Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 21)

Lời Ai Điếu
Lời Ai Điếu

Ba năm ở Đài Phát thanh Tiền Giang

Khi vô tới TP HCM, tôi vào cơ quan thường trú của Đài THVN, Giám đốc Nguyễn Thành, nguyên là giám đốc của Đài Giải Phóng trước 1975, phó chủ nhiệm UB Phát thanh và Truyền hình VN xem quyết định về Đài phát thanh Tiền Gian của tôi rồi nói: Vũng Tàu mới thành lập Đài phát thanh, rất cần cán bộ, họ vừa có công văn xin Đài THVN một phó giám đốc phụ trách nội dung, nếu cậu đồng ý, tôi sẽ hủy quyết định về Tiền Giang của cậu và viết quyết định cho cậu ra làm phó Đài Vũng Tàu. Tôi cảm ơn sự tín nhiệm của ông Thành rồi nói mục đích của tôi là vào Đồng bằng sông Cửu Long để viết, tôi không thể về Vũng Tàu được. Giám đốc Thành lại nói: Vũng Tàu là địa bàn quan trọng, ở đó đang khai thác dầu khí, đây là nhiệm vụ, tôi viết quyết định cậu phải đi. Giám đốc Thành là một người quyết đoán và trên cương vị là phó chủ nhiệm Ủy ban Phát thanh và Truyền hình VN, ông có toàn quyền để làm việc đó. Nhưng tôi có một “bảo bối” để chống lại mọi quyết định của lãnh đạo trong một thể chế Đảng trị. Tôi ý thức rất rõ điều này. Nhưng dù sao tôi cũng phải cảm ơn thầm trong bụng vì sự tín nhiệm của ông Thành với tôi. Cuối cùng thì tôi vò đầu vò tai, nói ra vẻ muốn đi lắm mà không thể được! Tôi còn đề phóng, nếu giám đốc Thành nói “tôi sẽ kết nạp cậu vào Đảng” như đã có lần mà Đài Truyền hình trung ương giao nhiệm vụ mà tôi không nhận với lý do “không phải Đảng viên”, người ta đã nói với tôi như thế. Nhưng giám đốc Thành là một người nguyên tắc cao, nghe thấy tôi nói như thế ông không nói gì nữa. Nhưng cũng chính giám đốc Thành, đúng ba năm sau, ông đã xin chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cho tôi về lại Đài TNVN, biên chế tại cơ quan thường trú của Đài tại TP HCM, dưới quyền của ông. Nhưng ông đặt tôi thường trú tại Đồng bằng sông Cửu Long, ở tại Tiền Giang. Đấy là lần đầu tiên một cơ quan báo chí của trung ương có đặt phóng viên thường trú ở Đồng bằng sông Cửu Long. Sau này, báo Nhân Dân có đặt phóng viên thường trú ở một số tỉnh như Minh Hải, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ… Nhưng các vị thường trú này, có người làm việc hiệu quả, được địa phương quý mến như nhà báo Kiến Phước thường trú ở Cần Thơ; Cũng có người nổi tiếng mượn danh báo Nhân Dân để đi tống tiền, đi vơ vét khắp nơi như ông Phan Huy (người thay ông Kiến Phướng ở Cần Thơ). Ông Phan Huy được mệnh danh là “Huy cá rồ” vì ông ăn tạp và ăn bẩn. Chuyện về ông đi ăn xin như thế nào, ăn xin kiểu nhà báo dưới chế độ độc Đảng, lại là đại diện cho tờ báo của trung ương Đảng tại địa phương nên nó ly kỳ lắm. Tôi có thể viết thành  một cuốn sách dầy, xin để phần tiếp sau sẽ nói.

