Tự do rừng

Huy hiệu trong lịch sử của Bohemia
Huy hiệu trong lịch sử của Bohemia

Có những ngày mà tôi không gặp một ai. Những ngày sương mù âm ỉ. Đi ngang qua mặt tiền thời tiết của những căn nhà kho to lớn, những bức tường bằng ván gỗ có màu đen của mưa gió, tôi đến cái tối tăm của những ngôi làng không có một ánh sáng giải thoát, không có trong bất kỳ một cái cửa sổ nào. Khi ngôi làng nằm ở phía sau tôi, sự yên lặng nhỏ giọt của nó, tôi thở phào. Tôi đang ở trong rừng.

            Có người nói với tôi rằng 150 năm trước đây không thể nào vào Rừng Bayern và Rừng Bohemia được, chỉ những người đốn gỗ mới dám vào, để chặt thông cho người chủ sở hữu rừng, to đến mức 2 người đàn ông biến mất ở phía sau và chỉ tái xuất hiện khi cái cây khổng lồ đổ xuống.

            Vật và người nhích lại sát gần nhau trong những quán như quán của Lam như thế nào thì tất cả ở ngoài này lại xa vắng như thế đó. Tôi có cảm giác như những quán trọ càng chan hòa và ầm ỉ hơn khi thế giới xung quanh càng yên lặng hơn. Sự ghét bỏ trống vắng của Baroque Bayern, thánh giá ở khắp nơi, trang trí, điêu khắc, hình ảnh, thà nhiều hơn một cái chứ không thể ít hơn một cái, bích họa trên tường nhà, chăm chút từng chi tiết một trong lúc trang trí mỗi một đầu hồi, mỗi một góc – tất cả đều là những lời cầu khẩn của người bản xứ trong một thế giới mà nhận thức rằng ở ngoài đấy hoàn toàn không ấm cúng tí nào vẫn đang còn nằm trong xương tủy. Đam mê hình ảnh Bayern tương tự như các ngôi vườn trong những đất nước sa mạc, phải bù đắp lại cho tất cả sa mạc.

            Vào một ngày như thế, một ngày không muốn sáng lên, tôi ngồi trong một làng gần Cham, trong gian phòng khách và nghe đồng hồ kêu tíc tắc và tiếng nói của một người phụ nữ, to hơn mức cần thiết, giống như những người khiếm thính. Nếu như tôi không thể nhớ lại được gương mặt của bà thì tôi có thể nói rằng đó là do bóng tối của căn phòng – người ta cũng không bật đèn trong gian phòng này – nhưng thật ra đó là vì tôi nhắm mắt đi theo tiếng nói. Người đàn bà kể về một thế giới mờ ảo, kỳ lạ, bà kể về cuộc sống trong những khu rừng, và tên của bà giống như một bụi cây hiếm quý đang nở hoa, sâu thẳm ở bên trong chúng. Rosa Tahedl. Bụi cây Tadedl đang nở hoa màu hồng.

            Bà ra đời vào cuối Đệ nhất thế chiến, trong một ngôi làng ở phía bên Bohemia của biên giới, thuộc trong số những ngôi làng mà khoảng năm 1800 hầu tước Schwarzenberg đã lập nên cho những người đốn gỗ trong Rừng Bohemia của ông. Thời đấy có 79 số nhà, vào khoảng 600 người dân và cũng từng ấy bò, ngựa, bò cái và bò thiến. Người ta đã dạy cho bé Rosa phải chạy đến khi nghe tiếng gọi “Hầu tước đến!”, dạy cho bé vẫy tay khi chiếc xe tứ mã chạy xuyên qua làng, và phải thưa với hầu tước là “điện hạ”, nhưng phải thưa nữ hầu tước là “công chúa”, vì bà là công chúa của Liechtenstein. Trời vào thu khi tiếng gọi vang lên. Hầu tước khởi hành từ một trong các lâu đài của ông ở Bohemia để đi săn.

