Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 23)

Lời Ai Điếu
Lời Ai Điếu

Nói về sự cởi mở của “anh Hai Nam Bộ” tôi phải dẫn thêm trường hợp ts Võ Tòng Xuân phản đối làm cầu Mỹ Thuận!

Tôi hỏi gs Võ Tòng Xuân: tôi nghe nói hồi sắp làm cầu Mỹ Thuật qua sông Tiền, ông phản đối? Giáo sư trả lời vô tư: đúng thế. Tôi bảo ông: vậy là ông điên rồi. Võ Tòng Xuân cãi: làm cầu thì mấy anh đi, tôi đi chứ nông dân có đi đâu! Thay vì dành tiền ấy thay các cầu khỉ cho nông dân đi, để bà con làm ăn khấm khá rồi thu thuế làm cầu cũng chưa muộn. Ngẫm nghĩ một lát rồi ông lại cười nói tiếp: tôi còn viết bài phân tích rõ lợi hại nói trên, vì thế lúc đó thủ tướng Võ Văn Kiệt mới la lên “Võ Tòng Xuân nó phát tôi!”. “Không chịu nổi”, tôi bảo Sg Xuâb: may đời cho anh, phải ông thủ tướng khác thì gặp nạn rồi(!) SG Xuân vẫn hồn nhiên: nhưng thủ tướng lúc đó bảo tôi: thư thả làm xong cầu, chính phủ sẽ thu thuế qua cầu, lấy tiền làm cầu thay cầu khỉ cho nông dân… vì câu nói đó của thủ tướng mà báo Thanh Niêntheo dõi việc thu thuế cầu để làm cầu… dài dài sau này.

Thì ra chuyện phản đối làm cầu Mỹ Thuận của Võ Tòng Xuân là có thiệt! Quả thật lúc này, tôi không còn thời gian để “chất vấn” Giáo sư Xuân về vụ nuôi tôm hay trồng lúa, “cứ có lợi là làm” của ông, mà nhiều nông dân đã cắt bài báo đó để trong túi làm “bùa hộ mệnh” để nuôi tôm… bạt mạng, bất kể phân biệt vùng quy hoạch mặn hay ngọt(!)

Võ Tòng Xuân là vậy. Nghĩ thế nào nói thế, chỉ tính hơn-thua cho nông dân, không tính lợi-hại cho mình hay bất cứ ai. Vì thế ông được nông dân Đồng bằng sông Cửu Long rất yêu quý, đồng thời cũng bị người có trách nhiệm quản lý toàn diện đôi lần nổi giận. Nhưng “giận mà thương”!

