Hiệp định Paris tháng Giêng 1973

Ngoài những cuộc đàm phán hòa bình chính thức ở Paris, Henry Kissinger đã bí mật gặp gỡ và trao đổi với trưởng đoàn đàm phán Bắc Việt Lê Đức Thọ nhiều lần. Vì các quan điểm không thể hòa hợp được nên họ chưa bao giờ có thể tiếp cận lẫn nhau. Nhưng đứng trước các diễn tiến về quân sự và trên trường quốc tế, giới lãnh đạo Hà Nội đã đi đến quan điểm rằng trì hoãn các cuộc đàm phán sẽ không mang lại lợi thế. Ngoài ra, họ cũng không ảo tưởng rằng McGovern sẽ thắng cuộc bầu cử tổng thống và một chính phủ của đảng Dân chủ sẽ đưa ra cho Bắc Việt Nam những điều kiện tốt hơn – trong các cuộc thăm dò dư luận, Nixon dẫn trước quá xa. Về phần mình, Nixon lại chia sẻ quan điểm của Henry Kissinger, rằng bây giờ là thời điểm để đàm phán cho một nền “hòa bình trong danh dự”.

Ký kết Hiệp định Paris 1973
Ký kết Hiệp định Paris 1973

Khả năng đàm phán của Kissinger ngay từ đầu đã bị giới hạn. Tuy ông có thể đe dọa tiếp tục ném bom, nhưng không còn có thể yêu cầu cả đôi bên đều rút quân được nữa – ở Việt Nam chỉ còn có 27.000 người lính Mỹ. Sau khi Kissinger và Lê Đức Thọ thận trọng bước đến với nhau trong những cuộc đàm phán phức tạp và bao gồm nhiều tiểu tiết, hai bên đã đạt tới những thỏa hiệp vào ngày 26 tháng Chín và 10 tháng Mười 1972, những cái có thể chấp nhận được đối với Kissinger: Thọ chấp thuận quyền tiếp tục tồn tại của chế độ Thiệu. Ông đề nghị thành lập một “Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp” mà trong đó chính phủ Sài Gòn, “Chính phủ Nhân dân Cách mạng” do MTDTGP tuyên bố thành lập và những nhóm trung lập đều có đại diện cân bằng với nhau. Hội đồng này có nhiệm vụ chuẩn bị tiến hành bầu cử cho Nam Việt Nam. Ngoài ra, ông đề nghị ngưng bắn ngay lập tức và trao đổi tù binh. Bù vào đó, phía Mỹ cần phải chấm dứt tất cả các hoạt động quân sự chống Bắc Việt Nam và rút quân đội của họ ra khỏi Nam Việt Nam trong vòng sáu mươi ngày. Kissinger thành công trong việc yêu cầu có một thể chế kiểm soát chung để giám sát việc ngưng bắn, một Ủy ban Kiểm soát Quốc tế đứng trên hai bên có nhiệm vụ hỗ trợ cho quá trình lập lại hòa bình giữa Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ cũng như giữa Hà Nội và Sài Gòn.