            Nhiều năm sau đó, cô Rosa thi đỗ trung học hạng xuất sắc và được gửi đi học trường sư phạm tại Budweis[1]. Nhưng khi cô vừa tốt nghiệp thì thế sự xoay vần. Cuộc sống bắt đầu khó khăn hơn cho nhóm dân thiểu số của cô, trường lớp tiếng Đức bị giải tán, giáo viên người Đức bị cho nghỉ việc. Nhiều người trở thành nhạc sĩ để kiếm sống hay đi theo gánh xiếc. Cô có thể cũng phải làm như vậy, cô chơi đàn vĩ cầm, kéo đàn để kiếm sống, nhưng cô gặp may và được nhận làm gia sư trong một gia đình giàu có.

            Khi bị sáp nhập vào Đế chế[2], thế sự lại xoay vần, bây giờ người Đức được ưu đãi. Cô đi dạy trong một trường được vài năm. Rồi chiến tranh chấm dứt, và thế sự lại xoay vần lần thứ ba.

            Cuộc xua đuổi bắt đầu bằng cách đơn giản nhất mà người ta có thể tưởng tượng được. Vào lúc 5 giờ sáng, cảnh sát đập cửa và thông báo rằng người ta có 2 giờ đồng hồ để tụ tập trên quảng trường của làng, với hành lý tối đa là 50 kg. Nhà nào cũng bị đập cửa – cả làng đều là người Đức, chỉ có duy nhất một người Séc sống ở đó. Từ quảng trường làng đi đến trại do Cơ quan Lao động Đế chế[3] để lại.

            Xe bò chờ ở đấy 14 ngày sau đó, nó đầy ắp khi sang biên giới Bayern và trống rỗng khi quay trở lại. Làng trở nên hoang vắng, nhưng không yên lặng. Bò vô chủ rống lên vì đói. Nhà nào trong số 79 căn nhà cũng đều có một con chó và một chuồng nuôi gia súc, nhưng đến chó cũng không được phép mang theo. Tất cả súc vật đều bị nhà nước tịch thu, nhưng không có ai ở đó để vắt sữa và cho chúng ăn.

Chỉ còn một vài người ở lại trong làng, thợ chuyên môn không thể thiếu được. Họ cho súc vật của láng giềng họ ăn cỏ khô còn lại. Khi hết sạch, họ giật rơm đã mục trên những mái nhà cũ kỹ. Được một thời gian. Nhưng bò vẫn tiếp tục rống lên ở ngoài làng, trong những trang trại hiu quạnh.

            Ai vào làng mà thích gà thì cứ bắt một con và ai cảm thấy thích ăn món ngỗng quay thì chỉ cần chộp lấy. “Thời gian của những người đào vàng”, chính người Séc đã gọi mùa hè đầu tiên sau chiến tranh như thế. Sau một thời gian, có người đã phát ớn gà và ngỗng quay. Khi làng còn dân cư, nhiều người từ nội địa đã đến đây, đi dạo một vòng qua làng, chọn một căn nhà và ra công sở xin cấp giấy, họ giơ nó ra cho người đang cư trú xem: Các người phải đi ra, nhà này bây giờ là của tôi.

            Bây giờ thì gần như tất cả đã đi khỏi, và người ta giật tung cửa được niêm phong bằng những dải giấy màu vàng và mang đi những gì người ta cần. Đồ sứ. Bàn ghế. Đồ thủy tinh, thủy tinh nổi tiếng của Bohemia. Tất cả đồ vật quá nặng hay quá đẹp cho 50 kg hành lý mang theo người và một chỗ đứng trên xe bò. Vì thế mà nhiều cửa trong làng bị mở tung và gió chơi đùa với chúng. Chúng đập mạnh và kêu lạch cạnh cả ngày lẫn đêm.

            “Tiếng cạnh cạch đấy là một tiếng động khủng khiếp”, giọng nói trong nơi tranh tối tranh sáng kể lại. “Cha tôi lúc nào cũng đi ra để đóng cửa lại, cha không thể chịu đựng được nó.”

