Chiến tranh sau cuộc chiến

Ở Việt Nam, cả hai bên đều đổ trách nhiệm cho phía bên kia là đã vi phạm các điều kiện ngưng bắn. Ngay cả khi Bộ Chính trị ở Hà Nội đã quyết định trong mùa xuân 1973, tiếp tục tiến hành cuộc chiến cho tới cuối cùng thì những người không giữ đúng các thỏa thuận ở Paris vào lúc ban đầu là các tướng lãnh Nam Việt Nam. Họ phá hoại “Hội đồng Dân tộc” và cố hết sức để mở rộng quyền kiểm soát của họ trên đất nước – đất và người đối với Thiệu là những yếu tố mà ông dùng chúng để định nghĩa quyền lực của ông. Trong thời gian của năm đó, QLVNCH đã có thể chiếm giữ 1000 ngôi làng. Nhưng qua đó, quân đội Nam Việt Nam lại phải đảm nhận càng nhiều hơn những nhiệm vụ bảo vệ mang tính phòng thủ và bất động. Sức mạnh trên số liệu của QLVNCH – 1,1 triệu người lính và lực lượng bán quân sự đứng dối diện với tròn 300.000 người Bắc Việt và các đơn vị của MTDTGP – vì vậy không có nghĩa là Sài Gòn chiếm ưu thế về mặt quân sự. Vì trong khi hai phần ba lực lượng của QLVNCH phải đảm nhận việc bảo vệ lãnh thổ thì MTDTGP và người Bắc Việt thực hiện các nhiệm vụ phòng ngự và bất động chỉ với 10% quân đội của họ.

Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.
Ngày 30-4-1972 Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công mùa xuân vượt qua vùng phi quân sự và sông Bến Hải. Sau 5 tháng giao tranh ác liệt, quân BV đã chiếm được vùng phía bắc sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị. Giới tuyến tạm thời giữa hai miền Nam Bắc từ đây không còn là sông Bến Hải, mà là con sông Thạch Hãn này. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973, nhiều tù binh của phía BV đã được Nam Việt trao trả qua con sông này.

Thích ứng với các trải nghiệm từ Tết Mật Thân và đợt tấn công dịp Phục Sinh, bắt đầu từ tháng Giêng 1973, Hà Nội và MTDTGP tạm thời lui về thế thủ chiến thuật. Khi QLVNCH tiến vào những vùng mà họ chỉ có thể giữ được trong trường hợp khẩn cấp với những nổ lực thật lớn thì điều đó cũng nằm trong lợi ích của họ. Trong khi đó, quân đội đổ bê tông cho con đường mòn Hồ Chí Minh có nhiều nhánh phụ, thiết lập kho cung ứng và qua đó rút ngắn hai phần ba thời gian chuyên chở người và vật liệu từ miền Bắc vào miền Nam. Ngoài ra, Hà Nội lắp đặt một đường ống dẫn dầu dài hai ngàn kilômét từ biên giới với Trung Quốc ở phía bắc cho tới Campuchia ở phía Nam và chấm dứt ở vùng mà người Mỹ và Nam Việt Nam đã tiến quân vào ba năm trước đó. Trong năm 1974, quân đội cộng sản tăng cường các hoạt động quân sự của họ và củng cố sự thống trị của họ ở các tỉnh nằm phía nam vùng phi quân sự cũng như ở phía tây của cao nguyên trung phần. Đến cuối năm, người Bắc Việt qua đó đã kiểm soát được một vùng đất tương đất khép kín, trong khi MTDTGP kìm giữ phân nửa QLVNCH ở đồng bằng sông Cửu Long.

Trong khi đó, chế độ Sài Gòn và người dân thành thị của Nam Việt Nam phải hứng chịu toàn bộ lực dập của những hệ quả từ cuộc rút quân của Mỹ. Từ 1970, thu nhập đã giảm xuống, những thu nhập phát sinh từ việc chuyển giao nhiều tỉ dollar hàng năm. Cho tới 1973, 300.000 việc làm tại quân đội Mỹ đã mất đi và trong các thành phố, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 40%. Suy thoái kinh tế và làm phát còn bị làm cho trầm trọng thêm bởi cuộc khủng hoảng dầu năm 1973 làm cho nhập khẩu thêm đắt tiền. Trong năm tiếp theo sau đó đã có thiếu hụt nghiêm trọng trong cung cấp lương thực vì Sài Gòn kiểm soát thị trường gạo gắt gao hơn và muốn giữ lại không cho MTDTGP có được thứ lương thực cơ bản này.