Trong diễn tiến ngoại giao con thoi của ông giữa Washington, Paris và Sài Gòn, Kissinger phải luôn trải nghiệm rằng Thiệu “không hoàn toàn đồng tình với chúng tôi”: “Chúng tôi chỉ dần dần mới hiểu rằng vấn đề không phải là khó khăn trong lúc diễn đạt các đề nghị, mà là về một mâu thuẫn cơ bản trong quan điểm cơ bản. Cội rễ của cái tai hại nằm trong sự việc, rằng Thiệu và chính phủ của ông ta đơn giản là không muốn ký kết một hòa bình qua thương lượng. Họ có một vài ý tưởng mơ hồ, những cái trên thực tế là hướng tới một sự đầu hàng vô điều kiện của Hà Nội. Sự sống còn đơn giản là không đủ đối với họ – họ muốn có một bảo đảm cho chiến thắng.”[1] Cũng có thể hiểu được nỗi bực tức của Kissinger. Thế như cung cách ngoại giao bí mật với Hà Nội của ông đã phá hủy mọi sự tin tưởng ở phía Nam Việt Nam, và mang lại cho Thiệu một cơ hội để phá hỏng các cuộc trao đổi. Trong khi Kissinger không cho vị tướng lãnh này biết chi tiết về những cuộc đàm phán ở Paris thì mật vụ của Thiệu đã lấy được nhiều thông tin chi tiết về tình hình của sự việc từ MTDTGP. Qua đó, các phỏng đoán đã cô đọng lại thành sự chắc chắn ở Sài Gòn, mà theo đó Kissinger còn không buồn hỏi ý của Thiệu nữa. Trước hoàn cảnh đó, Sài Gòn từ chối bản hiệp định đã được dự kiến. Mặc dù vậy, Kissinger vẫn cố cứu lấy thỏa hiệp này. Vào ngày 25 tháng Mười ông cố gây áp lực lên cả hai bên. Trước báo giới, ông tuyên bố: “Chúng tôi tin rằng hòa bình đã đứng trước cửa.”[2] Lời tuyên bố này còn bám theo Kissinger nhiều năm sau đó. Vì nó không những không xem xét đến thái độ của Sài Gòn đối với các cuôc đàm phán mà còn không phản ánh các quan điểm của người Tổng thống của ông. Vì Nixon đã đi đến nhận thức, rằng những nghi ngại của Thiệu một phần là có lý do, và chiến thắng trong bầu cử sẽ cải thiện triển vọng cho một hiệp ước có lợi hơn. Lời tuyên bố của Kissinger là quá vội vã, nhưng tuy vậy nó có một hiệu ứng phụ mà có lẽ không phải là vô tình: Nó lấy đi lý lẽ tranh cử cuối cùng của người thách thức thuộc đảng Dân chủ McGovern. Với 61% số phiếu, Nixon đạt được kết quả tốt nhất trong số tất cả các ứng cử viên đảng Cộng hòa trong lịch sử Mỹ.

Sau khi đắc cử vào ngày 7 tháng Mười một 1972, Nixon tìm mọi cách để cải thiện hoàn cảnh ban đầu của chế độ Sài Gòn cho thời gian sau khi ngưng chiến. Trong khuôn khổ của chiến dịch Enhance Plus, Hoa Kỳ trao thêm cho Nam Việt Nam một lượng vũ khí lớn. Ngoài ra, trong các bức thư mật, ông Tổng thống hứa hẹn sẽ tiếp tục cộng tác quân sự với Thiệu và hứa cũng sẽ ra lệnh ném bom chống Bắc Việt Nam sau khi ngưng bắn, nếu như Hà Nội không tuân theo hiệp định. Trong lúc đó, ở Paris, Kissinger đưa cho Thọ những yêu cầu mới. Vào ngày 13 tháng Mười Hai, ông cảnh báo Hà Nội trước những biện pháp quyết liệt và yêu cầu tạm nghỉ đàm phán. Một lần cuối cùng, Nixon muốn ép buộc giới lãnh đạo Bắc Việt Nam chấp nhận các yêu cầu của mình, chống lưng cho Thiệu và cho thế giới thấy rằng nước Mỹ sẽ không bỏ rơi đồng minh của nó: Ông ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng. Ông Tổng thống to tiếng với chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng, Đô đốc Thomas Moorer: “Tôi không còn muốn nghe là chúng ta không thể ném trúng mục tiêu này hay mục tiêu khác. Đây là cơ hội của anh để thắng cuộc chiến bằng sức  mạnh quân sự.”[3]

Ngoại trừ Đêm Giáng Sinh, máy bay ném bom Mỹ tiến hành gần 3500 phi vụ cả ngày lẫn đêm từ ngày 18 cho đến ngày 29 tháng Mười Hai 1972 (Linebacker II). 2000 người dân thường thiệt mạng, 1500 người bị thương, và một vài khu dân cư ở Hà Nội bị hư hại nặng. Công chúng quôc tế và giới truyền thông kinh hoàng về lần “ném bom Giáng Sinh”. Ngay Giáo hoàng Paul VI cũng công khai bày tỏ sự ghê tởm của ông. Sự kính trọng Mỹ trong thế giới Phương Tây xuống đến một điểm thấp.