Nói về cái khuynh hướng tình cảm trong ứng xử, trong đời sống hàng ngày, tôi có ví dụ khá điển hình về một “anh Hai Nam Bộ” là Ba Tạo ở Cần Thơ. Năm 1985 sau khi trở về cơ quan thường trú của Đài Tiếng nói Việt Nam tại TP HCM từ Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang, nhưng vẫn “trụ” lại Mỹ Tho để thực hiện ý đồ “có người luôn có mặt, thường trú tại Đồng bằng sông Cửu Long” của giám đốc Nguyễn Thành, tôi tiến hành một cuộc đi khảo sát nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của Đồng bằng sông Cửu Long. Tôi đi Cần Thơ. Với giấy giới thiệu của Đài tiếng nói Việt Nam, tôi trình chánh văn phòng Sở quản lý nhà đất Tp Cần Thơ xin gặp ông giám đốc. Sau ít phút, chánh văn phòng trở ra cho biết giám đốc từ chối không tiếp nhà báo. Cũng không nói lý do gì cả. Đây là một trường hợp “hơi bị hiếm” với một cơ quan một tỉnh lẻ, từ chối không tiếp người đại diện cho cơ quan ngôn luận cấp quốc gia. Tôi kiên trì thuyết phục vị chánh văn phòng sở báo cáo lại ông giám đốc là tôi chỉ xin gặp trong ít phút, không làm mất thời gian của ông nhưng kết quả là vẫn bị từ chối. Đây là một việc làm trái nguyên tắc, vì theo quy định nhà nước, được in ngay phía sau thẻ nhà báo thời đó (sau bị bỏ) là các cơ quan, đôn vị… phải có nhiệm vụ cung cấp tư liệu, thông tin cho báo chí. Nhưng tôi đành quay ra và tự đi tìm kiếm tư liệu trong một tuần lễ. Trước khi về, tôi quay lại Sở nhà đất Cần Thơ, nói với vị Chánh văn phòng sở bữa trước rằng, tôi đã làm việc cả tuần lễ tại thành phố “Tây đô”, trước khi ra về, chỉ xin phép vào chào đồng chí giám đốc sở một câu cho phải phép. Tôi làm thế để muốn nhìn tận mắt xem ông giám đốc quan liêu và hách dịch này mặt mũi ngang dọc ra sao! Quả nhiên giám đốc cho vào. Trước mặt tôi lúc đó là một người đàn ông cao, gầy, da đen sạm và mất một tay đến sát vai. Tôi được ông mời nước, mời thuốc. Đúng như đã hứa với vị chánh văn phòng, tôi nói: thưa đồng chí giám đốc, tôi đã tìm hiểu về quản lý đô thị ở thành phố ta, tôi đến chào giám đốc, chúc sức khỏe và xin phép ra về. Nói xong tôi đứng dậy. Vị giám đốc vỗ vai tôi bằng cánh tay còn lại và mời tôi cứ ngồi, có cần gì cứ hỏi… Sau một lúc trò chuyện tôi được biết ông là Ba Tạo, từng là chiến sĩ giải phóng quân đánh trận Mậu Thân ở Cần Thơ “rút vào, rút ra”. Chuyện trò giữa tôi và Ba Tạo càng lúc càng tâm đầu ý hợp. Cuối cùng, hết giờ làm việc, Ba Tạo không cho tôi về, bảo tôi về nhà ông chơi, nhậu một bữa, tâm sự một đêm, sáng mai mới được về. Ông chở tôi bằng cái xe honda màu đen cũ kỹ, điều khiểu xe bằng cánh tay còn lại ra tận ngoại ô Cần Thơ, nơi ông có căn nhà cấp 4 đơn sơ nhưng vườn khá rộng. Ông giới thiệu tôi với bà vợ rất nhiệt tình như gặp lại bạn cũ lâu ngày. Tối hôm đó chúng tôi nhậu lai rai bên hè nhà gió lộng. Ông kể cho tôi nghe, vì sao là giám đốc Sở nhà đất nhưng lại ở cái nhà xập xệ thế này, lý do là vì ông thích vườn rộng. Lúc mới giải phóng chỗ này còn hoang vu lắm. Muốn ở bao nhiêu tùy sức. Đêm đó hầu như chúng tôi rất ít ngủ, lúc tỉnh giấc lại chuyện. Tôi được nghe về cuộc đời chinh chiến của ông, vì sao lại mất mát một tay, mất tay trong trường hợp nào. Và, đặc biệt ông kể về những khó khăn trong quản lý đô thị ở miền Nam, điều tôi rất cần nghe.

Khi mới giải phóng miền Nam, từ chiến khu, các cơ quan của ta vào thành phố và cứ theo sự đồng dạng về tên gọi của hai chính quyền cũ và mới để tiếp thu các công sở. Ta cứ tiếp quản “nguyên canh nguyên cư” như thế nên bây giờ mới có cảnh trái đời. Một tỉnh nông nghiệp lớn mà cơ quan nông nghiệp và thủy lợi lại bé như cái lỗ mũi. Nhốt hàng trăm nhân viên trong một căn nhà hẹp trong khi ở ngay cách đó, một phòng cảnh sát lại chiếm cái nhà to đùng. Chỉ một Hội Chữ Thập Đỏ thì phải mua thêm thật nhiều khóa để khóa các phòng không khi nào có người bước chân vào cả. Sở quản lý nhà đất và công trình đô thị của Ba Tạo đã “sứt đầu mẻ trán” vì đứng ra chia lại, khi có những người thế lực đầy mình chống lại. Ba Tạo là con người như thế. Ông đã tâm sự với tôi về cuộc đụng độ của ông để tiết kiệm cho ngân sách và để quản lý cái đô thị có 5 triệu mét vuông nhà.