            Đó là thời gian mà 3 gia đình cuối cùng, không thể thiếu được, còn sống trong làng. Gia đình của Rosa là một trong số đó, cha của bà là công nhân đường sắt. Nhưng chẳng mấy chốc thì không còn gì để hôi của nữa, ngoại trừ chính những căn nhà. Bây giờ mà ai đi qua làng thì người đấy đang tìm cửa sổ, ngói lợp và thanh xà nhà. Người ta phải cẩn thận và báo hiệu cho biết chứ nếu không thì mái nhà trên đầu có thể bị giật sập. Đã xảy ra. Không lâu sau đó ngôi làng giống như vừa mới qua cơn hỏa  hoạn. Tường không mái. Lò sưởi trơ trụi. Cuối cùng thì quân đội đã chấm dứt chuyện đó. Họ mang máy móc đến và san bằng cái làng ma của Hầu tước Schwarzenberg.

            Trong lúc đấy phòng khách gần như đã tối đen. Gần như không còn đoán ra được chiếc thánh giá trên tường nữa, thủy tinh Bohemia cháy đỏ sẫm trong tủ, nhiều quyển sách nằm ở đấy, bà viết hồi ký, thơ, chỉ còn chiếc radio to màu đen là còn tối  hơn cái ngày mùa đông sắp tàn này. Tôi chợt nhớ đến những ngôi làng biến mất đã nhìn thấy trong rừng cách đây vài ngày. Tôi hỏi có gì còn sót lại từ làng của bà hay không.

            “Mấy bụi cây phúc bồn tử và cây cơm cháy. Chúng ở ngoài vườn, chúng sống dai lắm. Ngoài ra không còn gì cả.”

            Bà không thù hận. Trong mùa hè thứ 3 sau Đệ nhị thế chiến, 1947, bà là một người phụ nữ trẻ, 29 tuổi, sống nhờ vào lao động cực nhọc và khôn khéo trong buôn bán chợ đen. “Tôi đi buôn cực khéo.” Một vài năm sau đó bà cùng nhìn thấy chính những người Séc có nông trại đã mất tất cả vì sở hữu của họ bị quốc hữu hóa. Bà không còn những nỗi lo âu như thế nữa, bà không còn gì để mất, tất cả đã bị mang đi, kể cả trong nhà của bà cũng vậy. Bà đã lớn lên ở trong làng, đã sống trong thành phố, trong một ngôi nhà quý phái. Giữa nhiều người, giữa những người cuối cùng, và cuối cùng là giữa những đống đổ nát. Bắt đầu từ bây giờ bà sẽ sống trong rừng.

            Bà không hề có một tưởng tượng nào về công việc trong rừng, bà là cô giáo, nhưng người ta nói với bà rằng bà sẽ học được thôi. Và vì bà biết tiếng Séc – những người làm rừng đều là người Đức, họ chỉ biết tiếng mẹ đẻ của họ  –, bà có nhiệm vụ đánh dấu cây và làm công việc ghi chép.

            “Rồi tôi bắt đầu đi vào rừng với đàn ông.”

            Bà nói về rừng như về một niềm hạnh phúc lớn lao, bí mật. Có một cái gì đó như tôn giáo kèm theo khi bà kể về nó. Một cái gì đó mà người ta tìm được khi đã bị lấy đi tất cả mọi thứ. Trong những khoảng khắc đó có một vài khoảng khắc, không nhiều lắm, mang vẻ giống như nhẹ nhỏm. Bà tự làm mình thanh thản. Bà không chọn con đường của tức giận, tuyệt vọng hay trả thù mà tất cả đều thúc đẩy đến đó; thay vào đấy bà đi đâu đó, có thể là đi vào rừng. Lần đầu tiên trong câu chuyện dài kể về cuộc đời của mình bà dùng từ “tự do”.

            “Tất cả những gì đè nặng tôi và những gì làm cho tôi có cảm giác tội lỗi của một người hùa theo – không mang tính cá nhân, tôi không làm hại ai cả –, tôi đã mang bỏ vào trong rừng. Tôi luôn tìm cách chạy trốn trong nó, ở trong rừng, khi có nguy hiểm. Tôi có cảm giác tự do ở đó, tôi đã tìm thấy tự do nội tâm hoàn toàn ở đó.”

