Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 24)

Lời Ai Điếu

Những năm 1980 là những năm diễn ra cảnh “ngăn sông cấm chợ” khủng khiếp nhất ở nước ta. Ở ĐBSCL, nơi có nhiều hàng hóa nông sản nhất nước, cảnh ngăn sông cấm chợ càng tệ hại nhất. Trạm thuế Tân Hương, vị trí giáp ranh của tỉnh Tiền Giang với Long An là địa danh khét tiếng một thời. Xe cộ từ các tỉnh miền Tây lên đến đây bì ùn tắc vì phải đỗ lại để quản lý thị trường khám xét. Khách hàng phải xuống hết để nhân viên quản lý thị trường lên xe săm soi từng cái gầm ghế. Một kg gạo, một trái dừa khô, một kg đường cũng bị tra hỏi. Có anh bộ đội về phép thăm nhà, đem 10 kg gạo, khi bị quản lý thị trường giữ, anh ta nói: có giấy phép của ông Đỗ Mười, quản lý thị trường quát: Đỗ mười một cũng tịch thu nữa là đỗ mười! Cái giai thoại trên ra đời ở cái vùng nhiều lúa gạo nhất ở nước này là ĐBSCL.

Tôi đã có lần đi qua trạm Tân Hương, lấy máy ảnh chụp đoàn xe nối đuôi nhau cả cây số để chờ khám xét, đã bị quản lý thị trường trạm này bắt, nhốt vào cái phòng tối om cả nửa ngày, mặc dù trước đó tôi đã trình thẻ nhà báo nhưng vẫn bị họ tịch thu cuộn phim trong máy ảnh. Khi về cơ quan thường trú ở TP HCM báo cáo việc này, giám đốc Nguyễn Thành bảo tôi viết một bài ghi nhanh ở Tân Hương, nhưng khi thu băng rồi, gửi ra Hà Nội, Đài TNVN cũng không dám phát, vì lúc đó quản lý thị trường là một “chủ trương lớn của Đảng và nhà nước”! Nhưng nói đến chuyện ngăn sông cấm chợ ở ĐBSCL thời thập niên 1980 của thế kỷ 20 thì phải kể đến chuyện đường sông mới là đáng nói. Vì đa số hàng hóa ở vùng này đều do đường sông đảm nhiệm việc chuyên chở. Sông Tiền và Sông Hậu rộng mênh mông nối với mạng lưới kinh rạch chằng chịt ở đồng bằng, có nhiều nơi hẻo lánh và đặc điểm của vận tải sông là ghe thuyền chạy suốt đêm ngày (động cơ của nó có cấu tạo để luôn có nước sông làm mát máy không như ô tô chạy trên bộ). Các trạm thuế vụ, trạm quản lý thị trường lại đều được trang bị súng… nên họ lộng hành và dân vận tải sông “rên xiết dưới sự kiểm soát của họ”. Một cái ghe chở hàng nặng mấy chục tấn, đang chạy giữa sông Tiền sông Hậu rộng mênh mông, chỉ cần nghe một tiếng súng nổ trên bờ là phải quay vào để thuế vụ, quản lý thị trường kiểm tra giấy tờ, khám xét hàng hóa. Nếu đủ giấy tờ và không chở hàng “lậu” thì cũng phải nộp tiền chi phí phát đạn. Giá tiền một phát đạn như thế muốn tính bao nhiêu cũng phải chịu. Trên thế giới này có lẽ không đâu có cách phạt vạ người dân kỳ lạ và tàn bạo như thế. Người ta đua nhau vượt biên, bất chấp sống chết vì lối cai trị và cách phạt vạ người dân kiểu Việt cộng như thế! Tôi đã đi theo một đoàn ghe 5 chiếc, mỗi chiếc có trọng tải 25 tấn của hợp tác xã vận tải đường sông Rạch Gầm tỉnh Tiền Giang chở gạo thuê cho nhà nước từ các kho của tỉnh Kiên Giang lên kho của Tổng công ty lương thực miền nam ở Tp HCM. Cả đi lẫn về 11 ngày liền nên tôi được chứng kiến tận mắt cảnh các trạm kiểm soát dọc đường sông ở Đồng bằng sông Cửu Long đã hành hạ các chủ ghe và thủy thủ của họ như thế nào. Có chủ ghe nói thẳng với tôi là sẽ tu sửa ghe cho thật tốt rồi đưa cả gia đình, vô con đi vượt biên không thể sống với các ông cộng sản được! Sau chuyến đi đó, tôi đã viết bài điều tra mang tên “Đi theo những con thuyền mang tên Rạch Gầm”, báo Sài Gòn giải phóng đầu năm đó (1986) đã đăng bài phóng sự này. Chính đại tá Hoàng Cuông, trưởng ty Công an Hải Hưng năm xưa, người được tướng Qua nhắc đến như một điển hình tốt của Bộ Công an đã đọc được bài báo đó khi ông nhận chức cục phó một cục của Bộ có cơ quan tại phía Nam. Đại tá Hoàng Cuông đã đi xe com-măng-ca nhưng đổ ở đầu đường, đi bộ đến số nhà 30 Thạch Thị Thanh ở Q1 TP HCM để gặp tôi, theo hẹn, ông luôn “giữ bí mật” theo tác phong của ông. Gặp tôi ông hỏi chuyện về bài phóng sự đó. Tôi nói thẳng với vị đại tá công an này, là người ta sẽ bỏ nước đi hết nếu Đảng không thay đổi đường lối lãnh đạo, vẫn ngăn sông cấm chợ kiểu dã man trung cổ này!