Dưới áp lực của đợt ném bom, Hà Nội quay trở lại bàn đàm phán. Cả Sài Gòn cũng sẵn sàng chấp thuận ngưng bắn sau một vài miễn cưỡng. Điều mang tính quyết định đối với Thiệu là Nixon thêm một lần nữa đã bảo đảm trong những bức thư bí mật, rằng sẽ tái khởi động cuộc chiến tranh ném bom ngay tức khắc, nếu như Hà Nội không giữ đúng thỏa thuận ngưng bắn. Các thay đổi trong hiệp định, những cái mà Nixon đã giành được với đợt “ném bom Giáng Sinh”, nhiều lắm cũng chỉ là những thay đổi nhỏ – cả ông lẫn Kissinger sau này nhìn lại đều không thể nhớ được các chi tiết. “Hiệp định chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình” được Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam, “Chính phủ Nhân dân Lâm thời” của MTDTGP cũng như Hoa Kỳ ký kết vào ngày 27 tháng Giêng ở Paris. Thỏa thuận này về cơ bản tương ứng với thỏa thuận đã được đàm phán trong tháng Mười: ngưng bắn, Hoa Kỳ cam kết rút quân hoàn toàn trong vòng sáu mươi ngày. Quân đội Bắc Việt Nam có thể ở lại miền Nam; bù vào đó, Hà Nội hứa trả tự do cho tất cả tù binh Mỹ. “Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp” cần phải bắt đầu làm việc trong khi đất nước tạm thời còn do chính phủ của MTDTGP hay của Sài Gòn nắm quyền. Vùng phi quân sự nhận thể chế của một đường ranh giới và qua đó không phải là biên giới được quốc tế công nhận. Trong một biên bản phụ bí mật, Chính phủ Nixon hứa sẽ trợ giúp Bắc Việt Nam tái xây dựng với tổng số tiền hàng tỉ. Ngoài ra, hiệp định còn dự kiến chấm dứt các hoạt động quân sự của nước ngoài trên lãnh thổ Lào và Campuchia.

23 Tháng Giêng 1973, Paris, Pháp --- Đại sứ William H. Sullivan (dưới bên phải) và Xuân Thủy (trên bên phải) xem Tiến sĩ Henry Kissinger (ở giữa thấp hơn) và Lê Đức Thọ (thứ hai từ trên bên phải) ký kết Hiệp định Hòa bình Paris. Hình: Bettmann / Corbis
23 Tháng Giêng 1973, Paris, Pháp — Đại sứ William H. Sullivan (dưới bên phải) và Xuân Thủy (trên bên phải) xem Tiến sĩ Henry Kissinger (ở giữa thấp hơn) và Lê Đức Thọ (thứ hai từ trên bên phải) ký kết Hiệp định Hòa bình Paris. Hình: Bettmann / Corbis

Hiệp định ngừng bắn không phải là một thỏa thuận giữa người chiến thắng và kẻ chiến bại. Đứng trước gần nửa triệu tử sĩ Bắc Việt Nam và du kích quân MTDTGP từ 1969, lần ngưng bắn này đối với giới lãnh đạo cộng sản không phải là một chiến thắng. Nhưng nó được đánh giá như là một bước tiến quan trọng trên con đường tái thống nhất Việt Nam. Thành công lớn nhất của Hà Nội là việc Mỹ rút toàn bộ quân lính. Qua đó, sau hơn một trăm năm dưới sự cai trị của Pháp và sự hiện diện mang tính thống lĩnh của Mỹ, nước Việt Nam không còn có quân đội nước ngoài nữa. Hiệp định này hợp thức hóa sự hiện diện của 140.000 người Bắc Việt Nam ở miền Nam và trên thực tế đã công nhận “Chính phủ Nhân dân Cách mạng” của MTDTGP. Hà Nội cũng đạt được thêm một mục tiêu đàm phán quan trọng nữa: vùng phi quân sự không phải là biên giới được luật pháp quốc tế công nhận. Ngược lại, chính phủ Nam Việt Nam cảm nhận hiệp định được họ miễn cưỡng ký kết như là một thất bại. Thiệu và chế độ ông cảm nhận rằng họ bị Hoa Kỳ bỏ rơi dần dần. Sài Gòn chỉ tham gia ở rìa của các cuộc đàm phán và không đạt được hai mục tiêu của họ: sự hiện diện lâu dài của quân đội Mỹ và người Bắc Việt phải rút quân. Mặt khác, QLVNCH kiểm soát 75% lãnh thổ và trên phân nửa dân số Nam Việt Nam. Ngoài ra, Thiệu có thể dự tính với sự giúp đỡ về kinh tế của Washington; và ông có lời bảo đảm bí mật của Nixon, trong trường hợp Bắc Việt Nam vi phạm hiệp định ngưng bắn sẽ tái khởi động chiến tranh ném bom.