Đang là phóng viên của Đài phát thanh quốc gia, rồi Đài truyền hình trung ương, địa bàn hoạt động cả nước, công việc khá phức tạp, tôi về làm phóng viên của một đài phát thanh tỉnh lẻ vừa mới thành lập, một ngày chỉ phát sóng vài tiếng kể cả tiếp âm đài trung ương rồi ca nhạc, cải lương là chính… nên rất nhàn nhã. Việc đầu tiên là tôi đi sưu tầm sách vở, tài liệu về Đồng bằng sông Cửu Long để đọc. Người ta giới thiệu với tôi một người có nhiều sách nhất là thầy giáo Nguyễn Văn Quý, vốn là giáo viên dậy Pháp văn trước 30.4.1975. Tôi tìm đến nhà thầy Quý ở một con hẻm nhỏ đường Trần Hưng Đạo TP Mỹ Tho. Quả thật nhà thầy Quý là một cái thư viện nhỏ. Nhưng thầy giáo Quý không chỉ là một người đọc sách, sưu tầm sách mà thầy còn là một người chơi sách – theo đúng nghĩa của chữ “chơi”. Thầy có thể đem cho khách ở xa tới xem một lúc 6 cuốn “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân qua 7 lần tái bản từ khi tác phẩm này ra đời trước năm 1945! Thầy còn “dọa” nếu mai mốt tái bản “Vang bóng một thời” thì còn mua nữa. Thầy giải thích, vì mỗi lần tái bản, cuốn sách lại được viết lời tựa, thay co chữ, trình bày bìa… và cả chất liệu giấy cũng khác nhau! Một lần nhà văn Tô Hoài, sau 1975 về thăm Hội Văn Nghệ tỉnh Tiền Giang, được bạn văn ở Mỹ Tho dẫn đến nhà thầy Quý chơi. Thầy đã đem cho nhà văn xem tất cả các sách của Tô Hoài đã xuất bản từ trước đến đó. Trong đó có cuốn xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám mà Tô Hoài cũng không giữ được, như các cuốn: Xóm giềng ngày xưa, Nhà nghèo, O chuột… Tô Hoài đã rung rung nước mắt vì cảm động.

Như thế không phải “chơi sách” thì là gì?! Vì “chơi” cho nên mới nghèo! Trò đời xưa nay vẫn thế, phàm đã “chơi” cái gì đến độ đam mê thì rồi rốt cuộc cũng nghèo! Thầy Quý không ra ngoài quy luật đó. Nghèo đến mức thầy không có tiền để sắm thêm giá sách. Có lần đến thăm thầy, tôi phải chứng kiến cảnh mối xông, “xơi” của thầy cả một đống sách “cất” dưới gầm giường! Thầy Quý đã phải lấy xẻng hốt mối ra sân… và bầy gà hàng xóm được một bữa tiệc mối… mệt nghỉ(!) Có người đã bàn với thầy, hay là, bán bớt một bộ tự điển Encyclopedie cho thư viện để lấy tiền mua giá sách, vì thầy có đến hai bộ Excyclopedie… Nhưng thầy lại… tiếc! Lần đến chơi thầy Quý, chứng kiến cảnh mối “xơi” sách của thầy, buồn quá tôi đã viết một bài về “thàm cảnh” mối ăn sách của một “nhà chơi sách” cho một tờ báo của TP HCM.

Nam Bộ vốn là đất của những Mạnh Thường Quân… Chỉ ít lâu sau, một ông chủ xưởng gỗ ở Mỹ Tho đọc báo, đã tặng thầy Quý giá sách. Từ đó, căn “phòng khách” của thầy trở thành một cái thư viện nhỏ. Bốn mặt tường đều là giá sách. Từ điển để riêng một giá, văn học một giá, chính trị một giá. Riêng sách tiếng Pháp một giá, vẫn không đủ, sách còn được đưa vào phòng ngủ… ở phía sau, nhưng được kê kích đàng hoàng, không phải trải vải nhựa để dưới gầm giường làm mồi cho mối như khi xưa…

Tôi mê mẩn những sách nghiên cứu về Nam Bộ của thầy như cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười” của học giả Nguyễn Hiến Lê, của nhà văn nổi tiếng Sơn Nam như các cuốn: Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đồng bằng sông Cửu Long hay là Văn Minh Miệt Vườn, Cá Tính Miền Nam, Hương Rừng Cà Mau… Nhưng thầy Quý không cho mượn sách đem về nhà đọc. Thầy chỉ cho xem hoặc đọc tại chỗ. Tôi bèn nghĩ ra một cách, đem tất cả những cuốn sách quý được tôi chọn lọc để đem theo vào Nam tặng thầy Quý. Tôi biết chắc chắn rằng những sách này thầy Quý không thể có, vì nó được xuất bản ở miền Bắc trước 1975. Trong đó có bộ sách “Lịch sử văn học Trung Quốc” ba tập dầy cộp do Quách Mạc Nhược, học giả hàng đầu của Trung Quốc biên soạn. Và, tập thơ mỏng dính “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ tý hon Trần Đăng Khoa do ty giáo dục Hải Hưng xuất bản năm 1968. Với một người chơi sách như thầy Quý thì còn gì hơn những thứ hàng quý hiếm đó. Thầy Quý nhận các cuốn sách từ tôi và từ đó thầy sẵn sàng cho tôi mượn sách đem về nhà đọc (chắc là thầy sẽ không nghi ngờ gì là tôi sẽ “chôm” các sách quý của thầy, vì thầy thấy tôi đem sách quý đi biếu thì chắc chắn không phải là tay chơi sách như mình rồi).,