Tình trạng khốn cùng đó cũng lan sang đến giới quân đội trong năm 1974, vì Quốc Hội ở Washington đã khóa tiền cung cấp cho QLVNCH. Cho năm 1975, các đại biểu chỉ còn chấp thuận viện trợ quân sự 700 triệu dollar cho Nam Việt Nam. Sau khi trừ đi chi phí vận tải từ tổng số tương đối ít này thì chỉ còn lại hơn 300 triệu. Nhưng con số này không đủ để tạo khả năng cho QLVNCH tiến hành chiến tranh theo cách của họ – hỏa lực mạnh, kỹ thuật và tính di động. Chiến lược của QLVNCH là chiến lược của Mỹ, và nó rất đắt tiền. Năm 1973, những người lính Nam Việt Nam bắn đi số đạn dược nhiều gấp mười bảy lần địch thủ của họ, và năm 1974 thì vẫn còn nhiều hơn gấp mười hai lần. Việc cắt giảm viện trợ quân sự của Mỹ ngày càng làm suy yếu khả năng hoạt động và sức chiến đấu của QLVNCH trong năm 1974.  Ngoài ra, tinh thần chiến đấu của quân đội cũng giảm sút đáng kể, vì thu nhập của người lính thường không còn đủ cho chi phí sinh hoạt nữa. Đào ngũ đạt kỷ lục năm 1974 với con số 240.000. Cướp bóc ở nông thôn tăng cao và khiến cho người dân nông thôn không còn chấp nhận QLVNCH ở khắp nơi. Cuối cùng có những đơn vị pháo binh còn tính cả tiền phí khi họ được bộ binh yêu cầu giúp đỡ, và không quân thì yêu cầu suất nhiên liệu đặc biệt.

Cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế, sự đồng tình của giới tinh hoa thành thị đối với Thiệu cũng giảm xuống. Những người khá giả bắt đầu mang gia đình và sở hữu ra khỏi nước. Đã quen với tham nhũng, kinh tế thân hữu và dòng chảy dollar Mỹ, chính phủ tỏ thái độ không quan tâm và không có khả năng để giải quyết các vấn đề. Sự quan tâm của họ cô đọng lại ở câu hỏi, Hoa Kỳ có giúp đỡ Sài Gòn hay không và như thế nào. Được xác nhận từ giới đứng đầu của lực lượng cố vấn Mỹ gồm 9000 người, Thiệu bám chặt vào những lời hứa hẹn của Nixon và rơi vào trong những đánh giá sai lầm mà người ta có thể hiểu được, rằng cuối cùng thì hành pháp cũng sẽ thắng lập pháp ở Washington. Cả giới đối lập về chính trị, hết sức chia rẻ, manh mún và không có ảnh hưởng, mang nhiều ảnh hưởng trung lưu-thành thị, cũng đông cứng lại trong tinh thần thuộc địa đã học được dưới thời người Pháp và tiếp tục tồn tại dưới thời người Mỹ. Tinh thần chiến bại lan tỏa ra khắp nơi, một bầu không khí thích ứng và căng thẳng chờ đợi những biến đổi sẽ đến.

Tháng Tư 1975, người dân chạy nạn về Sài Gòn. Hình: Nik Wheeler/CORBIS
Tháng Tư 1975, người dân chạy nạn về Sài Gòn. Hình: Nik Wheeler/CORBIS

