Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 16)

Lời Ai ĐiếuSau 30/4, không chỉ ở Đài tôi mà ở bất kỳ đơn vị nào, cán bộ tập kết là dân Nam Bộ đều xin về quê sạch hết. Chỉ có cán bộ là dân miền trung và khu 5 thì đa phần là ở lại. Và lúc này, Ban miền Nam của Đài Tiếng nói Việt Nam giải thể vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Phóng viên, biên tập viên, người thì xin về Nam, người thì sang các bộ phận khác của Đài. Tôi được phân về chương trình phát thanh “Trên miền Bắc XHCN”, một chương trình phát thanh “nối tiếp” các chương trình phát thanh vào Nam của Ban miền Nam trước đây, nhằm giới thiệu các “thành tựu” xây dựng CHXH ở miền Bắc cho đồng bào miền Nam mới được giải phóng(!)

Đề tài thật là rộng lớn, đủ mọi lãnh vực. Các phóng viên của chương trình thỏa sức vẫy vùng. Mới ngoài 30, đang sức lực trẻ, tôi hăm hở đi mọi nơi, mọi vùng trên miền Bắc, từ vùng than Quảng Ninh đến miền núi, miền xuôi. Ngoài viết cho Đài tôi còn viết cho báo Nhân Dân mục “Nông thôn mới”, do nhà báo Trần Minh Tân ở Ban nông nghiệp báo phụ trách. Rồi còn viết cho mục “Đó đây cuộc sống con người” của báo Văn Nghệ Hội Nhà văn do nhà văn Trần Hoài Dương phụ trách. Tôi còn viết cho cả báo QĐND do các anh Thụy Vũ, Trịnh Tường của báo đặt bài. Được các đồng nghiệp ở báo Nhân Dân động viên là người “đi đâu viết đó, viết đâu ra đó”, tôi càng hăng say có mặt “trên từng cây số”. Bây giờ, “những chiều gió tím mây xanh” rảnh rỗi ngồi đọc những bài báo còn giữ được, nhớ lại những nơi mình đã đi, đã đến, tiếp xúc với bà con cô bác để lấy tin, viết bài… sao tôi nhớ những ngày ấy quá. Những ngày đó tôi vô tư, tin tưởng vào hy vọng cuộc sống sẽ ngày một tốt đẹp hơn. Qua lao động say sưa và lăn lộn với cuộc sống nên tay nghề của tôi được nâng lên rõ rệt. Các bậc đàn anh cho tôi nhiều kinh nghiệm làm báo. Có lần, tôi đưa một bản thảo viết tay dập xóa nhiều lần cho trung tá Thụy Vũ ở báo QĐND với băn khoăn là bản thảo của mình dập xóa nhiều quá (tôi không biết đánh máy). Anh Thụy Vũ cười nói: mình lại thích những bản thảo viết tay dập xóa như thế. Nhìn vào, mình sẽ biết cậu đã nghĩ gì, rồi nghĩ lại mà xóa đi. Biết được dòng chảy tư duy của cậu. Nhìn một bản thảo đánh máy sạch sẽ, không thấy được điều đó. Cái thời ấy, các anh lớn tuổi ở các tòa báo làm việc đầy trách nhiệm như thế, nâng niu cộng tác viên như thế. Tôi đã theo nhà báo đàn anh Trần Minh Tân trên mọi nẻo đường vất vả. Theo anh từ lúc đi lấy tài liệu, cách hỏi han đối tượng khai thác tin tức, rồi đọc bản thào anh viết, đọc bài của anh khi đã đăng trên báo … và rút ra được nhiều điều bổ ích. Đặc biệt, tôi học tập được ở các nhà báo thế hệ đó đạo đức nghề nghiệp. Có lần, tôi đi với bác Minh Tân đến vùng trồng rau xanh của huyện Thanh Trì, vành đai cung cấp rau quả cho thủ đô Hà Nội. Trời rét như cắt ruột mà phải lội bộ hàng cây số ngoài đê sông Hồng. Đến trưa đói thắt ruột mà bí thư huyện ủy chỉ đưa cho bác Minh Tân vài các bánh quy rắn như đá. Vậy mà bác vừa đi vừa ăn trong gió rét. Đến chiều, chiếc xe com-măng-ca ọc ạch của báo Nhân Dân đưa bác về thẳng tòa soạn để bác làm việc ngay. Thế là sáng hôm sau tôi đã được đọc bài của bác trên báo. Bài viết nói về những vấn đề đặt ra cho vành đai rau xanh của Hà Nội, bài viết “đâu ra đó”!

