Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 17)

Lời Ai Điếu
Lời Ai Điếu

Chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XNCH” đã đưa tôi đến nhiều nơi ở phía Bắc vĩ tuyến 17. Từ vùng vàng đen Đông Bắc của tổ quốc đến đồng bằng Bắc Bộ, miền núi phía Bắc… Tôi nhớ mãi chuyến đi viết phóng sự dài ngày ở Lạng Sơn. Nếu miền Tây Bắc “vời vợi nghìn trùng”, vùng núi Cao bằng hùng vĩ, miền cao nguyên đá Hà Giang cheo leo hiểm trở thì miền núi xứ Lạng là một “bình nguyên” của núi đồi, được hình thành bởi những tầng địa chất của tâm linh, của ca dao và cổ tích.

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ lạng cùng anh

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…”

Quả thật là chúng tôi cũng không bõ công lên xứ Lạng. Tôi viết được những phóng sự thu thanh có tiếng nói của bà con Tày, Nùng rất thiết thực cho đài quốc gia. Bà con dân tộc ở quanh thị xã Lạng Sơn đã trồng được đậu tương với năng suất cao hơn miền xuôi nhiều. Rồi, một hợp tác xã nhỏ trong mấy tháng đã bán cho nhà nước hàng chục tấn thuốc lá Lạng Sơn thái mỏng vàng ươm, thứ nguyên liệu rất cần cho nhà máy thuốc lá Thăng Long ở Hà Nội. Lạng Sơn là tỉnh miền núi có giao lưu với bên ngoài từ lâu đời nên con người ở đây lịch lãm. Tôi và anh bạn đồng nghiệp ngủ trên gác nhà công quán, nguyên là nhà cổ từ thời Pháp mới sang ta đặt nền cai trị. Sàn nhà bằng gỗ, chỉ khi nào khách thức giấc, nện gót giầy lên sàn gỗ cộp cộp… thì cô phục vụ mới mang bình thủy nước nóng lên, đặt trước cửa ra vào gõ nhẹ vào cửa báo cho khách biết. Ở nơi này, từ cô nhân viên phục vụ đến người đứng đầu thị xã đều tỏ ra là những nhà ngoại giao từng trải mà chân thành. Buổi làm việc với bí thư thị xã cũng đầy ấn tượng, ông đứng hẳn dậy để nói lời “thay mặt nhân dân” cám ơn hai nhà báo, rồi lại ngồi xuống ghế. Cách tiếp khách của ông thật giản dị và chu đáo, là món quà tinh thần theo mãi chúng tôi về xuôi. Đó là 2 gói xôi đậu đen nóng gói trong lá chuối tươi buộc lạt rơm cẩn thận. Ông nói: chúng tôi tặng 2 nhà báo đi tàu về xuôi ăn đường. Dạo ấy tàu lạng Sơn-Hà Nội chạy mất cả ngày. Đến trưa chúng tôi giở ra ăn thấy cả gói muối vừng… Sau chuyến đi ấy, ngoài những bài phát trên đài, tôi đã viết cho báo Nhân Dân số ra ngày 28/12/1977 ở mục “Hình ảnh nông thôn mới”, bào “Đồng rau Khỏn Thác” có ảnh kèm theo.

Chỉ hơn sau 2 năm công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi đã nhận được sự đánh giá tốt của lãnh đạo Đài. Một hôm, trưởng phòng biên tập chương trình “Trên miền Bắc XHCN” bảo tôi: cậu mới về Đài mà đã được Tổng biên tập Trần Lâm khen bài viết trong một cuộc giao ban. Ít khi ông Lâm khen cụ thể một bài viết. Tôi sẽ đề bạt cậu lên phó phòng và chắc chắn lãnh đạo sẽ ủng hộ. Nghe xong ý kiến của ông trưởng phòng tôi đã bỏ đi chơi suốt một tuần. Nghe Đào Cảng đọc thơ, nghe Vân Long tán hươu tán vượn trên đất Cảng! Khi về cơ quan, trưởng phòng tôi là anh VB, người rất hám quyền lực đã lắc đầu nói: Ông vô kỷ luật quá, không làm lãnh đạo được!