Khi MTDTGP bất ngờ chiếm tỉnh lỵ Đồng Xoài cách biên giới Campuchia không xa vào đầu tháng Mười Hai 1974, giới lãnh đạo ở Hà Nội thảo luận về triển vọng của một đợt tấn công mới. Thủ tướng Phạm Văn Đông đánh giá rất thực tế rằng khả năng can thiệp quân sự của Hoa Kỳ sau Hiệp định ngưng bắn Paris, vụ bê bối Watergate và sau khi Nixon từ chức (tháng Tám 1974) là rất nhỏ. Là người quan sát cẩn thận, ông thấy rõ rằng người kế nhiệm Nixon, Gerald Ford, không nhận được sự ủy nhiệm của người dân, và hình dung của ông về chức vụ này – ít nhất là cho tới cuộc bầu cử kế tiếp – tương ứng với công việc của một người được ủy thác. (Phó tổng thống Spiro Agnew đã từ chức trước Nixon vì một vụ bê bối; qua đó, theo Hiến Pháp, người kế nhiệm chức vụ tổng thống là chủ tịch Hạ Viện). Dưới những tiền đề đó, vào ngày 18 tháng Mười Hai 1974, Hà Nội quyết định tiến hành một đợt tấn công lớn vào mùa xuân ở cao nguyên trung phần. Nếu như đợt này không thể mang lại chiến thắng cuối cùng thì ít nhất là nó cần phải tạo điều kiện cho một “cuộc tổng nổi dậy trong các thành phố” trong năm 1976.

Đợt tấn công của Bắc Việt Nam bắt đầu trong tháng Ba 1975 và nhanh chóng dẫn tới việc chiếm được Ban Mê Thuột, trung tâm của vùng Tây Nguyên. Thiệu quyết định bỏ đất để mua thời gian và tập trung lực lượng quân đội của ông. Mục đích của ông là củng cố sự thống trị của Sài Gòn ở Nam Kỳ với đồng bằng sông Cửu Long và mười triệu dân cư của nó. Vì vậy mà ông ra lệnh cho vị tướng lãnh chỉ huy vùng quanh Pleiku và Kontum rút quân đội của ông ra khỏi khu vực đó và hành quân về vùng ven biển. Thế nhưng người này đã bỏ đi với một vài người thân cận và bỏ mặc những người lính ở lại với số phận của họ. Qua đó, thảm họa đã bắt đầu: Chỉ trong vòng vài ngày, cuộc rút quân của đội quân không có chỉ huy đã biến thành một cuộc tháo chạy vô trật tự. Hàng chục ngàn người thân trong gia đình và người dân của các thành phố làm tắc nghẽn dường đi, xe cộ không thể tiến tới, đạn dược và thiết bị phải bỏ lại. Quân đội Bắc Việt đuổi theo chiếm Huế vào ngày 25 tháng Ba, Đà Nẵng vài ngày sau đó. Dưới ấn tượng của những thành công về quân sự này, bộ tổng chỉ huy ở Hà Nội quyết định cũng tấn công Sài Gòn và chiếm các tỉnh ở phía nam của đất nước. Trong những tuần kế tiếp theo sau đó, quân đội Bắc Việt xóa bỏ mọi chống cự ở các tỉnh phía bắc và trung phần, và tiến quân về thủ đô. Vào ngày 21 tháng Tư, Thiệu nhường chỗ lại cho một chính phủ mới, sẵn sàng thỏa hiệp với MTDTGP dưới quyền của Tướng Dương Văn Minh và bỏ chạy ra nước ngoài. Tin chắc sẽ chiến thắng, Hà Nội và MTDTGP phớt lờ những đề nghị hòa bình của Minh. Chín ngày sau đó, vào ngày 1 tháng Năm 1975, quân đội Hà Nội tiến vào Sài Gòn và chấp nhận lời đầu hàng của Tướng Minh. Qua đó, cuộc chiến tranh ba mươi năm vì quyền lực ở Việt Nam đã chấm dứt.