Sáng hôm sau, Ba Tạo chở tôi đi uống café, ăn hủ tiếu rồi đưa tôi ra thẳng bến xe, nơi có ông trưởng bến là “quân cũ” của ông. Dặn trưởng bến cho tôi lên cabin ngồi, lúc tiễn tôi lên cabin cái xe đò sắp chạy, ông còn móc túi cho tôi ít tiền… trước mặt tất cà các hành khách trên xe. Ông còn dặn khi nào về Cần Thơ phải ghé. Anh Hai Nam Bộ là như thế, không thích thì không tiếp, không cần “luật lệ”, dù là luật lệ được in trên thẻ nhà báo do chính phủ cấp đàng hoàng. Nhưng một khi đã có tình cảm rồi thì… “vô tư”!

Cũng trong năm 1985, tôi tiến hành đi khảo sát về nông thôn vùng sâu của đồng bằng ở tỉnh Kiên Giang nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên còn nhiều đất hoang. Với một cái túi trên vai đựng ít quần áo và cái máy ảnh giấu trong đó, tôi xuống một bến đò dọc ở huyện Hòn Đất. Cứ đi, khi nào người đi ghe lên hết thì mình lên. Tôi đến một xã, sau này biết là xã An Thái Sơn. Vừa lên khỏi bến đã thấy tiếng cười nói ồn ào. Biết là nhà có giỗ, tôi cứ đi vô. Chủ nhân chẳng cần biết tôi là ai, kéo ngồi xuống cái chiếu đang có đông người đang ăn uống ngay giữa nhà. Chiếc ly rượu quay được vài vòng thì có người trỏ tay vào người đàn ông ngồi bên tôi, nói: hôm nay ông được ngồi cạnh Vua Hòn! Người được suy tôn là “Vua Hòn” cụng ly với tôi. Xế chiều, vì quá say tôi phải nằm ngay xuống xái chiếu đang ngồi ngủ một giấc. Ở Nam Bộ, người đến ăn giỗ “chết” tại chỗ như thế, chủ nhà rất thích. Khi tỉnh dậy, tôi được biết “Vua Hòn” là bí thư huyện Hòn Đất. Sau khi biết tôi là nhà báo, “Vua Hòn” tức Sáu Chấp mời tôi ở lại để hôm sau đi thăm vùng trồng mè (vừng) thí nghiệm trong vùng đất hoang của huyện. Tối đến tôi thấy Sáu Chấp lấy khẩu súng lục to đùng giắt ở trong người ra, gối đầu lên súng ngủ! Sáng hôm sau chúng tôi đi bộ một đoàn gần chục người vào vùng trồng mè. Đi đến 6-7 km mà chưa tới nơi. Trời nắng khát quá mà chỉ gặp những hố chân trâu đọng nước mưa nên đành phải vốc lên mà uống. Nhưng tôi chưa bao giờ uống nước lã mà thấy ngon như thế. Chiều tối, Sáu Chấp rủ rôi về huyện ủy ngủ, nhưng tôi về để còn đi tiếp. Sáu chấp viết cho tôi một mảnh giấy giới thiệu với các xã để tôi đi tiếp. Nhưng tôi chẳng cần đến giấy của anh làm gì. Tôi cứ đi, gặp nhà nào có đám giỗ là vô, tối ngủ lại đó với những người “chết” sau trận cụng ly trong đám giỗ!

Một tuần lễ sau, tôi về lại Rạch Giá, thủ phủ của tỉnh Kiên Giang. Ngủ nhà khách tỉnh ủy để chờ gặp lãnh đạo. Tiếp tôi là phó bí thư thường trực tỉnh ủy, tên Tám Quýt, nhân vật ngoài đời được nhà văn Anh Đức lấy làm hình mẫu để xây dựng hình tượng anh Hai Thép trong tiểu thuyết “Hòn Đất”. Khi tôi nói về đồng chí phó bí thư tỉnh ủy về chuyến đi thực tế của mình một tuần qua, trước khi về, xin phép hỏi lãnh đạo tỉnh một số điều. Phó bí thư thường trực Tám Quýt trả lời tôi một câu đầy ấn tượng: đồng chí nhà báo đã đi như thế thì tôi phải hỏi đồng chí chứ sao đồng chí lại phải hỏi tôi!

