Việt Nam thời hậu chiến

Cuộc cách mạng đã mang lại cho người dân và đất nước của họ sức mạnh và sức chịu đựng để chiến thắng những địch thủ vượt trội về quân sự trong một cuộc chiến kéo dài ba mươi năm. Thế nhưng sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ thì người Việt đã phải trải nghiệm một cách đau đớn, rằng đấu tranh chiến thắng một cuộc cách mạng thì đơn giản hơn là cầm quyền một đất nước đã bị chia cắt lâu dài và bị tàn phá bởi chiến tranh. Khó khăn trong xây dựng thật lớn: hoàn cảnh quốc tế không thuận lợi, tàn phá, nhiều vấn đề về sinh thái, tâm lý, xã hội và kinh tế. Thêm vào đó, những người cộng sản tự đánh giá mình quá cao và chờ đợi rằng đại đa số người Việt sẽ hoan nghênh một xã hội xã hội chủ nghĩa vô điều kiện.

Sài Gòn 1985 - Nghĩa trang máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Hình: Philip Jones Griffiths
Sài Gòn 1985 – Nghĩa trang máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Hình: Philip Jones Griffiths

Sau khi chiếm được Sài Gòn, thủ đô của miền Nam được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, và trong tháng Bảy 1976, giới lãnh đạo cộng sản tuyên bố thành lập nước “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam”. MTDTGP hòa nhập vào trong một “Mặt trận Tổ quốc”; bắt đầu từ bây giờ, vận mạng của đất nước là do các cán bộ từ miền Bắc điều khiển. Tuy người cộng sản bảo đảm với người dân miền Nam là sẽ không đụng chạm tới sở hữu và tài sản cá nhân. Thế nhưng trong tháng Ba 1978, Hà Nội bất ngờ bắt đầu quốc hữu hóa nền kinh tế và dẫn dắt nền nông nghiệp vào trong các hợp tác xã. Trước các căng thẳng ngày càng tăng lên với Trung Quốc, chính phủ với bước đi này rõ ràng là muốn ngăn chận ảnh hưởng của nhóm thiểu số người Hoa thống trị cuộc sống kinh tế của miền Nam.

Trong lúc đó, người Nam Việt Nam ngày một bất bình nhiều hơn trước thái độ của những kẻ quan liêu xuất phát từ miền Bắc. Tuy là sau khi Sài Gòn sụp đổ đã không có cuộc tắm máu như người Mỹ lo ngại, nhưng hàng trăm ngàn người Nam Việt Nam phải sống trong các trại cải tạo một thời gian và phải lao động cưỡng bức. Có cho tới 1,5 triệu người đã quyết định rời bỏ Việt Nam. Trong số các thuyền nhân chạy trốn sang Trung Quốc, Hongkong hay Philippines có rất nhiều người Hoa thiểu số. Vô số người chạy trốn đã chết đuối, và những người lưu lạc tới Hongkong đã ở trong trại nhiều năm trời, để rồi cuối cùng lại bị trục xuất trở về Việt Nam. Hơn một trăm ngàn người Việt tìm được đường sang Hoa Kỳ ngày nay là một nhóm người nghèo và sống ngoài lề. Một vài dân tộc thiểu số sống trên Cao nguyên Trung phần, mà trong Chiến tranh Việt Nam đã được CIA cung cấp cho vũ khí, đã nổi loạn và bị những người cộng sản đàn áp với sự cứng rắn không thương xót.

Các vấn đề còn trầm trọng thêm vì nhiều sự phức tạp trong đối ngoại. Ở Trung Quốc và trong Campuchia của Khmer Đỏ, người ta nhìn sự đòi hỏi muốn đóng vai trò dẫn đầu ở Đông Dương của Hà Nội với sự lo ngại ngày càng tăng. Các quan hệ trước sau cũng đã có nhiều căng thẳng giữa những người cộng sản Việt nam và Khmer Đỏ xấu đi thấy rõ. Sau 1975, quân đội Pol Pot tiến hành một cuộc chiến tranh biên giới thật sự, để tái sáp nhập các tỉnh mà Campuchia đã mất về cho Việt Nam trong thế kỷ 17. Sau khi Hà Nội gia nhập cộng đồng kinh tế xã hội chủ nghĩa COMECON và ký kết một hiệp ước phòng thủ với Moscow trong tháng Mười Hai 1978, quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia. Những người xâm lược này phần nhiều được chào đón như là những người giải phóng ra khỏi một chế độ khinh khi con người. Thế nhưng việc lắp đặt một chính phủ Campuchia mới, phụ thuộc vào Việt Nam, đã tạo nhiều lo ngại ở Đông Nam Á và Phương Tây. Trung Quốc lợi dụng cơ hội này và tấn công vào các tỉnh biên giới của nước láng giềng phía Nam trong tháng Hai 1979. Qua đó, Bắc Kinh muốn ngăn chận một quyền bá chủ của Việt Nam ở Đông Dương và đồng thời nhấn mạnh đến đòi hỏi chủ quyền các đảo Trường Sa của mình ở Biển Đông mà người ta phỏng đoán có những trữ lượng dầu lớn ở dưới đó. Quân đội Trung Quốc rút lui sau vài tuần, vì gặp phải chống cự mạnh hơn dự tính và dường như không nhìn thấy được kết thúc của các trận đánh.