Đó là chuyện tôi viết báo công khai, tôi còn làm “báo cáo mật” cho chủ tịch Tiền Giang Nguyễn Công Bình về việc các trạm thuế trên các đường sông. Đó là một lần tôi đi lang thang bên rạch Bảo Định ở Mỹ Tho, tôi nghe thấy một bà chủ ghe dưới rạch lớn tiếng than: kỳ này về tôi sẽ đốt ghe, không đi buôn nữa! Tôi vội lao xuống xem sự tình thế nào. Thấy chiếc ghe khác lớn mang biển số KG, tôi biết là ghe của tỉnh Kiên Giang. Bà chủ ghe cho tôi hay, ghe của bà có trọng tải 21 tấn, bà chở đủ 21 tấn khoai mì (sắn) lên thành phố bán, nhưng đi qua các tỉnh, các trạm thuế đều bắt đóng thuế “bổ sung”, lấy lý do bà chở quá 21 tấn quy định. Nếu không đóng thuế “bổ sung” thì phải dỡ khoai mì lên cân lại. Bà than: bốc đủ 21 tấn lên cân lại thì bằng thắt cổ tôi cho xong! Đó là cách bắt chẹt, bóp cổ dân của các trạm thuế. Một điều thật kinh hoàng là, ghe của bà sau khi cộng hết số hóa đơn “bổ sung” của các trạm thuế đường sông (trong đó có trạm Kinh Nước Mặn tỉnh Long An không thua gì trạm Tân Hương trên đường bộ) đã lên đến 20 tấn, xấp sỉ trọng tải chiếc ghe 21 tấn của bà. Đến Kinh Nước Mặn, chồng bà phải tháo chiếc đồng hồ senko đeo tay để trạm thuế “cầm”, như người ta “cầm đồ”, đợi khi nào lên TP HCM bán được khoai mì, lúc trở về sẽ “chuộc”(!) Cũng còn may là lên đến TP, bà không phải đóng thuế nhờ chính sách miễn thuế cho các ghe chở lương thực (như khoai mì) cứu đói cho thành phố. Nơi đây muốn có khoai mì để cán bộ công nhân viên và nhân dân TP ăn sáng. Đó cũng là chính sách “xé rào” của TP HCM một thời. Tôi hỏi bà chủ ghe cho biết tên những trạm thu thuế bổ sung, thì được biết đó là các trạm: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành … Tôi xin bà các hóa đơn đó, bà cho ngay (trong đó có cả giấy biên nhận giữ đồng hồ của chồng bà ở trạm thuế Kinh Nước Mặn, khi bà quay về chuộc lại họ quên không đòi lại giấy để hủy). Với đầy đủ chứng cứ trong tay, suốt đêm tôi viết “báo cáo mật” về vụ đánh thuế chiếc ghe biển số Kiên Giang đầy oan nghiệt… (có kèm theo đầy đủ hóa đơn thu thuế bổ sung). Sáng hôm sau tôi đem đến báo cáo chủ tịch tỉnh Nguyễn Công Bình. Xem xong “báo cáo mật” của tôi, ông chủ tịch đập tay xuống bàn rất mạnh và không nói câu nào cả. Đến kỳ họp giao ban hàng tuần, có đầy đủ các ty, ban, ngành trong sở, chủ tịch Sáu Bình đã phê phán gay gắt ngành tài chính và các trạm thuế. Ông đập tay xuống bàn rồi giơ tập hóa đơn thuế bổ sung lên nói to trước cuộc họp: thế này thì chúng ta trở thành kẻ cướp rồi, đâu phải chính quyền cách mạng!