Trong gần ba năm 76,77 và đầu năm 78 làm việc ở chương trình này, tôi thâm nhập tầng lớp trí thức của Hà Nội để viết, quen biết nhiều vị trí thức danh tiếng bấy giờ. Một lần tôi đến gặp GS bác sĩ Hồ Đắc Di tại nhà riêng của ông là một biệt thự ở đường Lý Thái Tổ. Ông là hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Y khoa. Nhà Gs Di ở dưới, tầng trên là BS Tôn Thất Tùntg ở. Nghe nói vợ Bs Tùng gọi vợ Gs Di là cô ruột và cùng là người Huế. Tôi muốn phỏng vấn Gs bác sĩ Hồ Đắc Di về sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức. Giáo sư người nhỏ bé, ăn nói nhỏ nhẹ, ông nhìn tôi từ tốn nói: cậu cứ viết về câu hỏi, rồi tự viết câu trả lời, muốn viết gì thì viết… rồi đem máy ghi âm đến đây, tôi đọc vào rồi đem về đài phát!!! Tôi bẽ bàng quá, không ngờ nhận được kết quả như thế với một vị giáo sư điềm đạm như ông Hồ Đắc Di. Tôi ra về lòng buồn rười rượi, thà cứ quát mắng chúng tôi như giáo sư Tùng còn hơn là nhận được một lời nhã nhặn mà đau như thế. Tôi đem câu chuyện này kể cho một đồng nghiệp lớn tuổi ở báo Đại Đoàn Kết. Nhà báo lão thành này nói với tôi: là vì cậu chưa hiểu giáo sư Di đấy thôi. Hồi mới giải phóng thủ đô 1954, khi đó ông là hiệu trưởng trường Đại học Y. Có người đến xin gặp chính quyền nhà trường. Giáo sư Di đã trả lời: chính là tôi, còn quyền là vị bí thư Đảng ủy ngồi ở phòng bên cạnh! Bà bí thư đó là một cán bộ xã mới học hết lớp 2 trường làng cậu có biết không. Kể xong câu chuyện đó cho tôi nghe, vị nhà báo lão thành kia vỗ vai tôi bảo: buồn làm gì, chúng tao nhiều tuổi hơn nên hiểu chế độ này hơn mày!

Trong khi các vị trí thức miền Bắc đã chán chường sự lãnh đạo của Đảng như giáo sư Di thì thời điểm mới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đó, các vị trí thức Sài Gòn lại rất hồ hởi, tin tưởng ở tương lai của đất nước. Ngày ấy, tôi được phân công một công việc khá nặng nề là làm cuộc tọa đàm thu thanh với các vị trí thức miền Nam là đại biểu quốc hội thống nhất khóa đầu tiên. Buổi tối, từ làng Hoàng Mai cuối thành phố, tôi chạy cái xe mobilet màu xám, còn gọi là xe “cá xám” lên tận khách sạn Thắng Lợi ở Hồ Tây, nơi các đại biểu miền Nam ra ở tại đó trong thời gian quốc hội họp. Tôi đưa thẻ nhà báo, xưng danh là của Đài TNVN xin được gặp giáo sư Lý Chánh Trung. Công an gác cửa gọi điện vào và tôi nhận được lời từ chối của ông. Hai ngày sau, tôi lại chạy xe lên khách sạn Thắng Lợi, lần này tôi yêu cầu cảnh vệ cho tôi được nói chuyện qua điện thoại trực tiếp với giáo sư Lý Chánh Trung. Tôi nói rõ yêu cầu của Đài và tha thiết xin ông cho gặp. Nhưng từ đầu giây bên kia giáo sư Trung kiên quyết từ chối với lý do ông đang rất bận, phải viết tham luận thay mặt trí thức miền Nam đọc trước quốc hội trong những ngày tới. Tôi vô cùng buồn bã. Khách sạn Thắng Lợi ở bên hồ Tây rộng mênh mông. Buổi tối, khi có ánh đèn, côn trùng từ không gian Hồ Tây bay về nơi có ánh sáng đã trở thành một vấn nạn cho khách sạn lúc đó. Vậy mà muỗi mòng hay rầy (còn gọi là thiêu thân) bay vô mặt tôi mà tôi cũng không buồn muốn đuổi… Về đến nhà, tôi nằm vật ra giường, người như lên cơn sốt. Với một phóng viên mới vào nghề, thử thách này quả là lớn đối với tôi. Nếu không làm được cuộc tọa đàm phỏng vấn này với các đại biểu quốc hội là trí thức miền Nam thì tôi còn “mặt mũi nào” mà vác mặt về Đài. Nhưng trò đời “cùng tắc biến”, tôi đã nghĩ ra một “mẹo” để có thể tiếp cận giáo sư Trung. Tối hôm sau, tôi lại phóng xe lên khách sạn Thắng Lợi. Lần này tôi nói với giáo sư Trung qua điện thoại: tôi bỏ ý định phỏng vấn giáo sư mà chỉ muốn gặp ông để nói những nhận xét, ý kiến độc giả, trí thức miền Bắc về các bài viết của giáo sư đăng trên văn đàn Sài Gòn và đặc biệt là bài viết về Hồ Chí Minh của giáo sư khi Bác Hồ mất trên báo chí Sài Gòn năm 1969…

