Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 14)

Lời Ai Điếu
Lời Ai Điếu

Hơn tám năm dạy học, tôi thấy rõ sự xuống cấp của giáo dục miền Bắc từ những năm đó. Hai yếu tố dậy và học làm nên quá trình giáo dục thì học là quyết định, dậy là quan trọng. Chưa bàn đến quá trình học, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tôi chỉ nói về quá trình dậy, liên quan trực tiếp đến người thầy. Bệnh hình thức, hay nói khác đi, gọi đúng tên của nó là giả dối đã ngự trị trong lao động dạy học. Điều đáng nói là, chính những người lãnh đạo giáo dục ở các cấp đã vì dốt nát và giả dối, chấp nhận chủ nghĩa hình thức. Đối với môn văn thì lại càng nguy hiểm. Học sinh ngày càng chán học môn văn, vì ngoài việc môn này bị chính trị hóa, còn một nguyên nhân rất quan trọng là sự lười biếng được khuyến khích ở thầy dậy văn. Văn học là “hiểu biết, khám phá và sáng tạo” về cuộc sống. Tác phẩm văn học được đưa vào sách giáo khoa, được đem giảng dạy ở nhà trường, một lần nữa nó phải được thầy cô “khám phá” về cái đẹp để truyền thụ cho học sinh. Sự khám phá này được thầy cô nghiền ngẫm trong từng câu, từng chữ qua nhiều năm. Như người nghệ sĩ đánh đàn, càng lâu năm ngón đàn càng điêu luyện. Vì thế các cụ ta có câu: thầy đờn già, con hát trẻ. Một bài thơ hay như bài “thăm lúa” của Trần Hữu Thung, một thầy giáo dậy văn phải giảng bài thơ này năm này qua năm khác. Nhưng chưa phải là đã khám phá ra hết cái hay, cái đẹp của bài thơ. Vậy mà giáo án của tôi để dậy bài thơ đó được soạn năm trước, năm sau suy nghĩ, rút kinh nghiệm, thêm bớt một số ý, một số từ. Mỗi năm một lần giảng là một lần thêm bớt như thế vào giáo án cũ. Nhưng cán bộ chuyên trách bộ môn văn, một chuyên gia được xem là am hiểu của ty giáo dục về môn văn, về trường kiểm tra đã kịch kiệt phê bình tôi không soạn giáo án mới, đem sử dụng giáo án cũ. Anh ta lại biểu dương một giáo án được chép lại thật sạch sẽ giáo án cũ, có gạch chân các phần bằng mực đỏ nhưng không được bổ sung thêm bớt gì. Anh ta biểu dương công chép lại một giáo án cũ mà phê phán sự trăn trở tìm tòi của người giảng dạy một bộ môn nhgệ thuật đòi hỏi phải luôn sáng tạo và khám phá. Mặt khác, thấy giáo dậy văn phải là diễn viên có tài trên lớp, anh ta phải “thoát ly” được giáo án, phải thuộc “kịch bản” để bằng ngôn từ và ngoại hình cho học sinh “cảm thấy” được cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà bài thơ, bài văn đó đã khám phá. Leonard de Vinci đã từng nói: “Họa thơ là nhìn thấy, thơ là họa cảm thấy” là gì. Học sinh của chúng ta rất chán học văn vì thầy cô chỉ cầm giáo án mà đọc từ năm này qua tháng khác. Tôi đã kịch liệt phản đối cách kiểm tra, chấm điểm đánh giá giáo viên văn qua cách kiểm tra giáo án một cách hình thức như thế. Nhưng tôi đã thua cuộc vì người đánh giá mình là… cấp trên. Nhà trường cũng sợ cấp trên. Năm học đó tôi không được xếp hạng “lao động tiên tiến”, một danh hiệu cho tất cả các cán bộ công nhân viên nhà nước thời đó, trên danh hiệu đó là “chiến sĩ thi đua”.

Nhưng cuối niên học đó đã xảy ra một sự kiện “động trời” với ngành giáo dục của tỉnh. Số là, cuối năm khối lớp 10 trong cả tỉnh đều tổ chức thi thử các môn chính cho học sinh lớp 10 trước khi bước vào kỳ thi tốt nghiệp phổ thông hệ 10 năm. Thi thử là để đánh giá chất lượng dậy và học, và được tổ chức nghiêm túc như thi thật. Đề do Ty giáo dục ra, giờ thi thống nhất toàn tỉnh. Đầu đề môn văn năm đó là: các em hãy phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu.

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mật trời chân lý chói qua tim

Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đượm hương và rất rộn tiếng chim”.