Tôi đã được “vỡ lòng” về đất Nam Bộ từ kho sách quý của thầy. Tôi có thể viết những bài về Nam Bộ trên cơ sở quan sát thực tế và những kiến thức có chiều sâu từ sách vở để lại của người đi trước. Khi viết về vủng đất đang được khai hoang nhiễm phèn nặng của tỉnh Tiền Giang trong vùng Đồng Tháp Mười, tôi đã đọc kỹ cuốn “Những vấn đề về đất phèn Nam Bộ” của Lê Huy Ba (NXB TP HCM năm 1982). Việt Nam là “cường quốc đất phèn”, đứng thứ ba trên thế giới sau Hà Lan và Indonesia theo kết luận của hội nghị đất phèn thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, đều gọi nó bằng cái tên chung là “Acit sulphate soil” là thứ đất và thứ nước không con gì sống được trong đất và trong nước của nó. Những kiến thức mà tôi có được từ sách vở đã giúp cho các bài viết của tôi có chiều sâu, có căn cứ khoa học để đưa ra được những nhận định có căn cứ và dĩ nhiên, báo chí trung ương, đặc biệt là báo Nhân Dân lúc đó đang cần những bài về Nam Bộ như thế. Hàng loạt những bài tôi gửi ra với các chủ đề như Tiền Giang xây dựng vùng lúa năng suất cao; Cây khóm (dứa) trên đất phèn Đồng Tháp Mười; Giao thông nông thôn trên các xã cù lao; Nghề nuôi rắn ở Đồng Tâm… Đặc biệt là phóng sự “Đám cưới to nhất tỉnh” đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng, sau đó báo Nhân Dân biên tập lại với các “tít” khá “ăn khách”. “Đám cưới “to” nhất nước” (Báo Nhân Dân số ra ngày 27/3/1983) đã gây được dư luận trong tỉnh. Phóng sự phản ánh việc Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang mà đứng đầu là ông chủ tịch Nguyễn Công Bình làm chủ hôn cho một đám cưới tập thể 21 cặp trai gái. Các cô gái xuất thân là “gái lỡ lầm”, như cách gọi rất nhân văn của chủ tịch sáu Bình, được đưa vào nông trường khai hoang của tỉnh trong vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang để lao động cải tạo. Qua lao động, các chị đã bén duyên với 21 chàng trai của nông trường trồng khóm. Và, chủ tịch Sáu Bình đại diện nhà trai, bà trưởng ty thương binh xã hội tỉnh đại diện nhà gái đã đứng ra tổ chức lễ cưới tập thể cho 21 cặp trai gái này. Mừng nông trường khai hoang của tỉnh trồng khóm trên đất phèn nặng thành công, lại mừng cho 21 cặp trai gái của nông trường đón hạnh phúc trên miền đất mới được khẩn hoang, các công ty, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh gửi quà mừng đến rất nhiều. Có bác nông dân trong tỉnh nghe tin vui cũng gửi thư và tiền mừng đến đám cưới tập thể. Bài phát biểu của ông chủ hôn mà chũ tịch Sáu Bình bảo tôi soạn thảo cho ông đã được vỗ tay nhiệt liệt. Trong đó có câu: “Chỉ có cách mạng mới có được niềm vui như thế này”.