Sở dĩ tôi cố tình bỏ đi chơi một tuần lễ như thế để gián tiếp nói với ông trưởng phòng là tôi không hám gì chức vụ, đừng bao giờ đặt vấn đề đó với tôi – một người chỉ thích cầm bút. Đây cũng chính là vấn đề then chốt của báo chí, của văn học. Nó chứng tỏ rằng ở Việt Nam và nhiều nước XHCN khác, không có báo chí, văn học đích thực. Ở các nước có tự do báo chí, tờ báo, đài phát thanh, truyền hình do tư nhân quản lý. Tổng biên tập, chủ báo cần bán được báo, cần người xem đài, nghe đài để có nhiều quảng cáo… nên người ta cần các ký giả, các cây bút có tiếng tăm, “sản xuất” ra nhiều bài vở hay, chương trình hay cho họ. Các nhà báo nổi tiếng như Burchett hay Jean Lacouture… suốt đời làm phóng viên. Burchett từng có mặt ở Hiroshima khi Mỹ ném bom nguyên tử, từng đến vùng giải phóng ở miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Jean Lacouture làm phóng viên cho tờ nhật báo “Combat” do văn hào từng đoạt giải Nobel Albert Camus làm chủ bút và ông từng làm phóng viên cho tờ báo nổi tiếng “Le Monde”. Khi cuộc xung đột ở kênh đào Suez nổ ra, ông làm phóng viên thường trú cho báo “France Soir” tại Ai Cập (1953-1956). Về Pháp ông làm bình luận viên, phóng viên cao cấp ch otờ tuần báo “Le Nouvel Observateur”… Ông được xem là nhà sử học lớn, chuyên viết tiểu sử các danh nhân (trong đó có cuốn về Hồ Chí Minh, xuất bản 1967). Ông là tác giả của trên 60 đầu sách có danh mục các tác phẩm của mình trên các mạng điện tử.

Cả Burchett và Jean Lacouture chưa bao giờ làm phó phòng hay trưởng phòng biên tập như ở nước ta cả. Ở nước ta báo chí chỉ có một thang bậc giá trị là chức vụ hành chính. Và thực chất, các nhà báo của chúng ta là những ông công chức trong cơ quan nhà nước. Họ chỉ có thể tiến thân bằng con đường quan chức báo chí. Vì thế, có thể nói nước ta chưa có báo chí, chưa có “nhà báo” đúng nghĩa vì chỉ có báo quốc doanh. Thậm chí, có nơi chẳng “doanh” gì cả. Họ lấy tiền công quỹ ra để in báo rồi biếu không cũng chẳng ai đọc. Một phóng viên dù tài giỏi đến đâu nếu không có một chức ssắc gì trong cơ qua, thì cũng chỉ là nhân viên hạng… chót! Tôi còn nhớ, năm 1998 tôi được giải B (không có giải A) của giải báo chí toàn quốc. Tôi được huy chương vàng trong liên hoan phát thanh toàn quốc, được cơ quan thường trú tại TP HCM cử ra Hà Nội nhận giải. Khi đi, ông cán bộ trưởng phòng cùng đi thì được cơ quan mua vé cho đi máy bay. Còn tôi, nhân vật chính trong đoàn đi nhận giải phải đi xe lửa… vì không có tiêu chuẩn đi công tác bằng máy bay (tôi chỉ là anh phóng viên, không phải cán bộ cấp phòng(!)). Mặc dù sống trong một cơ chế đầy rẫy sự vô lý và bất công, biết vậy nhưng tôi vẫn muốn làm phóng viên suốt đời, ví tôi thích đi và thích viết. Tôi cũng thừa hiểu, là anh cán bộ quèn thì “khổ” suốt đời (như phải đi xe lửa suốt đời). Nhưng điều băn khoăn nhất của tôi là báo chí nước ta không thể có những Burchett, những Lacouture được, vì ở cơ quan báo chí của ta, chỉ có một thang bậc giá trị là cấp bậc hành chính, chức vụ. Nói rộng sang lĩnh vực khác như ngành Y chẳng hạn, cũng khốn nạn không kém. Một vị bác sĩ giỏi có khi phải rời phòng mổ, rời phòng khám để… phấn đấu làm chủ nhiệm khoa, làm phó giám đốc, rồi giám đốc bệnh viện thì mới “khá” được! Có một chuyện đáng buồn như thế này, khi chiến sự ở Irak nổ ra, một tờ báo ở TP HCM năng nổ cử phóng viên thạo tiếng Anh đi Iraq viết tin, bài… thì lập tức bị cấp trên phê phán là chưa báo cáo xin phép!

Những năm về sau này, mỗi khi diễn ra đại hội nhà báo thì nhìn vào thành phần tham dự là 100% tổng biên tập các báo, các đài phát thanh và truyền hình trung ương và địa phương, không hề có một phóng viên, một nhà báo có tên tuổi nào, một cây bút được giải báo chí nào được cử đi đại hội. Các vị Tổng biên tập xúng xính comple, caravat đi Hà Nội dự đại hội. Độc giả, thính giả trên cả nước chẳng hề biết họ là ai, chẳng nghe thấy tên tuổi họ trên các bài báo, các chương trình phát thanh truyền hình nào. Đến nỗi, báo Tuổi Trẻ ở TP HCm có lần phải viết bài chỉ trích là đại hội các tổng biên tập, không phải đại hội nhà báo!

