất bản các tờ Tuổi Trẻ, Phụ Nữ, Công nhân Giải phóng… Thành ủy còn có chủ trương rất sớm cho tờ Tia Sáng – tờ báo của anh em đối lập với chính quyền Sài Gòn trong kháng chiến chống Mỹ tiếp tục xuất bản hàng ngày. Vài tháng sau, tờ Công giáo và Dân tộc được ra mắt bạn đọc. Rồi tiếp đến thêm tờ Giác ngộ của Phật giáo phát hành. Lực lượng báo chí hợp lại ngày càng mạnh. Nhưng phải đánh giá công bằng rằng, bên cạnh các tờ báo của Đảng, của các đoàn thể, vai trò của báo Tia Sáng, báo Công Giáo và Dân Tộc, báo Giác Ngộ đã góp phần tích cực trong những năm đầu giải phóng, đúng như chủ trương của Thành ủy và ủy ban lúc bấy giờ. Chính thói quen tốt – đọc báo – của Sài Gòn giúp họ biết các chủ trương của chính quyền những ngày đầu giải phóng. Vì thế lúc bấy giờ, chúng tôi quan tâm chăm sóc và góp sức nhiều với anh em làm báo…”. Khi bàn đến quan hệ giữa người lãnh đạo và báo chí, ông khẳng định: “Báo chí là một kênh thông tin rất quan trọng, không thể thiếu được với lãnh đạo và điều hành đất nước. Khi tôi điều hành chính phủ, ngoài trực tiếp đọc, nghe một số thông tin cần thiết, hàng tuần anh em TTXVN còn đến báo cáo tổng hợp. Văn phòng chính phủ có một Vụ theo dõi báo chí, điểm báo hàng ngày, tóm lược những thông tin trên báo chí những bài có liên quan đến công việc điều hành của Chính phủ, giúp cho sự chỉ đạo, khẳng định cái đúng cũng như giải quyết những việc chưa phù hợp, qua đó biết những mặt tích cực và tiêu cực của xã hội, cũng như trong bộ máy nhà nước, những trì trệ, cửa quyền v.v. Điều này rất có lợi vì ta truyền tải thông tin qua thông tin đại chúng, đại chúng cũng qua báo chí phản ánh tình hình trở lại với Đảng, với nhà nước. Qua thông tin trên báo chí, người điều hành có thể giải quyết, xử lý, phát hiện những cái mà bên dưới chưa kịp báo cáo hoặc không đi vào ngóc ngách như báo chí. Có nhiều trường hợp, ví dụ như qua nghe đài, xem báo và điểm báo, có vấn đề gì liên quan đến các Bộ, Ngành, địa phương thì kiểm tra lại thông tin hoặc trích chuyển bên dưới trực tiếp giải quyết, thấy cần thì cho người kiểm tra trực tiếp hoặc giao cho cơ quan thanh tra xác minh những sự việc thông tin trên báo chí.”

Ông cũng phản đối việc phân báo chí ra thành loại A, loại B như tôi đã kể ở trên. Ông mạnh mẽ khẳng định: “Chúng ta có hàng chục nghìn nhà báo đang có mặt ở khắp mọi miền đất nước, am hiểu thực tế và có thể nắm bắt kịp thời mọi diễn biến xã hội. Nếu chỉ sử dụng báo chí nói một chiều theo ý mình, sẽ không phát huy được tính năng động sáng tạo của đội ngũ nhà báo đông đảo đó. Báo chí “một chiều” chỉ có thể trở thành những công cụ dễ dàng làm vừa lòng mình nhưng không thực sự giúp được gì cho mình. Trong điều kiện một Đảng lãnh đạo, báo chí cảng cần phải trở thành một kênh thông tin từ nhân dân, một công cụ giám sát quyền lực. Nhà nước của nhân dân, vừa phát hiện và vừa đóng vai trò phản biện. Nếu báo chí thụ động, các nhà báo cứ quen chờ đợi sự chỉ đạo, chúng ta sẽ thường xuyên bị động trên mặt trận thông tin. Về kinh tế, Việt Nam đã từng bước hội nhập. Về phương diện thông tin, Việt Nam càng không thể biệt lập với bên ngoài. Trong thời đại ngày nay, nếu báo chí trong nước tạo ra bất cứ khoảng trống nào về thông tin, báo chí bên ngoài sẽ ngay lập tức chiếm chỗ. “Bức tường” tốt nhất để ngăn cản các thông tin xấu là chủ động thông tin và tạo ra không khí đối thoại cởi mở trong xã hội.