Sau đám cưới mọi người ra về hết, tôi còn ở lại nông trường khai hoang Tân Lập cả tuần lễ để hoàn thành bài phóng sự nhiều kỳ này. Vì thế, càng có dịp để hiểu thế nào là đất phèn nước phèn. Ban đêm ở vùng Tân Lập, dù trời mưa to gió lớn không có tiếng ếch nhái kêu vì nó không sống nổi ở vùng đất này. Nước thì trong vắt mà không có một loài thủy sản nào sống được. Áo trắng lốp mà đem giặt trong dòng nước trong vắt này lại vàng khè và mau rách. Nếu ai ăn trầu, nhổ một miếng nước bã trầu xuống dòng kinh thì nước bã trầu đó sẽ biến thành màu trắng… như phản ứng hóa học trong phòng thí nghiệm(!) Cánh đồng năn, cỏ lát chạy tít tắp đến tận chân trời. Vì thế thời xưa, người Pháp mới gọi Đồng Tháp Mười là “đồng cỏ lát” (plaine de jonds). Bàn chân con người vẫn chạm đất, mắt vẫn nhìn thấy màu xanh của cỏ, nhưng lặng thinh không có tiếng chim kêu, không tiếng một con cá quẫy. Nó không phải là sự vắng vẻ âm u của núi rừng, cũng không phải sự vẻ cô đơn của biển cả. Đây là biển trên đất liền. Là cái vắng lặng mênh mông kiểu Đồng Tháp Mười. Ca lên một câu vọng cổ trên đất này thì nó vang xa lắm. Như cứa vào chỗ da non nhất của con người… đi khai hoang lập nghiệp. Tôi đã hiểu vì sao những câu ca cổ lại buồn đến thế. Nhưng đó là nỗi buồn có cung bậc, có gam màu không bi lụy là ẩn chứa một niềm tin khắc khoải đến mai sau. Tôi càng mến yêu những cặp vợ chồng mới, dám trụ lại đất này để tính chuyện tương lai.

Một sự việc có liên quan đến tôi trong những năm làm việc ở Đài Phát thanh tỉnh là việc Đài mở lớp tập huấn nghiệp vụ cho phóng viên và biên tập viên của mình.

Là một đài phát thanh của tỉnh thành lập sau 30.04.1975, lại được thành lập muộn so với các tỉnh láng giềng nên lực lượng phóng viên, biên tập viên còn rất mỏng. Vì thế, Đài Tiền Giang mở lớp huấn luyện và mời một trưởng phòng biên tập của Đài Phát thanh Hải Phòng, một đài địa phương lâu năm của miền Bắc vào làm giảng viên cho lớp. Với tư cách là phóng viên của Đài Tiền Giang, tôi cũng là học viên của lớp. Khi anh trưởng phòng biên tập của Đài Hải Phòng trong buổi khai mạc thấy tôi ngồi lù lù trong lớp thì anh ta bất ngờ quá. Anh ta thốt lên với lãnh đạo tỉnh và lãnh đạo Đài Tiền Giang: có anh Lê Phú Khải ở đây rồi thì còn mời tôi vô làm gì nữa! Chẳng là, khi còn ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi đã từng về Hải Phòng nhiều lần, cùng anh bạn này đi ra vùng mỏ Quảng Ninh công tác. Bài vở của tôi đăng tải khắp các báo miền Bắc như Nhân Dân, Quân Đội nhân dân, Văn Nghệ… anh đều đọc cả. Tôi còn cùng Ban địa phương của Đài tiếng nói Việt Nam xuống Hải Phòng mở những lớp tập huấn như Đài Tiền Giang đang làm… Vì thế, sau lớp học đó, khi các đài truyền thanh các hyuện mới thành lập, Đài phát thanh tỉnh đều cử tôi đi xuống các huyện để hướng dẫn các lớp học dài ngày đào tạo biên tập viên, phóng viên, cộng tác viên cho đài huyện. Với chiếc xe đạp cọc cạch và giỏ quần áo, tài liệu đeo bên mình, tôi đi xuống các huyện công tác cả tháng mới về.

Từ phóng viên của Đài phát thanh quốc gia, rồi Đài truyền hình trung ương… đi công tác bằng máy bay, bằng xe con, đến các địa phương thì ở nhà khách của ủy ban, nhà khách tỉnh ủy, huyện ủy, làm việc với các lãnh đạo địa phương là quan đầu tỉnh, đầu huyện… nay về địa phương, đi xuống huyện công tác hàng chục cây số, tối ngủ lại các Đài hyuện có khi là một góc đình làng dột nát, vì đài huyện mới thành lập chưa có trụ sở. Đêm nằm chuột chạy lao cả vào mùng! Trưa ra sông tắm giữa trời. Học viên thì có em còn đi chân đất vì là thanh niên của xã lên dự tập huấn ở đài huyện, để về làm truyền thanh ở xã… Nếu xét về sự sang trọng, sung sướng thì thật là tôi “đang ở bể lại vào ngòi”! Nhưng tôi lại thấy thích thú. Sáng ra chợ huyện ăn tô bánh canh, tôi nghe được đủ chuyện trên đời. Nhà văn Nga Sên khốp từng khuyên các nhà văn đi tàu nên mua vé hạng bét đó sao!