Đầu năm 1978 tôi được điều động sang Đài Truyền hình trung ương (truyền hình Việt Nam sau này) ở Giảng Võ. Truyền hình nước ta được làm thí điểm, phát sóng từ Đài Tiếng nói Việt Nam trước 1975 sau tách thành một đài riêng lấy tên là Đài truyền hình trung ương. Ủy ban phát thanh và truyền hình VN được thành lập bao gồm 2 Đài, phát thanh và truyền hình do ông Trần Lâm làm chủ nhiệm. Đa số cán bộ phóng viên của truyền hình trung ương là của Đài Tiếng nói Việt Nam điều động sang. Tôi và một số đồng nghiệp được đưa sang truyền hình trung ương để “tăng cường” chất lượng cho truyền hình. Thật là khôi hài, không được học hành một ngày nào về nghiệp vụ truyền hình vậy mà lại được đưa sang đó để “tăng cường”. Sau buổi tiếp xúc đầu tiên, phó Tổng biên tập Đài Truyền hình trung ương là Nguyễn Văn Hán, một con người từng trải, nhiều mưu lược được mệnh danh là “Hán Cao Tổ” tuyên bố với chúng tôi: các cậu là những thằng không biết bơi, nhưng tớ cứ đạp các cậu xuống sông, bơi kiểu gì cũng được, miễn là sang được bở bên kia, thằng nào không bơi được thì… chết đuối!

Chúng tôi, trong đó có nhà báo Trường Phước, một phóng viên truyền hình rất nổi tiếng sau này, đã bước vào lãnh vực truyền hình bằng những lời giáo huấn đầy chất humour (khôi hài) của “Hán Cao Tổ” như thế. Xét cho cùng thì, như nhà báo Phan Quang viết: “… Đến thời đại tin học, thông tin bùng nổ, báo chí ngày càng đa dạng, vậy mà cho đến ngày hôm nay chưa một loại hình truyền thông nào dám tuyệt đối không sử dụng đến ngôn từ”. (Tầm nhìn. NXB Lao Động, 2013. Tr. 98). Đó là một nhận xét rất căn cơ. Làm báo viết cũng như làm báo nói phát thanh – cái cốt lõi vẫn là nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Truyền hình là hình ảnh động, nhưng muốn có một tác phẩm truyền hình chất lượng thì phóng viên vẫn phải sử dụng đến ngôn từ trong khi viết kịch bản và vẫn rất cần đến lời (ngôn từ) thuyết minh cho hình ảnh một cách khúc chiết, sáng sủa, đanh thép, sinh động. Đó là gì, nếu không phải là nghệ thuật của ngôn từ. Những phóng viên “cứng tay” trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ phát thanh sẽ mau chóng biết làm truyền hình. Nếu để ý, người ta sẽ thấy hai phóng viên truyền hình nổi tiếng ở miền Bắc là Trường Phước và ở miền Nam là chị Minh Thu Đài Truyền hình TPHCM đều rất thành công cho các chương trình truyền hình của mình, dù là phim tài liệu hay phóng sự… Khi tôi rời Đài Truyền hình trung ương, vô Nam làm ở Đài phát thanh tỉnh Tiền Giang, rồi lại trở về Đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ quan thường trú tại TP HCM, tôi thường được các phóng viên Đài THVN “thuê” viết lời thuyết minh cho các chương trình truyền hình họ vừa dàn dựng xong phần hình ảnh. Tôi hỏi nữ phóng viên quay phim gạo cội Bạch Vân của cơ quan thường trú Đài THVN tại TP HCM: vì sao các vị đi quay về, dàn dựng xong, nắm vấn đề từ khi viết lịch bản, chỉ còn khâu cuối cùng là thuyết minh lại phải kêu tôi làm…? Chị trả lời: viết thuyết minh là khâu chúng tôi ngại nhất! Rõ ràng là động tới ngôn từ. Lời thuyết minh phải ăn nhập với hình ảnh truyền hình, ngắn gọn và dễ hiểu, nâng chất lượng thông tin của hình ảnh lên, làm nổi bật chủ đề của kịch bản. Người Pháp có câu ngạn ngữ: “Không gì khó bằng viết cho dễ hiểu” là vậy. (Rien n’est plus difficileque d’ecrire facille).