Quả là tôi đã “thắng lợi”. Có người cầm bút nào lại nỡ từ chối một lời đề nghị như thế của độc giả về những tác phẩm của mình. Nhất là những độc giả ở trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt hai miền như hai nước khác nhau? Giáo sư Trung đã đồng ý tiếp tôi. Trước khi vào câu chuyện, tôi còn giả bộ xem đồng hồ và nói: để khỏi làm mất thì giờ của giáo sư, tôi chỉ trình bày ý kiến trong 30 phút. Tôi nêu những nhận xét của bạn đọc miền Bắc về những bài SG Trung đã viết ở Sài Gòn. Tôi đi sâu nhận xét về cuối “Những ngày buồn nôn”. Đây là tập hợp những bài giáo sư đã viết trong một năm, mỗi tuần một bài, khi giáo sư ngồi chờ máy bay trong mỗi lần lên giảng bài ở đại học Đà Lạt. GS Trung không ngờ tôi lại đọc kỹ cuốn sách này như thế. Đây là điều rất bất ngờ đối với ông, một giáo sư ở tận Sài Gòn lại có độc giả như thế ở Hà Nội. Tôi có được những tác phẩm đó nhờ công tác ở Ban miền Nam của Đài Tiếng nói Việt Nam, có đường dây đặc biệt mang sách báo Sài Gòn ra Bắc. Khi chiếm được cảm tình của giáo sư rồi, tôi lại giả bộ xem đồng hồ và nói: đã hết 30 phút, xin phép giáo sư… Nghe vậy, ông ngăn tôi lại và nói: cứ tiếp tục đi… tôi lại nói về bài viết của ông về Hồ Chí Minh năm 1969 khi ông Hồ qua đời. Bài báo đó được đăng và đọc trên đài, báo Sài Gòn sau ngày 3/9/1969. Trong bài đó, giáo sư Trung đã ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh và cuối cùng ông kết luận: chỉ tiếc là ông Hồ Chí Minh lại là cộng sản mà thôi! Chính cái kết luận này đã gây tranh cãi trong giới làm tuyên giáo, làm tuyên truyền ở Hà Nội. Có người khen, có người chê. Cuối cùng thì ông Trường Chinh kết luận, đại ý nói, người ta phải viết thế thì mới đăng được trên các báo ở Sài Gòn chứ. Đó là nghệ thuật của người ta, mình phải phục chứ!

Tôi kể những chi tiết về “vụ” ấy cho giáo sư Lý Chánh Trung nghe, ông vô cùng thích thú. Cuối cùng tôi chân thành nhờ giáo sư giúp tôi làm một cuộc tọa đàm với anh em trí thức miền Nam là đại biểu quốc hội. Giáo sư đã vui vẻ đi các phòng gọi các anh: Nguyễn Long, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm… để cho tôi làm một cuộc tọa đàm thật vui vẻ. Máy ghi âm của tôi chạy ro ro… Tôi vui mừng được thấy những con người rất nổi tiếng như anh Nuôi, anh Mẫm… của phong trào sinh viên đấu tranh chống Mỹ Thiệu ở Sài Gòn trước 1975. Thật bất ngờ đến ngạc nhiên là hôm nay, 36 năm sau, trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam ngày 9/12/2012 tạo TP HCM tôi lại đứng cạnh anh Huỳnh Tấn Mẫm trên thềm nhà hát lớn thành phố, nơi cách đây 40 năm anh đã xuất phát để dẫn đầu đoàn sinh viên năm xưa. Trái đất quả là tròn!