Có lần lên lớp, tôi thấy có em để dưới chân mình một cái bị, ở trong luôn có con gì ngọ nguậy. Đến cuối giờ, các em rủ thầy ra quán lẩu rắn nhậu. Thì ra em học sinh đó về nhà bắt được một bị rắn để hôm sau đến lớp thết thầy. Em đem bị rắn đó ra quán, chia đôi, cho chủ quán một nửa, còn nửa kia thì chủ quán có nhiệm vụ nấu nồi lẩu rắn cho thầy trò tôi nhậu. Em khỏi phải trả tiền bữa nhậu đó. Cuối khóa học, em cũng tặng tôi một bị rắn tươi sống như thế để làm quà đem về Mỹ Tho(!)

Trước khi vô Nam, tôi có đem theo nhiều tài liệu về nghiệp vụ báo chí, trong đó có cả tài liệu của Tân Hoa xã do người chú tôi là Lê Phú Hào, là nhá báo miền Bắc đầu tiên đi thường trú ở Bắc Kinh sau hòa bình 1954 đem về Hà Nội. Tôi còn đem theo các tài liệu của Việt Tấn xã, cơ quan thông tấn của chế độ Sài Gòn cũ khi tôi vô Nam lần đầu, đến Việt Tấn xã thu lượm được. trong đó có cuốn “săn tin” bằng song ngữ Anh-Việt. Sau này tôi mới biết đó là cuốn sách nghiệp vụ nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975, do chính điệp viên Phạm Xuân Ẩn đóng vai nhà báo biên soạn. Ngoài ra tôi còn có cả những giáo trình của các giáo sư đại học báo chí Colombia, như cuốn “ký giả chuyên nghiệp” của John Hohenberg, bản dịch của Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu in ở Sài Gòn 1974. Đem những cuốn sách đó đi theo, tôi tự nhủ với mình như người thợ đem theo đồ nghề để kiếm sống ở phương xa. Và quả thật, những tài liệu huấn luyện báo chí đó cộng với kinh nghiệm 5 năm làm phóng viên phát thanh và truyền hình ở miền Bắc đã cho tôi nhiều lợi thế khi phải làm giảng viên ở các lớp đào tạo phóng viên như tôi đã làm ở các hyuện trong tỉnh Tiền Giang, cũng như ở các lớp nghiệp vụ, các khoa báo chí ở các trường đại học tại TP HCM sau này.

Có lần, giảng về công việc truyền thanh trực tiếp (đọc và truyền thanh trực tiếp) ở đài phát thanh huyện thì phải hết sức cẩn trọng, sai một ly đi một dặm. Tôi đã dẫn ví dụ ở một huyện ở miền Bắc, đài truyền thanh ở huyện đó đã bị bà con nghe đài gọi là Đài truyền thanh “buông tay em ra”! Chuyện kể rằng, hôm đó đã vào phòng bá âm rồi (phòng đọc và phát). Khi cô phát thanh viên xướng lên. đây là đài truyền thanh… thì vừa lúc đó anh biên tập viên lợi dụng phòng bá âm luôn phải đóng kín cửa nên đã cầm tay cô ta… Do quên mất mình đang phát thanh, cô phát thanh viên kêu lên “buông tay em ra”! Thế là cả huyện đã nghe được câu: “đây là đài truyền thanh… buông tay em ra!”

Những bài giảng của tôi như thế luôn được các em hưởng ứng, không em nào bỏ học giữa chừng. Cuối khóa học đều có phát chứng chỉ tốt nghiệp lớp nghiệp vụ phát thanh, truyền thanh cho Đài tỉnh cấp nên các em rất phấn khởi.

(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài tiếp theo: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 22)

Đọc bài trước đó: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 20)

Advertisements

5 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 21)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s