Thời đó, trong nhiều năm dài, hễ thi văn dù tốt nghiệp phổ thông hay thì vào các trường đại học, đề thi quanh đi quẩn lại vẫn là thơ Hồ Chí Minh hoặc thơ Tố Hữu. Có lần, xem đề thi vào đại học, bộ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu đã phán một câu: đây là tà thuyết.

Khi kẻng đã đánh, đề thi được chép lên bảng. Các lớp 10 khác của nhà trường đều im phăng phắc, các em cặm cụi làm bài thi. Riêng lớp tôi, theo lệnh của tôi, các em không phải làm bài, cứ ngồi yên. Khi thầy hiệu trưởng đến kiểm tra đã vô cùng kinh ngạc. Ông kéo tôi ra hàng hiên, hỏi: tại sao lớp thầy học sinh không làm bài? Tôi trả lời: đề thi ra sai(!) Thầy hiệu trưởng càng kinh ngạc: sai cái gì? Tôi trả lời: bốn câu thơ trong đề thi chỉ là một khổ thơ trong bài “Từ ấy”. Còn tám câu của hai khổ nữa mới hoàn chỉnh bài. Nói xong tôi đọc tiếp bốn câu thơ tiếp theo của khổ thứ hai:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi và bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Tôi nói tiếp, vậy mà đề thi lại yêu cầu phân tích cả bài thơ Từ ấy của Tố Hữu. Nếu học sinh của tôi, theo yêu cầu của đề thi phân tích xuống cả những câu tiếp theo thì sao? Thầy hiệu trưởng run lên bần bật vì tôi đã đúng. Nhưng nếu một lớp mà không thi với lý do truy ra đề sai thì… “to chuyện lắm”. Thầy hiệu trưởng năm nỉ tôi cứ cho học sinh làm bài. Tôi kiên quyết từ chối, cho học sinh giải tán ra về. Sự việc trên là một trái bom nổ trong ngành giáo dục Hải Hưng lúc đó. Người ra đề thi năm đó, dĩ nhiên phải là cán bộ chuyên trách bộ môn văn của Ty, ông chuyên viên đã từng kiểm tra giáo án của tôi trong đợt “thanh tra” hồi giữa năm! Ông ta bị cách chức “cán bộ chuyên trách” môn văn ngay sau đó.

Trong thời gian dạy học ở Cẩm Giàng, tôi tham gia sinh học và trở thành hội viên Hội văn nghệ tỉnh Hải Hưng, dự các trại sáng tác văn thơ do Hội tổ chức. Ngoài ra còn viết cho báo Văn Nghệ đề tài “Phương pháp luận giảng dạy văn học” trong nhà trường. Tôi còn viết cho báo “Người giáo viên nhân dân” của Bộ Giáo dục cũng đề tài giảng dạy văn học… Chính vì tham gia các hoạt động văn học, tôi biết khá rành về nhà thơ tý hon lúc đó là Trần Đăng Khoa. Khoa sinh năm 1958 tại xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách tỉnh Hải Hưng. Tám tuổi cậu đã có thơ đăng báo. Tập thơ “Góc sân và khoảng trời” được tuyển chọng trong 200 bài thơ Khoa đã làm trong hai năm, được Khoa lấy tên chung là “Từ góc sân nhà em”, Ty giáo dục Hải Hưng xuất bản tháng 2 năm 1968, lúc tác giả vừa tròn 10 tuổi. Từ điển Wikipedia trên mạng Internat sau này đã nhầm lẫn khi giới thiệu “Từ góc sân nhà em” là tập thơ đầu tiên của Trần Đăng Khoa và tập tiếp theo là “Góc sân và khoảng trời” do nhà xuất bản Kim Đồng in ấn(!). Thực ra, tập thơ “Góc sân và khoảng trời” là do Ty Hải Hưng xuất bản dầy 54 trang,, gồm 52 bài thơ. Một cậu học trò của tôi ở trường trung cấp sư phạm tỉnh, sau khi tốt nghiệp và quận Nam sách dạy học đã mua và đem tặng tôi. Tôi đã đọc rất kỹ tập thơ này. Tôi yêu nó đến mức, đi đâu dù phải dọn nhà nhiều lần vẫn mang nó đi theo. Năm 1981, chuyển công tác từ Hà Nội và Đồng bằng sông Cửu Long (Mỹ Tho), tôi đã chọn trong cả trăm cuốn sách của mình và chỉ mang theo ba cuốn, trong đó có tập “Góc sân và khoảng trời”. Tháng 6 năm 1981, tôi đã tặng nó cho thầy giáo Nguyễn Văn Quýt, một nhà chơi sách nổi tiếng ở Tiền Giang. Mỗi lần tỉnh tổ chức triển lãm sách quý, cuốn “Góc sân và khoảng trời” đều được đem ra trưng bày trước sự thích thú của độc giả. Năm 1992, khi chuyển công tác về Sài Gòn, tôi mượn lại cuốn đó của thầy Quý để photo lại. Đến hôm nay khi tôi viết những dòng chữ này, cuốn photo đó vẫn nằm trước mặt tôi. Thế là, tôi đã đem “Góc sân và khoảng trời” theo mình suốt 40 năm. Có thể vì “chơi” như thế nên tôi đã nghèo suốt đời (giống như thầy giáo Quý, người chơi sách nổi tiếng ở Đồng bằng sông Cửu Long).