Khi nói về chuyện chiến tranh năm xưa, “Anh Hai Thép” đã làm tôi ngạc nhiên một lần nữa. Theo Tám Quýt thì cuộc chiến đấu ở Hòn Đất không thấm gì với cuộc chiến ở đồi Tức Dụp bên An Giang, nhưng vì nhà văn Anh Đức viết về Hòn Đất nên địa danh này trở nên nổi tiếng, vậy thôi! Sau này tôi có dịp đến Tức Dụp, được nghe kể về cuộc chiến, được đọc tài liệu về Tức Dụp mới thấy điều “Anh Hai Thép” nói là sự thực. Các “anh Hai Nam Bộ” hồn nhiên và vô tư như thế đó.

Đọc đến đây sẽ có bạn đọc cười thầm và đặt câu hỏi: thế “đồng chí X” thì sao đây? Tôi xin nhường lời cho bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, người sinh ra (1943) ở Tân Sơn Nhì Sài Gòn, người được mệnh danh là “chuyên gia biểu tình” như nhận xét của ông Trương Tấn Sang, nói về “đồng chí X”. Cách đây vài tuần, sau Tết Nguyên đán Quý Tỵ (2013), trong một cuộc gặp gỡ khá bất ngờ tại một quán café ở Sài Gòn, gồm có nhà văn Hoàng Minh Tường (tác giả của tiểu thuyết “Thời của thánh thần”) ở Hà Nội vào, PGS TS Vũ Trọng Khải, nhà thơ Hoàng Hưng, Nguyễn Thị Khánh Trâm, bác sĩ Mẫm và tôi. Anh Mẫm kể cho chúng tôi nghe về cuộc gặp gỡ mới đây của ông với chủ tịch nước Trương Tấn Sang, ông Nguyễn Bá Thanh… Khi nói về “đồng chí X”, anh Mẫm nhận xét: Tôi chưa thấy tay Nam Bộ nào nham hiểm, tàn độc như “đồng chí X”!