Cuộc tọa đàm này đã cho tôi một kinh nghiệm quý, bổ sung vào bài học “phỏng vấn-tọa đàm” mà các giáo trình báo chí chỉ dạy lý thuyết, chỉ nêu yêu cầu nội dung của một cuộc phỏng vấn hoặc tọa đàm mà không ai dậy, không ai nêu câu hỏi và trả lời cho các sinh viên đại học báo chí rằng: làm thế nào để gặp được người mình muốn phỏng vấn… khi họ đều là VIP, những người nổi tiếng, rất khó gặp. Nếu không tiếp xúc được với họ, nếu họ từ chối, hoặc có gặp được nhưng họ không “mở miệng” thì phỏng vấn cái gì? Chính vì thế mà các trường đại học báo chí trên thế giới họ không mời các giáo sư mà chỉ mời các phóng viên nổi tiếng đến giảng cho các lớp báo chí của họ. Còn ở ta, giảng dạy ở các trường tuyên huấn, báo chí, người dậy nếu không phải là một giáo sư văn học thì lại là một cán bộ chính trị, tuyên huấn chưa từng là ký giả bao giờ(!)

Nghĩ lại cuộc tọa đàm, tôi quá hài lòng nhưng vẫn thấy tiêng tiếc vì không gặp được một gương mặt cũng rất tiêu biểu nữa là bà Ngô Bá Thành. Trước khi đem băng ghi âm về Đài và viết lời giới thiệu cuộc tọa đàm, tôi quyết định đến Quốc hội, tìm gặp bà. Tôi nói (và cũng để là xin phép) là xin bà cho tôi “ăn gian” ghi tên bà vào lời giới thiệu cuộc tọa đàm “Trí thức Nam Bộ” tại Quốc hội thống nhất, vì bà là một trí thức rất nổi tiếng. Bà Ngô Bá Thành đã cười ngặt nghẽo rồi nói: Tôi là con mẹ Bắc kỳ, sinh ra ở phố Nhà thương chó Hà Nội chứ Nam Bộ cái nỗi gì! Anh muốn giới thiệu tôi vào đâu cũng được. Nghe xong, tôi mừng quá, vậy là cuộc tọa đàm của tôi thật “hoành tráng”. Báo Hà Nội mới ngày ấy đã đăng bài tường thuật của tôi về cuộc tọa đàm này. Cũng xin mở ngoặc nói dông dài một chút. Phố “nhà thương chó” là phố Yersin ở gần vườn hoa Pasteur Hà Nội. Xưa kia thời Pháp là nơi nhốt chó dại để nghiên cứu. Dân mình gọi là “phố nhà thương chó” rồi chết tên luôn. Cũng như phố “Cây đa nhà bò” ở gần ô Đống mác, như “Ngã năm chuồng chó” ở Gò Vấp TP HCM, như ngõ “Cô ba chìa” ở Hải Phòng, hay như phố “Lò bánh mì”, phố “Cửa hàng thịt” ở Paris mà tôi đã biết. Trên thế gian này, ở đâu cũng có những cái tên “bình dân” như thế bên cạnh tên những anh hùng hào kiệt.

Cũng tại Quốc hội thống nhất, lần đầu tiên tôi được nhìn tận mắt bà Nguyễn Thị Định. Trước đây chỉ thấy bà trên phim, ảnh. Bà Định hôm ấy mặc chiếc áo bà ba màu trắng, cổ quàng chiếc khăn rằn Nam Bộ. Bà đẹp lạ lùng, một vẻ đẹp phúc hậu, nền nếp giản dị mà kiêu sa dũng mãnh. Chỉ có phụ nữ Nam Bộ mới có vẻ đẹp lạ lùng đến thế.