Báo chí cũng đang đứng trước không ít cám dỗ. Nếu coi báo chí như là một thứ quyền lực đứng trên Pháp luật thì nhà báo dũng rất dễ bị tha hóa. Các nhà báo và các hoạt động báo chí cũng rất dễ bị tha hóa. Các nhà báo và các hoạt động báo chí cũng phải được đặt dưới sự chế tài của luật pháp. Ngược lại, xử lý những sai sót của báo chí và của các nhà báo cũng phải căn cứ vào pháp luật. Tôi tin rằng, các nhà báo chân chính, dám nói tiếng nói của đông đảo quần chúng nhân dân, không cầu an khi dấn thân vào nghề này. Nhưng sẽ không công bằng khi những nhà báo thật sự dũng cảm, dám đương đầu với tham nhũng, chống lại cái xấu và cổ động cho cái mới, tốt đẹp lại phải chịu nhiều “bầm dập”.

 Cuối cùng, điều mà tôi cho là then chốt nhất với báo chí là phản ánh sự thật. Trong vấn đề này, tôi không ngờ ông Võ Văn Kiệt “dám” trả lời công khai với một tờ báo “lề phải” rằng: “Trên tinh thần cầu thị, chúng ta sẵn sàng nghe những ý kiến phản ánh sai sót, khuyết điểm của mình nếu đó là sự thật, không phân biệt ý kiến đó là của ai, với động cơ gì!”

Tôi thực sự xúc động khi nghe ông trả lời như thế: “Nếu đó là sự thật!”, và không phân biệt lời nói đó “là của ai, với động cơ gì”!

Một chế độ độc tài toàn trị bao giờ cũng tồn tại trên sự dối trá, lừa mị nhân dân. Người ta đã chế tạo ra cả điều 88 của bộ luật này nọ để sẵn sàng còng tay bất cứ ai nói lên sự thật, và sẵn sàng vu khống cho người đó là “lợi dụng dân chủ để chống phá nhà nước” v.v. và v.v.

Chỉ có những người cách mạng chân chính mới dám chấp nhận nghe sự thật. Tôi không đồng ý với những người chống cộng cực đoan: – Hễ là “cộng sản” thì không chơi được! Ông Kiệt là một người cộng sản “chơi được” theo tôi nghĩ. Chỉ cần tiêu diệt, lật đổ một thể chế sinh ra cái xấu, cái ác. Không bao giờ tiêu diệt con người. Ngay cả chế độ phong kiến thối nát, lạc hậu là thế, nhưng cũng có những ông vua sáng, những ông quan thanh liêm. Họ có vai trò nhất định của họ trong lịch sử. Và, lịch sử là sự nối tiếp, kế thừa. Phải nghĩ như vậy và phải làm như vậy, nhất là đối với hoàn cảnh của Việt Nam. Có lẽ, nói về sự tôn trọng ý kiến đối lập của ông Võ Văn Kiệt thì không gì hơn là câu chuyện của nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng – Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ, bút hiệu là Hà Sĩ Phu. Năm 1988, anh Phu viết bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” xôn xao dư luận cả nước. Ông Nguyễn Văn Linh rất thù ghét bài viết này. Thời ông làm Tổng bí thư đã có chỉ đạo cho giới cầm bút, đúng hơn là giới bồi bút, phải “đánh” bài đó. Đầu năm 1989, tôi từ Mỹ Tho lên Đà Lạt thăm anh Phu, anh Phu kể: – Tôi là “anh hùng bắt buộc” vì tôi viết “chơi” thế thôi, ai dè chị Đặng Thị Nga, con gái của cụ Trường Chinh đã gửi cho các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị mỗi người một bản. Tôi lại hỏi anh Phu: – Thế ý kiến của BCT thế nào? Anh Phu trả lời: – Chỉ có ông Kiệt nói rằng: “Người ta viết ra, nếu mình thấy không chấp nhận thì thôi…”

Nếu mỗi người lãnh đạo Việt Nam đều nghĩ được như ông Võ Văn Kiệt thì “Đảng ta” không đến nông nỗi như ngày nay!!!

Cuộc phỏng vấn của tôi tối hôm đó với ông Kiệt kết thúc tốt đẹp. Lúc chia tay, ông vỗ vai tôi nói: – Tôi nghĩ, phần lớn các nhà báo không chọn báo chí như là một nghề chỉ để kiếm sống, có phải không nhà báo?

Còn có gì hạnh phúc hơn với một nhà báo khi được người ta nghĩ về nghề nghiệp của mình như thế.

(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài trước: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 32)

Đọc bài tiếp theo: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 34)

One thought on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 33)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s