Trường hợp của “đồng chí X” là cá biệt, “chưa thấy” như anh Mẫm nói là đúng, tôi nghĩ vậy với tư cách một dân “Bắc kỳ thứ thiệt” đã sống lang thang hơn 30 năm ở đất Nam Bộ, gặp gỡ và trò chuyện với các chức sắc của giới thượng lưu cho đến giới bình dân ở xứ này. Các “anh Hai Nam Bộ” dù có địa vị cao, vẫn có tác phong bình dân, ít quan cách hơn các quan cộng sản ở các miền khác của đất nước. Có lẽ do họ đều có “xuất xứ” bình dân. Trong 10 năm sống và làm việc ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôi có biết một trường hợp khá thú vị. Đó là trường hợp của ông Sáu Cao, thường vụ tỉnh ủy Tiền Giang. Từng là ủy viên Ban Tuyên huấn trung ương Cục trong chiến tranh, sau 30-4 ông về quê công tác. Một lần ra Hà Nội làm việc, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện hỏi tôi: ở tỉnh cậu đang làm phóng viên thường trú, có lãnh đạo nào đọc được tiếng Pháp không? Tôi trả lời ông Viện: chỉ có ông Sáu Cao, đậu diplome. Ông Viện mừng lắm, đưa cho tôi cuốn “Delta du Mekong” (Đồng bằng sông Mekong) rồi bảo: về tặng cho Sáu Cao. Ông Sáu Cao cũng là người duy nhất ở Mỹ Tho đặt mua 2 tờ “Nouvell de Moscow” và “Temps Nouveaux” ở bưu điện tỉnh. Ông giữ rất nhiều chức trong tỉnh, giám đốc đài phát thanh, giám đốc báo Ấp Bắc, giám đốc bảo tàng tỉnh, chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh, giám đốc trường Đảng tỉnh… Nhưng ông ít đến các cơ quan đó, giao cho chức phó điều hành, nếu có đến thì chỉ nói chuyện “trên trời” là chính… vì thế anh em văn nghệ trong tỉnh gọi là “ông Sáu tào lao”! Tuy là thường vụ tỉnh ủy nhưng ông Sáu sống rất bình dân, áo bỏ ngoài quần, hút thuốc rê quanh năm. Một lần tôi đi ra quán cắt tóc gần nhà ông Sáu (cũng gần nhà tôi) để cắt tóc. Biết tôi quen với ông Sáu nên anh thợ vốn mau mồm mau miệng – mà thợ cắt tóc nào từ Bắc chí Nam mà chẳng thế – bảo với tôi: tôi phục ông Sáu Cao là “một người quân tử”! Tôi hỏi lại anh ta: quân tử thế nào nói tôi nghe? Anh thợ cắt tóc kể rất say sưa: hôm trước ông Sáu ra đây cắt tóc. Tôi hỏi, lâu lắm không thấy ông Sáu cắt tóc. Ông Sáu bảo: mình đi Liên Xô. Thế là có một tay ngồi chờ cắt tóc nhìn ông Sáu từ đầu đến chân, có lẽ hắn thấy ông Sáu mặc bộ đồ pajama nhàu nhò, chân đi dép lê, người lại đen như nông dân, miệng hút thuốc rê vấn sâu kèn… nên tay này bảo: thôi đi cha nội, nói dóc nó vừa phải thôi, còn để người khác nói dóc với chứ… thứ ông ai người ta cho đi Liên Xô… Ông Sáu không nói gì, ngồi xuống ghế tiếp tục “kéo” thuốc rê. Được thể, tay này lại lớn tiếng: nói dóc vừa phải thôi, không có ngày công an bắt đó! (ở tỉnh lẻ, nhất là ở Nam Bộ, đi Liên Xô là lớn chuyện lắm, phải là bí thơ hay chủ tịch). Tôi hỏi anh thợ cắt tóc: thế ông Sáu vẫn không nói gì à? Anh ta cười lớn, nói: thế mới bảo ông Sáu là người quân tử!!!

Thật hiếm ở nơi nào trên đất nước ta thời cộng sản, lại có một ông quan thường vụ tỉnh ủy “quân tử” như thế, nếu không phải là ở Đồng bằng sông Cửu Long(!)

Về tính cách ham vui của người dân Nam Bộ, tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Ở cùng phố với tôi, có anh bạn một hôm đến rủ tôi đến nhà anh ăn mừng sinh nhật Bác Hồ ngày 19-5. Đương nhiên là tôi đi. Đúng một tháng sau, anh lại đến rủ tôi đi liên hoan. Tôi hỏi, dịp gì thế? Anh ta bảo, hôm nay “đầy tháng” Bác Hồ! Chưa hết, anh rủ tôi đến nhà ăn giỗ bà già. Đúng một tháng sau anh lại đến rủ tôi, nói: hôm nay giỗ bà già tôi! Nghe vậy tôi ngạc nhiên quá, vì vừa ăn giỗ tháng trước. Anh hiểu sự ngạc nhiên này nên giải thích ngay: năm nay nhuận hai tháng tám phải giỗ hai lần! Vẫn chưa hết. Ngày Phật Đản, anh rủ tôi rồi đến ngày Noel mừng Thiên Chúa Giáng Sinh anh cũng đến mời tôi đi ăn mừng. Tôi thắc mắc vì anh theo đạo Phật cơ mà, anh cười, nói tôi đa tôn giáo! Thế nên hèn chi, ca dao Nam Bộ mới có câu:

“Ra đường thấy vịt cũng lùa

Thấy duyên cũng kết, thấy chùa cũng tu”!

Với dân Nam Bộ, cái gì cũng có thể đem ra vui đùa được, không có vùng cấm kỵ. Có lần bác sĩ Tư Dược, giám đốc xí nghiệp dược liệu quân khu 9 trong đó có trại rắn Đồng Tâm nổi tiếng, mời tôi ăn cơm. Khi gắp cho tôi một cái đuôi rắn hổ vào bát, ông bảo tôi ăn đi, bổ lắm, trong thịt rắn hổ có tới 18 loại axit amin! Rồi ông đố tôi: đố nhà báo, ở Nam Bộ cái gì ngon nhất? Tất nhiên là tôi chịu thua. Ông cười nói: rốn chị sui là ngon nhất. Nói rồi ông đọc cho tôi nghe một câu phương ngôn Nam Bộ: “Thứ nhất là rốn chị sui, thứ nhì là đuôi rắn hổ”.