Với tâm hồn bay bổng, tình cảm chan chứa, bằng sự quan sát tinh tế và cách diễn đạt hồn nhiên của một cậu bé sinh ra và lớn lên ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, Trần Đăng Khoa đã làm kinh ngạc cả văn đàn miền Bắc thời đó. Những bài thơ như “Cây dừa”, “Đám ma bác giun”… tác giả đã trở thành một thi sĩ lớn ngay từ lúc tuổi còn nhỏ.

Một ngày nắng đẹp đầu thập kỷ 70, tôi đến thăm Trần Đăng Khoa. Tôi phải nhờ cậu học trò cũ của tôi ở trường sư phạm năm nào dẫn đường. Làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn nơi sinh sống của cậu bé Khoa hiện ra trước mắt tôi, nhưng đến nơi thì buổi chiều đó cậu lại đang đi đơm cá. Chúng tôi tìm đến nhà thơ thiếu niên trên cánh đồng. Khoa từ dưới ruộng mò lên, quần áo ướt lướt thướt. Cậu học sinh của tôi (lại là thầy dậy của Khoa) cất tiếng hỏi: Khoa có bài thơ nào mới làm không đưa cho thầy Khải xem? Cậu bé Khoa đặt cái nơm xuống đám cỏ rồi ngả chiếc mũ lá rộng vành xuống, cẩn thận lấy từ trong mũ ra một tập giấy đưa cho tôi. Tôi không tin vào mắt mình nữa khi trước mắt tôi là bản “Trường ca giông bão”. Tôi ngồi xuống ngay vệ cỏ đọc một mạch cho đến hết. Nó chẳng kém gì ILIADE, ODYSSEUS của Homeros! Hơn 40 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ mấy câu cuối cùng của bản trường ca đó: “… Ta nhất định thắng / vì đầu ta có nhiều lẽ phãi / tay ta lấm láp phù sa”

Ít lâu sau tôi về Hà Nội, đến báo Nhân Dân gặp nhà báo Quang Đạm. Ông là một trí thức tên tuổi của Hà Nội. Trong làng báo thời đó, có hai người biết nhiều ngoại ngữ nhất là Quangg Đạm ở báo Nhân Dân và Lê Phú Hào ở VNTTX. Tôi “báo cáo” ông Quang Đạm về bản “Trường ca going bão” và được biết ông đã có đọc từ trước. Ông trầm lặng nói: thiên tài! Thiên tài! Rồi ông lại chậm rãi nói tiếp: nhưng Đảng ta tiết kiệm lắm! Tiết kiệm lắm! Tôi hiểu, ý ông muốn nói là không có chuyện khen ai, nhất lại là khen một cậu bé như Trần Đăng Khoa… trên báo Đảng. Không thể lăng-xê ai để người đó có thể qua mặt những người như XYZ… Sau đó không lâu tôi được thấy bài đó được in trên cáo báo nhưng tên bài đã được biên tập dưới cái tên rất ngô nghê và vớ vẩn. Người biên tập đã tầm thường hóa nó với cái tên mới là: “Trường ca đi đánh thần hạn!”

Cách biên tập, sửa chữa để các tác phẩm văn học thời đó trước khi ra mắt độc giả của các tòa soạn báo là không để ai “qua mặt” được các cây đa cây đề như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… những người được Đảng và chính quyền đề cao. Tố Hữu khi còn nhỏ đã viết trường ca đâu… mà một cậu bé con như Trần Đăng Khoa lại dám viết “Trường ca giông bão”, nó chỉ có thể mang một cái tên như một bài vè nôm na, tầm thường là “Trường ca đi đánh thần hạn”, một kiểu kêu gọi người ta đi tát nước chống hạn mà thôi. Tôi nói điều này vì tôi đã được nhiều lần từng chứng kiến cái kiểu biên tập vô liêm sỉ ấy của báo chí ngay từ những năm 60-70 của thế kỷ trước. Bài thơ “Hạt gạo làng ta” nổi tiếng của Khoa được ca ngợi, được Xuân Diệu hiệu đính, nhạc sĩ Trần Khiết Bình phổ nhạc vào năm 1971, đã được “biên tập” hạ thấp nó xuống. Phải nói là cố tình hạ thấp nó cho dù người ta biết thừa nếu để nguyên văn thì tác giả lớn hơn nhiều. hạ thấp nó để đúng lập trường quan điểm của Đảng về văn nghệ XHCN không có bi kịch, không có nỗi buồn, không có cái đau.