Giới quân đội Mỹ bất ngờ trước những thành công nhanh chóng của người Bắc Việt và trước sự chống cự nói chung là yếu ớt của QLVNCH. Sau khi trao đổi với giới tướng lãnh Nam Việt Nam vào đầu tháng Tư, Tướng Frederick Weyand, Tham mưu trưởng Lục quân, đề nghị Tổng thống Ford tái khởi động chiến tranh ném bom và viện trợ tức tốc 720 triệu dollar. Thế nhưng vì tinh thần trong Quốc Hội và ở công chúng nên Ford đã loại trừ một sự can thiệp về quân sự; ông chuyển tiếp lời yêu cầu cung cấp các phương tiện tài chính sang các dân biểu một cách nửa vời. Trong lúc Quốc Hội vẫn còn họp thì các sự kiện ở Việt Nam đã thêm trầm trọng. Ở Sài Gòn, Đại sứ Graham Martin bắt đầu tiến hành quá muộn cuộc di tản 9000 người Mỹ và nhiều người Việt đã làm việc cho chế độ hay cho Hoa Kỳ. Nhưng ít ra thì quân đội Mỹ đã có thể chở máy bay ra khỏi nước được 150.000 người bên cạnh các công dân của họ. Thế nhưng trong diễn tiến của các biện pháp cứu nạn quá  hấp tấp đã xảy ra nhiều cảnh tuyệt vọng: người dân bám vào càng máy bay trực thăng và cánh máy bay, giá cả cao quá mức cho một thị thực mà rồi người ta không nhận được nó, và nhiều người không nhận được khả năng đi ra nước ngoài.

29 tháng Tư 1975: Một người phụ nữ Việt Nam ngồi trên boong của một con tàu đổ bộ tấn công của Mỹ trong cuộc di tản khỏi Sài Gòn. Hình: AP
29 tháng Tư 1975: Một người phụ nữ Việt Nam ngồi trên boong của một con tàu đổ bộ tấn công của Mỹ trong cuộc di tản khỏi Sài Gòn. Hình: AP

So với những gì xảy ra ở Campuchia trong cùng thời gian đó thì sự đau khổ và hỗn loạn ở Sài Gòn vẫn còn được giới hạn: ngay vào đầu tháng Tư, Tướng Lon Nol đã bỏ ra nước ngoài sau một loạt chiến bại. Những người nước ngoài cuối cùng và nhiều người Campuchia đã được người Mỹ chở máy bay ra nước ngoài trong một cuộc di tản có trật tự. Vào ngày 17 tháng Tư 1975, người Khmer Đỏ vào Phnom Penh. Chỉ trong vòng vài ngày, thủ đô đông đúc với ba triệu người tỵ nạn trông giống như không có người. Những người theo Pol Pot đã xua đuổi ngay cả những người bị thương nặng trong bệnh viện về nông thôn trong một chuyến đi tử thần và bắt đầu đẩy Campuchia trở về thời kỳ đồ đá trong năm “Không”.

Cả ở Lào, đợt tấn công của Bắc Việt cũng gây ra một cơn động đất chính trị. Ở đó, những người cộng sản và chính phủ đã thỏa thuận ngưng bắn trong quá trình của Hiệp định Paris (tháng Hai 1973). Thế nhưng chính phủ liên  minh mong manh ngày càng rơi vào trong sự kiểm soát của Pathet Lào được Hà Nội ủng hộ nhiều hơn. Sau khi người cộng sản nắm lấy quyền lực ở Sài Gòn và Phnom Penh, Pathet Lào cũng giật lấy quyền lực chính phủ về tay họ ở Vientiane.

Washington hoảng sợ trước lần sụp đổ của các đồng minh ở Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Nhưng người Mỹ không còn muốn biết gì về Thuyết Domino và chiến tranh nữa. Chỉ một vài ngày sau khi Sài Gòn bị chiếm đóng, Tổng thống Ford đã đóng lại một trong những chương khó khăn nhất của lịch sử Mỹ trong một bài diễn văn trước các sinh viên của Đại học Tulane: “Nước Mỹ có thể lấy lại cảm giác của niềm tự hào đã có trước Việt Nam. Nhưng điều đó thì không thể đạt được qua một cuộc chiến mà đối với nước Mỹ thì đã chấm dứt rồi.”[1] Bài diễn văn của Ford có tác động giống như một lần giải phóng, và khi ông tuyên bố rằng, nước Mỹ đã học từ những lỗi lầm của nó thì sự nhẹ nhỏm, rằng cơn ác mộng Việt Nam đã chấm dứt, lớn cho tới mức không nhà bình luận nào hỏi rằng, ông Tổng thống có ý muốn nói tới những bài học nào.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam


[1] Address at a Tulane University Convocation, 23.4.1975, in: Public Papers of the Presidents, Gerald R. Ford, 1975, Washington 1977, I, trang 568-573.

 

Advertisements

One thought on “Chiến tranh sau cuộc chiến

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s