Một lớp học tập cải tạo tại Tây Ninh, 1976. Hình: Marc Riboud
Một lớp học tập cải tạo tại Tây Ninh, 1976. Hình: Marc Riboud

Đối với Việt Nam, việc chiếm đóng Campuchia lâu dài đã chứng tỏ là một việc mang lại nhiều tổn thất và gây gánh nặng. Lực lượng Khmer Đỏ được Trung Quốc hỗ trợ tiến hành từ những vùng là hậu cứ của họ một cuộc chiến tranh du kích đẫm máu, giữ chặt vài chục ngàn người của quân đội Việt Nam. Dưới sự dàn xếp của Liên Hiệp Quốc, một hiệp định ngưng bắn được đưa ra năm 1991, tạo khả năng cho người Việt rút quân và mở đường cho một chính phủ liên hiệp Campuchia bao gồm cả những nhóm nhỏ của Khmer Đỏ. Mặc dù vậy, các xung đột chính trị trong đất nước đã phải chịu nhiều đau khổ này vẫn tiếp tục. Tuy Pol Pot bị chính người của ông ta tước quyền lực trong mùa hè 1997. Thế nhưng một cuộc đảo chính chống người đồng nhiệm Hoàng tử Norodom Ranariddh của thủ tướng Hun Sen do người Việt đặt ra đã cho thấy rõ rằng Campuchia trong thời gian tới đây vẫn sẽ là một khu vực khủng hoảng.

Mười hai năm chiếm đóng Campuchia và các căng thẳng kéo dài với Trung Quốc đã tạo áp lực lên tình hình kinh tế mà trước sau gì thì cũng đã khó khăn của Việt Nam. Tuy vào giữa những năm tám mươi, tương tự như các phát triển ở Liên bang Xô viết, đã có những cải cách kinh tế thận trọng, sáng kiến kinh tế cá nhân đã được phép và tư bản nước ngoài được mời vào. Cả nông nghiệp cũng được tư hữu hóa một phần. Trong một thời gian ngắn, sản lượng đã tăng lên, khó khăn trong cung cấp lương thực đã thuộc về quá khứ, và vào cuối những năm tám mươi Việt Nam còn trở thành nhà xuất khẩu gạo lớn thứ ba trên thế giới. Mặc cho những thành công đó, Hà Nội vẫn bám chặt vào nền kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa; tỷ lệ thuộc nhà nước trong kinh tế tăng trong khoảng thời gian từ 1990 đến 1997 từ 33% lên 40%. Một cuộc tự do hóa và dân chủ hóa về mặt chính trị cũng không được đặt ra, ngay cả sau lần sụp đổ của Liên bang Xô viết, đồng minh quan trọng nhất. Vẫn còn trong tháng Tư 1997, Chủ tịch nước Lê Đức Anh tuyên bố: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù tàn bạo nhất của Chủ nghĩa Xã hội”.[1]

Trong vòng hai mươi lăm năm vừa qua, Việt Nam đã trải qua một cuộc phát triển kinh tế rất nhanh. Từ đầu những năm 90, tăng trưởng kinh tế nằm vào khoảng 7%. Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 cũng đã để lại dấu vết ở đất nước có định hướng xuất khẩu này. Tháng Giêng 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Qua đó, đất nước này đã đưa ra lời xác quyết tiếp tục tích hợp vào thị trường thế giới. Với dân số tổng cộng là 88,5 triệu người, tổng sản phẩm quốc gia trên đầu người trong năm 2009 nằm ở khoảng 2100 Euro. Đối diện với tăng trưởng dân số cao, phụ thuộc kéo dài vào nông nghiệp và những vấn đề sinh thái bắt nguồn từ chiến tranh mà cho tới nay hầu như chưa được giải quyết, những cải cách cơ bản về xã hội, chính trị và kinh tế đang hết sức cần thiết.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam


[1] The Economist, 17/5/1997.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s