Khi giảng dạy ở trường trung học phát thanh truyền hình trực thuộc Đài TNVN tại Tp HCM tôi đã đưa ra câu hỏi như sau: cho các em xem một bản tin truyền hình, nhưng chỉ được xem hình mà không được nghe phát tiếng hoặc không cho xem hình (che màn hình lại) chỉ cho nghe tiếng… rồi các em phải cho biết nội dung của bản tin truyền hình đó, các em chọn hình thức nào? Tất cả đều chọn không xem hình mà được nghe tiếng. Rõ ràng ngôn từ có một vai trò đặc biệt trong các loại hình thông tin đại chúng, cho dù đó là loại hình lấy hình ảnh làm ngôn ngữ chính như truyền hình.

Các cụ ta xưa kia dậy: “Học thầy không tầy học bạn”. Tôi đã chọn cách “học bạn” để làm truyền hình. Tôi đi theo đạo diễn kiêm biên tập viên Trần Cương để học nghề. Trần Cương học hành bài bản về báo chí từ Liên Xô về, anh rất giỏi tiếng Nga. Tôi đi theo Trần Cương từ lúc anh đi thu thập tài liệu để viết kịch bản rồi đọc kịch bản anh viết, rồi theo ê kíp làm phim của anh (thường là ba người: biên tập viên viết kịch bản 7 biên tập viên, đạo diễn và quy phim) cho đến khi quay ở hiện trường xong, lại theo anh vào phòng dựng phim để làm hậu kỳ. Khi phim được dựng xong, xem cách các anh lồng nhạc và đọc kỹ lời thuyết minh cho phim do biên tập viên viết. Theo từ đầu đến cuối một chu kỳ làm phim cho đến khi chương trìnhz được duyệt và phát sóng, tôi đã nắm được cách làm phim truyền hình. Có thể tự độc lập làm một chương trình cho mình. Cái khó nhất vẩn là tìm kiếm được đề tài, chủ đề hay “ăn khách” cho một tiết mục truyền hình để thực hiện. Riêng khâu viết kịch bản là cả một vấn đề được trao đổi, tranh cãi. Kịch bản cho một phim truyền hình chỉ là một đề cương hay một phân cảnh cụ thể, chi tiết? Rất nhiều ý kiến khác nhau. Riêng “Hán Cao Tổ” thì lại phán một câu xanh rờn: chúng mày muốn viết cái gì thì viết nhưng đừng gọi nó là “kịch bản” để đưa tao duyệt! Làm riết rồi chúng tôi rút ra một kết luận: phải ăn ý nhau trong một ê kíp làm phim. Ý đồ của biên tập viên phải được cả nhóm (đạo diễn và qua phim) hiểu và thực hiện một cách sáng tạo. Tác phẩm truyền hình bao giờ cũng là một sản phẩm của tập thể, mang tính tập thể. Sau này, có tác giả viết kịch bản rồi tự đạo diễn rồi cầm máy quay luôn. Đó là trường hợp hiếm. Tôi đã xa truyền hình ba chục năm nay, không biết hiện nay các đồng nghiệp của mình tác nghiệp ra sao, nhưng cái thời tôi làm truyền hình thì như thế. Thời đó chưa có camera quay băng nhựa video, chưa có kỹ thuật số, phải quay bằng phim nhựa 16 ly. Có chương trình quay cả tháng trời mới xong, đến khi đem phim nhựa về in tráng thì cả đêm, cả nhóm làm phim không ai ngủ được. Mong đến sáng để đến Đài xem kết quả tráng phim thế nào. Đi quay phim việc đầu tiên trước khi về cơ quan là lo mua quà cho chị em ở bộ phận tráng phim. Chỉ sợ chị em “mất lòng”, pha thuốc hiện hình không cẩn thận rồi đổ lỗi cho quay phim thiếu sáng thừa sáng là… đi đứt cả tháng trời lao động!

Với cái lý lịch từng là thầy giáo 9 năm, khi sang làm việc ở Đài truyền hình tôi được phân công về Ban khoa giáo, để làm phim về các đề tái giáo dục và khoa học. Tôi chọn một đề tài khá hấp dẫn là làm một phim khoa học có tên là “Con rắn hổ mang”. Do quen biết với Ph.D Trần Kiên, chủ nhiệm khoa Sinh học trường ĐHSP HN. Tôi chọn một đề tài làm phim khoa học từ bản báo cáo khoa học của Trần Kiên: “Nghiên cứu sinh học rắn hổ mang để chăn nuôi lấy nọc làm thuốc và xuất khẩu”. Đây là một đề tài khoa học lý thú vì từ xưa đến nay, con người ác cảm với con rắn, đặc biệt là rắn độc. Ca dao ta có câu: “Rắn đến nhà không đánh cũng quái, gái đến nhà không chơi cũng kỳ!” Trần Kiên đã nói với tôi một câu rất hình ảnh và sâu sắc: con người thật sai lầm khi gọi kẻ thù nguy hiểm nhất của mình là rắn độc. Con rắn chỉ độc khi người ta không biết gì về nó, không tranh thủ được gì ở nó mà thôi. Chúng ta phải thay đổi tư duy về loài rắn.