Một ông trưởng ty ngồi cạnh tôi, ghé vào tai tôi nói nhỏ: đây là bọn công an kinh tế tỉnh nó “chơi” bọn tài chính thuế vụ đấy! (không ai biết là tôi đã “báo cáo mật” bằng văn bản cho chủ tịch Sáu Bình). Đến buổi chiều, chủ tịch cho gôi tôi đến, bão tôi viết thay ông lá thư xin lỗi bà chủ ghe ở Kiên Giang. Ông cho tôi hay: sẽ theo địa chỉ ghi tên bảng hiệu của ghe và tên bà chủ để cử cán bộ xuống Kiên Giang xin lỗi bà, bồi hoàn số tiền mà tỉnh Tiền Giang đã 9ánh thuế oan với bà.

Chủ tịch tỉnh Tiền Giang là một người như thế, ông nổi tiếng là sáng suốt, cương trực và liêm chính. Nhiệm kỳ chủ tịch tỉnh của ông, tỉnh Tiền Giang đứng đầu ĐBSCL về nhiều mặt. Tôi có nhiều kỷ niệm với ông khi làm việc tại Đài Phát thanh Tiền Giang. Có lần ông kêu tôi đi cùng đoàn làm việc của tỉnh vào nông trường khai hoang Tân Lập trong Đồng Tháp Mười làm việc liền ba ngày. Buổi sáng cuối cùng, trước khi về ông hỏi tôi, ba ngày qua đi xuống các đội sản xuất rồi làm việc với Ban lãnh đạo nông trường, với công đoàn nông trường… “nhà báo thấy có gì cần phải trao đồi không?” Tôi thưa với ông, mọi chỉ đạo của chủ tịch tôi thấy đều đúng, duy chỉ việc trồng cây dọc các bờ vùng bờ thuở của cái nông trường hơn 3000 ha này thì tôi thấy phải suy nghĩ lại. Tôi kể câu chuyện ông nội tôi làm thư ký cho Toàn Quyền Đông Dương, đi kinh lý các địa phương, khi cần làm việc gì, Toàn quyền đều giao cho chuyên gia, không bao giờ chỉ đạo cụ thể. Vì thế việc chủ tịch chỉ đạo trồng điều lộn hột, giao cho Sở Nông nghiệp nghiên cứu trồng cây gì thích hợp. Sau này bạch đàn lên tốt, cao vút, đường kính mỗi cây hai, ba tấc, ông Sáu đã chỉ đạo nông trường phải thưởng người kỹ sư đã tham mưu đúng (và cho cả tôi nữa).

Một kỷ niệm khác, trong chuyến đi Campuchia, thăm và đem quà tết của tỉnh Kiên Giang cho các bạn ở tỉnh kết nghĩa Puasat, khi đoàn dân-quân-chính của tỉnh về nước rồi, là người có mặt trong đoán đi, tôi làm một bản báo cáo có số liệu về địa lý, kinh tế, văn hóa của tỉnh bạn (có so sánh với số liệu của Tiền Giang) trình chủ tịch Sáu Bình để sau tết ông đi thăm tỉnh kết nghĩa này. Chuyến đi của ông sang thăm tỉnh bạn kết nghĩa đó ngay sau tết 1982 rất thành công. Nhưng không ngờ cuối năm đó, chủ tịch lại có cuộc viếng thăm nước bạn XHCN Bungari, ông đến tận nhà tôi, đề nghị tôi soạn giúp một văn bản giống như đã làm với chuyến thăm Campuchia trước đây để ông tham khảo cho chuyến đi Bun sắp tới. Tôi hoảng quá, báo cáo. thưa ông Sáu, tôi chưa đi Bun lần nào ạ. Ông chủ tịch vốn nghiêm nghị này nghiêm nét mặt bảo tôi: đồng chí không được… khiêm tốn! Rồi ông ra về. Sở dĩ ông có thái độ nghiêm nghị và dứt khoát như thế vì mấy hôm trước có đoàn nhà bào ở TTX Novoti Liên Xô đến thăm tỉnh, ông cũng đến vảo tôi: đồng chí đi nhiều nước rồi, có kinh nhgiệm, ngày mai đồng chí cùng các nhà báo của tỉnh tiếp khách cùng tôi. Tôi giao cho đồng chí việc đó. Tôi nói: Thưa ông Sáu tôi chưa đi nước ngoài bao giờ, trừ chuyến đi Campuchia năm ngoái. Ông Sáu nghiêm nét mặt bảo tôi: Đồng chí không được… khiêm tốn! Tôi đành sang Hội hữu nghị Việt-Xô của tỉnh mượn tất cả các số tạp chí của TTX Novoti phát cho anh em đọc và dặn anh em ngày mai đem các số báo ấy đi, đặt lên bàn cho khách người ta trông thấy và phát biểu nhận xét về tạp chí này. Khi thấy chúng tôi đều có tạp chí Novoti in bằng tiếng Việt đặt trước mặt và phát biểu rôm rả, đương nhiên là tôi phát biểu trước… bạn rất hài lòng. Cuộc đón tiếp đạt kết quả tốt nên mới có chuyện ông chủ tịch giao cho tôi soạn thảo tài liệu đi Bun và ông đinh ninh là tôi đi nhiều nước rồi sau cái vụ tiếp đoàn thông tấn Novoti(!)