            Có lần cái chết đã sượt qua cái đầu mơ mộng những ý nghĩ như thế trong đường tơ kẻ tóc. Họ đốn cây trong một cánh rừng tạp và đang cưa một cây thông, một trong những cây to đến mức người ta không nhìn thấy người thứ hai phía sau thân cây. Họ dùng tay ra dấu cho nhau biết vết cưa đã sâu đến đâu: còn 4 ngón tay nữa, 3, 2. Một người dùng nêm chèn để cây ngã theo đúng hướng. Rồi nó ngã xuống, ban đầu còn từ từ, và làm gẫy một nhánh của cây sồi ở cạnh đó.

            Rosa Tahedl chỉ còn có thể nhớ lại một tiếng động xào xạc màu xanh, rồi không còn biết gì nữa. Bà tỉnh lại trong xe cấp cứu với thương tích trầm trọng. “Tôi không oán giận rừng”, tôi nghe bà nói, “đó thật ra là một cái chết đẹp.”

            Trong rừng, gần biên giới như vậy, thường có an ninh đi tuần. Một trong số các cảnh sát quan tâm đến bà. Một cô giáo làm sao có thể sống được ở trong rừng? Ông ấy tìm cách tiếp xúc với bà. Có lần, lúc đấy đã chiều tối, ông ấy đến trong chiếc xe chạy trên mọi địa hình, mang cho bà một quyển sách của Hermann Hesse[4] và chở bà về nhà.

            Bây giờ tôi nghe được một tiếng cười nhỏ.

            “Tôi thích lắm, mang cái quần đầy nhựa thông ngồi trong chiếc xe sang trọng của ông ấy.”

            Cuối cùng bà nói về những loài hoa hiếm mà người ta chỉ tìm thấy sâu trong rừng, nơi những người bình thường không đến. Tôi có biết rằng cây rừng có hoa hay không?

            Trên đường qua những ngôi làng tối đen về Cham, hoa rừng cứ ở mãi trong đầu tôi. Có 2 từ mà tôi chưa từng nghe bao giờ: “hoa vân sam”, “hoa sồi”. Cây sồi nở hoa màu cá hồi dịu dàng, và hoa của cây vân sam, chỉ xuất hiện 6 năm một lần, đỏ như hồng ngọc. Có lần Rosa Tahedl đã cất lại một cành cây vân sam đang nở hoa, nhưng vào lúc chiều tối khi bà định mang nó về thì nó đã héo.

Từ Cham tôi đi tàu hỏa về hướng nam. Một người đàn ông bước vào, ông mang một cái ba lô cũ, đôi giày ủng bẩn và nói chuyện với con chó của ông. “Mình ngồi ở đâu bây giờ? Mày muốn ngồi ở đó hả? Ừ, tốt thôi. Cứ tìm chỗ ở đó đi. Còn tao ngồi ở đâu? Ừ thì thôi tao ngồi ở đây. Mày cũng mệt hả? Cả ngày rồi phải không? Mày rượt con mèo như vậy mà, mày săn nó vậy mà. Mình mệt rồi phải không Waldi.” Ông ngáp và dịch qua dịch lại trên ghế, cho đến khi tìm được vị trí thích hợp rồi gật gà ngủ. Con chó chồn nằm cạnh ông trên đệm. Bây giờ nó đặt cái đầu dài của nó lên chân và chớp chớp mắt vẻ buồn ngủ.

Đọc tất cả những bài trước ở tại trang Nước Đức: https://phanba.wordpress.com/nuoc-duc/


[1] Từ năm 1946 có tên chính thức là České Budějovice.

[2] Đế chế: Ý nói Đức quốc xã (Đế chế thứ ba).

[3] Cơ quan Lao động Đế chế: Reichsarbeitsdienst  là một tổ chức của Đức quốc xã trong thời gian 1933-1945. Từ năm 1935, tất cả nam thanh niên đều phải thi hành nghĩa vụ lao động 6 tháng trước khi nhập ngũ. Nữ thanh niên từ khi Đệ nhị thế chiến bắt đầu.

[4] Hermann Hesse (1877-1962) nhà văn, nhà thơ người Đức-Thụy Sĩ, nhận Giải Nobel văn học.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s