Khi bài “hạt gạo làng ta” đăng báo nó như sau:

“Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa của sông Kinh Thầy

Có lời mẹ hát

ngọt bùi hôm nay…”

Nhưng trước đó, khi tôi đọc bài này trong bản thảo của Khoa thì nó như sau:

“Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa của sông Kinh Thầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi, đắng cay…”

Chữ “đắng cay” đã được biên tập thành chữ “hôm nay”. Vậy là đã giết chết tác giả của bài thơ rồi. Từ một nghệ sĩ đích thực, kẻ phát ngôn của tâm hồn nhân dân, Khoa đã trở thành một kẻ minh họa tầm thường, một kẻ bồi bút chỉ biết véo von ca ngợi và ca ngợi… Lời mẹ hát “ngọt bùi hôm nay” thì nhạt nhẽo quá. Câu thơ vừa ngớ ngẩn, vừa tầm thường lại dối trá nữa. Người mẹ nghèo ở quê hương của chúng ta vất vả, đắng cay từ ngàn xưa, nay còn “đắng cay” hơn vì đi làm hợp tác xã, một ngày công chỉ được mấy lạng thóc mà lời hát thì chỉ có “ngọt bùi” thôi ư? Trần Đăng Khoa đã không viết thế, nhưng người ta có quyền đăng và có quyền “giết” tác giả như thế. Tiếp theo các “biên tập” sửa chữa tác phẩm vô tội vạ kiểu đó, người ta còn làm một việc áp đặt là mời nhà thơ chuyên viết thơ thiếu nhi là Phạm Hổ về tình để “đỡ đầu” cho Trần Đăng Khoa. Phạm Hổ là nhà thơ mà chẳng ai nhớ một câu nào của ông ta, lại được mời về “đỡ đầu” cho một người làm thơ đã nổi tiếng cả nước. Trong cuộc gặp mặt của Hội Văn nghệ tỉnh với nhà thơ Phạm Hồ được xem như là cái lễ ra mắt chứng nhận sự đỡ đầu của Phạm Hổ đối với Trần Đăng Khoa, có cả phó bí thư tỉnh ủy Lê Quý Quỳnh dự, tôi đã nói đùa với ông Quỳnh: nên để ông Phạm Hổ đỡ cái khác của Trần Đăng Khoa hơn là đỡ đầu nó, vì cái đầu “có nhiều lẽ phải” của nó nặng lắm, sức Phạm Hổ không đỡ nổi đâu. Phó bí thư Quỳnh đã mắng tôi “cậu chỉ nói linh tinh” (ông Quỳnh trước là bí thư hải Hưng, sau vì hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên nhập một, mất đoàn kết nên trung ương mới điều ông Ngôi Duy Đông về là bí thư và ông Quỳnh làm phó).

Sau này Khoa còn bị cử đi học viết văn, học lý luận viết văn bên… Liên Xô thì nực cười quá! Ông Anh Đức sau này có tâm sự với tôi, ông đã từng được cử đi học viết văn ở Liên Xô, nhưng theo ông, mình là người Việt Nam thì học viết văn kiểu Liên Xô làm gì? Thay vì đi Liên Xô học viết văn, ông đã đi B (vô Nam) để thâm nhập thực tế Việt Nam, để viết văn cho dân mình đọc.

Trần Mạnh Hảo có lần bảo với tôi: Trần Đăng Khoa về hưu từ lúc còn nhỏ(!) Đúng vậy. Nếu đứng từ góc độ một nhà văn, một nhà thơ thì với cách “biên tập” văn thơ như tôi kể ở trên, với cách cử đi Liên Xô học viết văn… nên Trần Đăng Khoa đã không viết được gì nữa. Coi như về hưu nghề văn. Và anh ta đã trở thành một ông quan tầm thường hơn cả sự tầm thường ở Đài tiếng nói Việt Nam.

(Còn tiếp)

Đọc những phần khác ở trang Lời Ai Điếu

Đọc bài kế tiếp: Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 15)

Đọc bài trước:  Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 13)

 

4 thoughts on “Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 14)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s