Cùng tắc biến! Tôi lên TP HCM đến Hội trí thức thành phố và may mắn kiếm được cuốn “Bungari tự giới thiệu” bằng tiếng Pháp. Tôi đem về nhờ “thầy Quý chơi sách” dịch tóm tắt hộ về soạn thành tài liệu đưa trình chủ tịch sáu Bình. Tôi không quên ghi chú trong tài liệu rằng, trước khi chủ tịch về, nếu còn thời gian xin bạn cho đi dâng hoa viếng mộ nhà thơ X, thi hào của nước Bun như trong sách “Bungari tự giới thiệu” đã viết. Sau chuyến đi đó, chánh văn phòng ủy ban Sáu Kỳ, người tháp tùng chủ tịch đi Bun đem một cái khăn quàng phụ nữ rất đẹp, nói là quà của “chú Sáu” đi Bun tặng cho bà xã tôi. Sáu Kỳ cũng cho tôi hay, bạn rất phấn khởi khi nghe “chú Sáu” yêu cầu cho đi viếng mộ thi hào của nước Bun. Vì chưa có đoàn khách nào của Việt Nam, nhất là của một tỉnh mới giải phóng ở miền Nam lại có cử chỉ đẹp như thế.

Chưa hết. Tôi còn một kỷ niệm khó quên với chủ tịch Sáu Bình khi cùng ông đi khánh thành một cây cầu mới trong một xã vùng sâu ở huyện Cai Lậy. Cắt băng khánh thành xong, ông chủ tịch còn nán lại dặn dò cán bộ xã phải bảo quản cây cầu như thế nào. Lúc quay ra thì cậu lái xe (tên là Vũ) đi đâu mất. Xã phải cho người đi kiếm (miền Bắc gọi là đi tìm). Thì ra có một đám giỗ, Vũ bị bắt vào nhậu. Thấy có người đến kiếm, nói “chú Sáu” giận lắm, Vũ hoảng quá lái xe như bay về. Nào ngờ cái cầu mới khánh thành, bề ngang hẹp, Vũ tông ngay xe vào thành cầu. Cánh cửa xe Lada của chủ tịch bẹp dúm, thành cầu cũng bị “tổn thương”. Ông Sáu giận lắm. Lúc ngồi trên xe trở về Mỹ Tho ông không ngớt lời mắng Vũ, dọa sẽ kỷ luật. Xong rồi việc cũng đâu vào đấy. Vũ vẫn lái xe cho chủ tịch. Nhưng việc đáng ghi nhận là từ đó, cây cầu mới chưa kịp đặt tên ấy, đã “chết” tên là “Cầu ông Vũ”. Bà con cái ấp ấy vẫn gọi là “Cầu ông Vũ” cho đến tận ngày nay. Trong văn bản địa đồ của chuyện cũng chính thức ghi “Cầu ông Vũ”! Bởi có thế người ta mới biết mà hỏi đường. Và, nếu bạn đi lang thang ở Nam Bộ, nếu thấy một địa danh như Ấp Bà Bèo, cầu Bà Rượu, cầu Cái Vồn, cửa Sông Đốc, cửa Ông Trang, quận Cái Răng, cầu ông Tành, cầu Tắc ông Thục, xóm Kiến Vàng… thì đừng vội kết luận ngay đó là tên những danh nhân, địa danh nơi xảy ra những sự kiện lịch sử như Rạch Gầm. Có thể đó là tên một vị anh hùng hào kiệt nào đó có công lập ấp, lập làng, đánh đuổi trộm cướp, cá sấu, hùm beo khi ông bà ta đến mảnh đất này “mở cõi”, cũng có thể là một người bình dân như ông Vũ nhưng đã để lại cho xóm ấp những kỷ niệm đời thường, có thể vui, có thể buồn và đáng nhớ. Vậy thôi!

(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài trước: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 23)

Đọc bài kế tiếp: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 25)

 

2 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 24)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s