Đọc bản báo cáo khoa học của Trần Kiên tôi mới vỡ lẽ ra rằng, mỗi con rắn độc một khác. Rắn lục độc vào máu. Rắn hổ mang độc vào hệ thần kinh. Khi bị rắn hổ mang cắn, chỉ sau vài phút nạn nhân bị nhiễm độc vào hệ thần kinh đau quằn quại và chết. Chỉ cần một gam nọc độc của rắn hổ đủ làm chết 1000 con thỏ nặng 2000 kg, một số ngựa nặng 20.000kg, 160 người trung bình mỗi người nặng 60 kg. Vì thế hổ mang được xem là vua của các loài rắn độc. Hai cái túi không khí ở hai bên cổ của nó bành ra làm tăng thêm vẻ hung tợn khi cần áp đảo đối phương. Người ta thống kê ở Úc từ năm 1910 đến 1926 có 195 người chết vì rắn độc. Ở Ấn Độ con số này còn lớn hơn nhiều.

Ngày nay Y học hiện đại đã dựa vào tính độc thần kinh của rắn hổ để chế thuốc giảm đau trong bệnh ung thư, viêm khớp, đau thắt lồng ngực. Gần đây người ta còn tách từ nọc rắn hổ một chất có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Nọc rắn hổ trở thành một dược liệu quý có giá trị xuất khẩu cao. Giá rắn hổ sống trên thị trường quốc tế là 16 Mỹ kim 1kg và 1 gram nọc rắn tương đương 23 gram vàng.

Rắn hổ ở nước ta nhiều hơn ở bất kỳ một nước nào trên thế giới vì thế anh Trấn Kiên đã chọn đề tài nghiên cứu để bảo tồn loại sinh vậy quý này, cảnh báo xu hướng săn bắt bừa bãi có nguy cơ làm diệt chủng loài hổ mang. Từ khi tốt nghiệp về nước, Trần Kiên đã hơn 20 năm cùng học trò của mình tìm kiếm, đào bới hang ổ, nghiên cứu con rắn từ hình thức nuôi tại nhà đến phẫu thuật trong phòng thí nghiệm để phân tích máu. Bản báo cáo của anh đã chỉ rõ những quy luật sống, tập tính tập quán của loài rắn hổ và đề xuất một phương pháp chăn nuôi con vật hoang dã này. Từ công trình nghiên cứu của Trần Kiên một loạt xí nghiệp dược phẩm ở Hà Sơn Bình, Quảng Nam Đà Nẵng, ở xã Vĩnh Sơn huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú đã ra đời.

Theo kịch bản của tôi, tốp làm phim của Ban khoa giáo Đài đã theo chân Trần Kiên từ Hà Sơn Bình vào xứ Quảng quay các cảnh đào bới, chăn nuôi, lấy nọc… và cả những điệu múa rắn nghê thường của các cô y tá ở trại rắn của xí nghiệp dược Quảng Nam với bầy rắn hổ mang… bành cổ khiêu vũ!!! Có lần chúng tôi phải nằm chờ cả tuần ở xã Vinh Sơn để quay cảnh con rắn hổ mới nở, chui từ trong trứng ra. Nó chỉ bé bằng que đũa mà đã bạnh cổ phun phì phì! Có cả cảnh quay trong phòng ngủ của Trần Kiên, thức dậy việc đầu tiên là anh quờ trong gầm giường để nâng niu con rắn hổ lên. Anh tuyên bố: nó hiền như đất… nếu ta không tấn công nó. Năm 1986, bản luận án về rắn hổ mang ở đồng bằng Bắc Bộ của anh được công nhận loại ưu ở Mátxcơva. Một GS Mỹ trong hội đồng chấm đã cho rằng, nghiên cứu loài bò sát thì nhiều, nhưng riêng con rắn hổ (cobra) hung dữ thì phải cấp thêm một bằng tiến sĩ nữa về lòng dũng cảm cho Trần Kiên.

(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài tiếp theo: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 18)

Đọc bài trước đó: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 16)

Advertisements

2 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 17)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s