Kết thúc đợt tuyên truyền về Quốc Hội thống nhất, trong một cuộc giao Ban của Đài, tôi được tuyên dương về cuộc tọa đàm phỏng vấn trí thứ Nam Bộ, còn chị Thanh Hương đồng nghiệp của tôi thì bị phê bình vì không hoàn thành nhiệm vụ. Thật oan uổng cho chị Hương. Chị được phân công phỏng vấn một đại biểu Quốc hội là chị công nhân quét rác trong đoàn đại biểu TP HCM. Ngày ấy, mỗi đại biểu Quốc hội đều được phát một cái phiếu để đi mua hàng cung cấp. Thời bao cấp, “bán như cho, mua như cướp”. Cái phiếu ấy mua được nhiều hàng quý, có cả áo len nữa, Chị công nhân kia tất bật đi mua hàng trong các giờ giải lao, tối về lại đi chơi phố phường hà Nội nên chị Hương không sao gặp để phỏng vấn được. Còn các vị trí thức thì họ không quan tâm mua bán như chị công nhân và cũng không thiết đi xem “Hàng Đào không lụa…” của Hà Nội vì thế gặp trí thức dễ hơn gặp chị quét rác nhiều! Nhưng có một chuyện không dễ quên đó là, không hiểu vì lý do gì hay sơ xuất mà trong khi mỗi nhân viên phục vụ ở Quốc hội lại được phát một phiếu mua hàng, còn ba nhà báo mới được một phiếu nên phải bốc thăm để loại nhau! Một đồng nghiệp của tôi ở TTXVN mới phán một câu xanh rờn: thì ra ba thằng bồi bút mới bằng một con bồi bàn! Câu nói đó đến tai chủ tịch Quốc hội Trường Chinh. Ông lập tức họp báo vào cuối giờ phiên họp đó để xin lỗi các nhà báo. Ngày ấy văn hóa xin lỗi còn giữ được, chứ như ngày nay thì dễ gì anh hói, chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng xin lỗi ai!

Cuối năm 1976, cũng trong không khí hồ hởi thống nhất đất nước, Việt Nam đã tổ chức một hội nghị toán học lớn, có rất nhiều nhà toán học giỏi gốc Việt các nước về dự. Tôi phải ra tận sân bay để đón các trí thức Việt Kiều về dự hội nghị. Tôi nhớ đã đón tiến sĩ toán học Lê Dũng Tráng, 29 tuổi người Thanh Hóa, Gs Federic Phạm, cha là nhà toán học Việt Nam mẹ là người Pháp. Giáo sư Phạm sinh ra ở Pháp nên nói tiếng Việt rất khó khăn, chỉ nói được từng từ một, không thành câu. Đa số các vị là những nhà toán học lý thuyết. Một nữ giáo sư toán học ở trường ĐHSP Hà Nội dự hội nghị đó, bà là một người rất nổi tiếng, rất tâm huyết với nền toàn học của nước nhà rất được mọi người kính trọng vì tính tình thẳng thắn cương trực. Bà đã nói với tôi: toán lý thuyết rất quan trọng, rất vĩ đại nhưng với nước ta thì chẳng có tác dụng thiết thực là bao, thế cho nên ngày nào tôi cũng phải xếp hàng mua bắp cải để ăn! Rồi bà hỏi tôi: anh có biết trường phái “Toán học kỳ dị” là thế nào không, anh có biết thế nào là “Bài toán bốn màu không”? Rồi bà giải thích “Bài toán bốn màu là, tôi cho anh bốn màu khác nhu anh phải tô được bản đồ thế giới mà các nước ở xung quanh một nướclại không trùng màu nhau. Nhưng trên thực tế, có nước giáp ranh tới 5-6 nước thì làm sao mà tô được bản đồ thế giới, khi trong tay chỉ có bốn màu! Ấy vậy mà trên lý thuyết bài toán đó lại giải được. Thế nên giới toán học lý thuyết gọi bài toán đó là “Bài toán bốn màu”! Toán lý thuyết là thế đấy anh ạ! Nó chỉ làm người nghiên cứu nó vinh thần phì gia, với một nước nghèo và lạc hậu như nước ta thì… vô ích.