Chính phủ ở Washington cũng biết rằng hiệp định ngưng bắn này có nhiều vấn đề nghiêm trọng, trước hết là sự hiện diện của quân đội Bắc Việt trong miền Nam. Từ khi Nixon nhậm chức, Hoa Kỳ đã phải chịu đựng thêm 20.500 nạn nhân chiến tranh. Trong vòng bốn năm mà Nixon cần để dứt bỏ Việt Nam ra khỏi nước Mỹ, đất nước đã tiếp tục phân cực và niềm tin của người dân vào những người cầm quyền tiếp tục giảm xuống. Lần mở rộng chiến tranh của Nixon sang Campuchia và Lào đã lôi kéo hai đất nước đó sâu vào trong vòng xoáy của bạo lực và chiến tranh. Để ném bom mang lại hòa bình, Nixon đã tăng cường không kích và tạo gánh nặng cho Việt Nam với nhiều vấn đề về sinh thái mà xóa bỏ chúng là nhiệm vụ của nhiều thế hệ. Mặt khác, ông đã ép buộc giới lãnh đạo Hà Nội trên thực tế là công nhận chính phủ Thiệu. Chỉ có áp lực kéo dài của Mỹ mới đưa Bắc Việt Nam đến việc hủy bỏ lời yêu cầu có một chính phủ liên hợp Nam Việt Nam không có chế độ Thiệu trong tháng Mười 1972. Vì vậy mà Nixon và Kissinger có thể khẳng định có lý một phần rằng, đã đạt được một nền “hòa bình trong danh dự”. Thế nhưng thành công của họ thật ra nằm ở chỗ đã tìm được một con đường đi ra khỏi rừng rậm Việt Nam. Nixon đã đảo ngược chính sách của hai người tiền nhiệm ông, Kennedy và Johnson, và đã từng bước mang những người lính Mỹ trở về quê hương. Ông làm thành công việc đó mà không có sự phản đối đáng kể của những người bảo thủ và không có một cuộc nổi loạn từ phía hữu. Với việc tiến gần đến Trung Quốc và Liên bang Xô viết, ông và Kissinger đã tạo nên một kiến trúc đối ngoại mở ra những không gian hoạt động mới, vượt qua được sự tê liệt của cuộc Chiến tranh Việt Nam và tái lập vai trò cường quốc dẫn đầu của Mỹ. Ông Tổng thống trước sau vẫn tự hiểu mình như là người quản trị các lợi ích của Nam Việt Nam, và ông xem trọng lời hứa của ông đối với Thiệu. Ngược lại, Kissinger nhẹ nhỏm là đã tạo được một “khoảng cách thích hợp” giữa hiệp định ngưng bắn và lần sụp đổ của Nam Việt Nam. Trả lời cho câu hỏi, Sài Gòn còn tự khẳng định được bao lâu nữa, ông trả lời: “Tôi nghĩ rằng nếu may mắn thì họ có thể giữ được một năm rưỡi nữa.”[4]

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam


[1] Henry Kissinger, Memoiren 1968-1973, München 1979, trang 1389, 1403.

[2] Như trên, trang 1484.

[3] Richard Nixon, RN: The Memoirs of Richard Nixon, New York 1978, trang 734.

[4] Trích dẫn theo Walter Isaacson, Kissinger. Eine Biographia, trang 537.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s