Chuyện tiếu lâm ở Nam Bộ cũng lạ lẫm. Chuyện kể rằng ở Cà Mau có bốn bác nông dân ngồi nhậu. Một bác đề xuất phải họa thơ. Mọi người hưởng ứng. Bác chủ nhà đọc câu đầu:

Trước cửa nhà tôi có bụi môn! (khoai môn)

Bác thứ hai họa tiếp: Cái lá nghiên nghiên tựa cái lồn

Bác thứ ba họa tiếp: Cái củ xồm xoàm như con cặc

Bác thứ tư kết: Thế mà nấu chín lại ăn ngon!

Dân Nam Bộ là thế, chỉ thích vui “vì cuộc đời họ buồn lắm rồi, heo hút cô đơn lắm rồi…” Tôi rất thích đoạn văn đó của nhà văn Nguyễn Văn Bổng. Một người đã sống nhiều năm ở Nam Bộ, tác giả của tiểu thuyết “Rừng U Minh” và tập ký “Cửu Long cuộn sóng”.  Tôi đã đọc nhiều lần đoạn văn đó của ông đến mức không cần giở sách cũng có thể chép nguyên văn: “Đất nước ta càng về phương Nam càng là đất mới, đất của những người không có quyền sống trên những mảnh đất đã được khai phá, vì vậy càng là đất của những người nổi dậy! Miền Tây Nam Bộ là mảnh đất lưu đày và nổi dậy cuối cùng của tổ quốc. Đến đây là sơn cùng thủy tận rồi. Đến đây là đến trên bờ Thái Bình Dương, Vịnh Xiêm La mịt mù rồi. Đến đây chỉ còn hai con đường, một là không đủ nghị lực sống nữa thì đâm đầu xuống biển mà chết, hai là cố bám lại đấu tranh để sống. Con người đến đây là con người liều, con người ngang tàng, nghĩa khí, tính mạng coi nhẹ tựa lông hồng, tiền tài coi  khinh như rơm rác. Đối với họ, chỉ nghĩa khí là trọng. Họ không cần có nhà đẹp, vì xưa nay có ở đâu được lâu. Nhà của họ là “nhà đá”, “nhà đạp”, dựng lên đó, ở lại đó nhưng nếu không chịu nỗi áp bức thì lại đạp đi, đá đi, đến chỗ khác mà ở. Họ chẳng cần mặc sang, và có thì ăn, cũng không cần lo cho ngày mai lắm. Vì trước đây chắc gì họ được sống đến ngày mai, còn miễn sống được thì ngày mai ở trên hai cánh tay mình, dưới sông, trên rạch, trong rừng kia! Họ vồ vập hiếu khách vì cuộc đời họ đã buồn lắm rồi, heo hút, cô đơn lắm rồi. Họ chỉ còn có tình nghĩa là đậm đà với nhau. Họ sẵn sàng nhường áo, xẻ cơm, vì họ đã từng biết cái cực, cái nhục của đói khổ là thế nào. Và trên hết, họ rất căm thù. Đừng động đến họ” (Sau một cuốn ách – Nguyễn Văn Bổng).