Được vị giáo sư đáng kính này giảng giải tôi mới vỡ lẽ, tại làm sao trong hội nghị đó, đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc đó là Phó thủ tướng, phụ trách công tác khoa học đã kêu gọi các nhà toán học Việt Nam mà tuyệt đại là toán học lý thuyết chuyển sang nghiên cứu toán học ứng dụng cho đất nước được nhờ. Nhưng chẳng ai làm theo lời khuyên của tướng Giáp(!) Vì thế sau này, người ta làm rùm beng việc đón GS Ngô Bảo Châu, hòng lừa mị lớp trẻ, xem như cái lý thuyết “Bổ đề” là tất cả, toán lý thuyết là tất cả, họ quên mất rằng ở cái nước Việt Nam nghèo đói này, cơm áo, ruộng đất của nông dân, dân chủ với nhân dân còn cần gấp triệu lần cái “Bổ đề” kia. Vì thế, nhà văn Đào Hiếu mới lên tiếng. Và, tôi đã viết bài trên mạng INTERNET với đầu đề: “Trí thức, trí ngủ và trí trá” với cái kết luận: “Toán học rất vĩ đại. Viện nghiên cứu toán học cao cấp mà GS Ngô Bảo Châu đang làm viện trưởng rất sang trọng. Nhưng các bệnh viện nhi đồng ở nước ta các cháu thiếu nhi phải nằm chung 2-3 cháu một giường, các bà mẹ phải nằm dưới đất. Khi một em bé bị đau ruột thừa, mẹ em vừa khóc vừa bế em đến bệnh viện, van lạy các BS cứu nhân độ thế. Nhưng bệnh viện còn chờ bố em đi bán bò có tiền nộp viện phía thì mới mổ ruột thừa cứu em… thì mọi sự sang trọng phải xem lại, mọi vật trang trí phải xem lại”! Bài viết trên mạng tháng 4/2011 này của tôi đã gây nhiều tranh cãi.

Cuối năm 1976, sau đại hội Đảng lần thứ 4, nhiều nhân vật bị loại dần khỏi chính trường. Giáo sư Tạ Quang Bửu là một điển hình. Ông Bửu là một người có cá tính mạnh và thuộc loại “cứng đầu”. Ông là tác giả của những câu nói nổi tiếng một thời. Ông tuyên bố: tôi là một nhà toán học, tiếp xúc nhiều với khái niệm trừu tượng, nhưng tôi chưa thấy cái gì trừu tượng bằng khái niệm “làm chủ tập thể”! (tác giả của “làm chủ tập thể” là TBT Lê Duẩn). Về cá nhân, tôi có may mắn được gặp giáo sư Bửu trong nhiệm vụ đi làm thu thanh cuộc bảo vệ luận án Ph. D lần đầu tiên trong nước. Trước đó học vị này là đem từ nước ngoài về. Đề tài bảo vệ thuộc chuyên ngành toán nên GS Bửu nằm trong ban giám khảo. Khi ông xuất hiện, cả hội trường đã đứng lên vỗ tay theo kiểu “đại hội”. Có nghĩa là vỗ tay theo kiểu đồng loạt theo nhịp, cách vỗ tay trong chế độ toàn trị chỉ dành riêng cho các vị lãnh tụ tối cao của Đảng và nhà nước. Tiếng vỗ tay kéo dài không dứt đến nỗi giáo sư Bửu phải ra hiệu nhiều lần xin ngừng. Sau khi hội trường im lặng, ông Bửu tiến đến chiếc micro và nói: tôi có gì oan ức mà các anh các chị phải làm như vậy(!) Số là, lúc đó GS Tạ Quang Bửu vừa mất chức Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Mọi người đã vỗ tay như thế để biểu thị thái độ “phản kháng” việc cách chức giáo sư! Một cách thức mà ngày nay người ta gọi là đấu tranh bất bạo động hợp pháp. Đến giờ giải lao, mọi người quay lấy GS Bửu, vòng trong vòng ngoài. Có người hỏi: thưa giáo sư, vì sao GS lại thôi giữ chức Bộ trưởng? Trả lời: vì lý do sức khỏe, nhưng người thay tôi thì đang nằm bệnh viện! Mọi người đã cười ồ! lại có người hỏi: thưa giáo sư, hiện nay GS làm gì? Trả lời: tôi làm chồng bà Bửu! Mọi người lại cười ồ.