Chính kẻ viết những dòng này cũng là kẻ “không có quyền sống trên những mảnh đất đã được khai phá”! Không sống được trên mảnh đất và ngôi nhà đẹp vào loại nhất làng Hoàng Mai giàu có giữa thủ đô Hà Nội vì “không có một kẽ hở để suy nghĩ” trong chính ngôi nhà đó, không thể sống được trong cái xã hội XHCN ở miền Bắc lúc đó, một thứ chủ nghĩa xã hội nhà nước, tất cả phải làm cho cơ quan nhà nước. Và đã ở trong cơ quan nhà nước thì nhất thiết phải chui vào Đảng mới có địa vị và quyền hành, có bổng lộc để sống dễ thở hơn trong cái xã hội “xếp hàng cả ngày đó”! Không phải ai vào Đảng cái thời tôi ở Hà Nội cũng vì động cơ đó. Có người đã tâm sự với tôi, phải vào Đảng để có quyền, và chỉ có quyền mới có thể làm điều tốt nhiều hơn. Những người như thế có, nhưng ít lắm. Còn đa số chui vào Đảng để dễ đục khoét, dễ giàu có hơn người, nhất là ở cái thời “kinh tế thị trường định hướng XHCN” này khi “đểu cáng đã lên ngôi”! (Bùi Minh Quốc) thì vào Đảng 99,99% là để kiếm xôi thịt.

Tôi nhớ năm 1991, tôi sang Liên Xô. Một nhà tư bản Mỹ khi tới thăm Liên Xô lúc đó phát biểu: Ở nước Mỹ chúng tôi, có tiền là có hết, còn ở nước các ông có quyền là có hết! Vì thế, chưa có ở đâu người ta tranh quyền quyết liệt bằng ở các nước XHCN. Cuộc đấu đá “ghế ít đít nhiều” luôn diễn ra khốc liệt ở mọi cơ quan nhà nước. Tôi có anh bạn ở báo Nhân Dân kể với tôi rằng, trong phòng anh làm việc, tất cả mọi người đều ngồi chung với nhau một một gian phòng rộng, nhưng riêng ông trưởng phòng thì được ngồi một cái ghế to hơn, cái bàn rộng hơn có ngăn kéo ở hai ên. Có lần một phóng viên chua chát nói: tôi đã đi mọi nẻo đường, đã vào Nam ra Bắc trong chiến tranh, vậy mà chỉ đi từ cái ghế này (anh chỉ tay vào cái ghế của mình) sang cái ghế này (anh chỉ tay vào cái ghế trưởng phòng) rồi kết luận: nhiều năm rồi mà không đi được một đoạn vài bước chân này! Thật là khốn nạn, khốn nạn!

Cũng cần phải nói cho rõ vì sẽ có người sẽ ngộ nhận. Ở Mỹ, để làm người có tiền không dễ vì luật pháp nghiêm minh, mọi thứ minh bạch. Muốn có tiền để có hết phải buôn bán làm ăn tử tế, làm việc tử tế và có tài. Còn ở nước ta, muốn có tiền trước hết phải biết buôn vua, buôn quan, buôn bán làm ăn dối trá làm đầu. Như nhà nghiên cứu xã hội Nguyễn Trần Bạt đã “phát hiện”, trốn thuế là sức mạnh cạnh tranh hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam.

Những thế hệ người đi mở cõi phương Nam của đất nước ta thì anh dũng và cần cù, nhưng khi mảnh đất đã được khai phá quá màu mỡ, dễ sống nên các “anh Hai Nam Bộ” sau này ăn nhậu la đà, còn “suy tôn” cả những tay bợm nhậu bằng ca dao tục ngữ.

“Con chin khôn tìm cành đùm mà đậu

Con gái ngoan tìm thằng ăn nhậu mà nhờ

Mai kia nó chết bụi, chết bờ… đỡ chôn!”

Cảnh ăn nhậu, say xỉn của đám mày râu ở Nam Bộ sau này đã gây ra nhiều thảm cảnh gia đình, xã hội. Vì thế, tôi đã viết bài báo nhan đề: “Rượu – Thảm họa ở đồng bằng sông Cửu Long” trên báo Lao Động chủ nhật số ra ngày 10-6-1990. Nói về rượu, tôi ghi được ở tỉnh Kiên Giang một bài hát về rượu như sau: “Một ly nhâm nhi tình bạn / Hai ly giải hạn cơn sầu / ba ly cứt mũi đầy râu / bốn ly ngồi đâu nói đó / năm ly cho chó ăn chè / sáu ly ai nói nấy nghe / bảy ly làm xe lội nước / tám ly chân bước chân quỳ / chín ly còn gì mà kể / mười ly khiên để xuống xuồng”.

(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài trước: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 22)

Đọc bài tiếp theo: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 24)

2 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 23)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s