Tôi đã tường thuật thu thanh tạo chỗ cuộc bảo vệ luận án Ph. D đầu tiên này và cố tình để rất lâu tiếng “vỗ tay đại hội” khi làm hậu ký để phát sóng. Ngày ấy, phát thanh có vai trò chủ lực trong hệ thống thông tin đại chúng khi báo viết còn hạn chế, truyền hình mới ra đời và rất ít người có TV, còn INTERNET thì chưa có. Vì thế, không phải vô tình mà trang bìa tập 1 cuốn “Bên thắng cuộc” của Huy Đức lại in hình cái cột điện có gắn loa phóng thanh. Tôi được thính giả của Đài biết danh nhờ những chương trình phát thanh như các tường thuật thu thanh kể trên, vì trước khi phát bài đều có giới thiệu tên phóng viên thực hiện. Thật trớ trêu, ngay sau đó tôi lại bị phân công đi phỏng vấn vị bộ trưởng mới lên thay GS Bửu là GS phó tiến sĩ vật lý hạt nhân Nguyễn Đình Tứ. Vì ông Tứ mới lên bộ trưởng nên nhà ông còn ở gác 5 của khu tập thể Kim Liên Hà Nội. Tôi leo lên được gác 5 mệt muốn chết! Nhưng tôi hoàn toàn thất bại. Vì tất cả các câu hỏi được soạn sẵn ở nhà đại loại như bộ trưởng có dự định gì để khắc phục những tồn tại của ngành đại học và trung học hiện nay… đều bị tân bộ trưởng từ chối. Hầu như ông không trả lời gì cả (bất cứ một câu hỏi nào) và còn né tránh mọi lý do vì sao không trả lời. Ở một nền báo chí tự do thì nhà Đài có thể công bố tất cả những câu hỏi và công bố sự từ chối của vị tân bộ trưởng đối với những câu được hỏi. Như thế cũng là một chương trình phát thanh hay. Hay theo một nghĩa là nó đa dạng và tôi cũng vẫn được trả nhuận bút về cái chương trình đó. Nếu công bằng mà nói cho dù Đài TNVN tuy không chấp nhận quan điểm báo chí tự do nên không thể phát sóng thì Đài vẫn phải tính công lao động cho tôi, vẫn phải tính buổi làm việc đó vào số lượng tin bài đã được giao khoán cho phóng viên hàng tháng. Đằng này không. Tôi mất trắng chuyến đi phỏng vấn phải leo gác 5 và phải soạn câu hỏi cả buổi. Khi được lãnh đạo Đài hỏi về cuộc phỏng vấn, do bực tức, tôi đã trả lời không chút do dự: tôi vừa đi phỏng vấn một anh học trò giỏi, không phải đi phỏng vấn một ông bộ trưởng!

Với một phóng viên mới vô nghề được một, hai năm mà dám trả lời cấp trên như thế là chỉ có “tự sát” và khỏi mong tiến thân vào con đường hoạn lộ, hay muốn vô Đảng, muốn được cất nhắc lên phó, trưởng phòng, phó Ban, trưởng Ban biên tập của cái cơ quan đầy quyền lực này. Nhưng tôi tự xét mình không có “khả năng” đi lên bằng con đường làm quan trong nghề báo, tôi chỉ muốn cầm bút suốt đời, làm phóng viên suốt đời nên tôi đã trả lời rất bình thản những câu hỏi của cấp trên theo suy nghĩ của mình, kể cả với những người có thiên ý muốn nâng đỡ, cất nhắc tôi… cho đến ngày về hưu từ cơ quan của Đài TNVN.

Tôi gọi GS Nguyễn Đình Tứ là anh học trò giỏi vì biết rõ ông từng học thủy lợi ở Trung Quốc, học và làm việc ở Liên Xô. Ông được công nhận đậu Ph. D vật lý hạt nhân cùng một lúc với 7 nhà khoa học người Hungary nhờ cùng với 7 người này chụp được một “bụi phóng xạ lạ” trong một bức ảnh tại cơ quan Viện Đúp-na Liên Xô. Vậy thôi! Ông chỉ là một nhà khoa học thuần túy, không có tư chất một chính khách, một bộ trưởng như GS Bửu. Dưới chế độ cộng sản, những trí thức như Tạ Quang Bửu chỉ được dùng trong giai đoạn đầu. Khi đã “toàn thắng” rồi thì người ta dùng những trí thức XHCN như Nguyễn Đình Tứ, dễ bảo hơn. Cái chết bí ẩn của ông khi ông được bầu vào Bộ cchính trị tại đại hội 8 là một câu chuyện khá… ly kỳ! Tôi sẽ nói ở phần sau tập hồi ký này.

(Còn tiếp)

Đọc tất cả những bài đã đăng ở tại trang: Lời Ai Điếu

Đọc bài tiếp theo: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 17)

Đọc bài trước: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 15)

 

Advertisements

2 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 16)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s