Tình trạng khó khăn ở Mỹ và Việt Nam

Daniel Ellsberg trên tờ bìa báo Time
Daniel Ellsberg trên tờ bìa báo Time

Ở Mỹ, sự mệt mỏi chung vì chiến tranh đã tiếp tục tăng lên sau lần tiến quân vào Campuchia. Vào cuối năm 1970, gần 60% tất cả người Mỹ cảm thấy rằng cuộc chiến này là phi đạo đức, và trên hai phần ba tin rằng Việt Nam là một sai lầm đáng sợ. Sự mệt mỏi chung vì chiến tranh này bị ảnh hưởng bởi vụ án xử Thiếu úy Calley, người đã ra lệnh thảm sát tại Mỹ Lai và đã ngồi tù ba năm rưỡi vì tội giết 22 người dân thường. Trong mùa hè 1971, tờ New York Times bắt đầu công bố cái được gọi là Pentagon Papers. Hồ sơ tối mật này, do Daniel Ellsberg, một nhân viên trong chính phủ của Johnson, đưa cho tờ báo, đã được thực hiện theo ý muốn của nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara. Tài liệu ghi lại lịch sử cuộc tham chiến của Mỹ ở Việt Nam và cho thấy rằng qua nhiều thập niên, những người mang quyền quyết định về chính trị đã xuất phát một cách hết sức sai lầm từ những ý tưởng về một mối đe dọa nhiều hơn là từ những phân tích thực tế. Ngoài ra, Pentagon Papers cho thấy rõ rằng Kennedy và Johnson đã tô điểm thêm cho quy mô của cuộc tham chiến Mỹ, và đưa ra những thông tin sai lạc cho công chúng. Nixon hoài công cố gắng ngăn chận việc công bố qua một quyết định của tòa án. Bị ám ảnh bởi ý nghĩ, rằng nhân viên trong chính phủ của ông có thể đưa thêm nhiều bí mật khác cho báo chí, ông cho thành lập một nhóm chuyên gia về an ninh: nhóm “thợ sửa ống nước” (plumber). Họ cố gắng diễn tả Ellsberg như là một người bệnh tâm thần, và tiến hành nhiều hoạt động bất hợp pháp: đột nhập, nghe lén, vi phạm bí mật thư tín và quyền riêng tư.

Tuy vậy, việc phản đối tích cực chống chiến tranh đã giảm xuống mặc cho vụ án Calley và Pentagon Papers. Tuy trong tháng Tư và tháng Năm đã có những cuộc biểu tình gồm hàng trăm ngàn người, nhưng phong trào đã suy giảm. Sinh viên đã mệt mỏi với biểu tình, nhưng tuy vậy vẫn ghi nhận được nhiều thắng lợi từng phần mang tính cơ bản: nghĩa vụ quân sự được biến đổi thành một loại xổ số và đến năm 1972 thì được bãi bỏ hoàn toàn. Quốc Hội tỏ ra ngày càng tự tin hơn và thu hẹp không gian hoạt động của Tổng thống một cách đáng kể. Phần lớn người Mỹ đều muốn quay lưng lại với đến cuộc chiến, và các đài truyền hình phản ứng bằng cách họ phát đi ngày một ít hơn những hình ảnh từ Việt Nam và từ các cuộc biểu tình phản chiến. Ngoài ra, sau 1970, tổn thất Mỹ đã giảm mạnh – từ 4200 (1970) xuống 1300 (1971). Điều này có liên quan đến cuộc rút quân dần dần của những người lính và cuộc Việt Nam hóa: Nếu như quân số ở Việt Nam cuối 1970 còn là 330.000 người thì một năm sau đó chỉ còn 157.000.

Những người phải chịu đựng các phát triển này ở bên mặt Mỹ là những người lính. Trong diễn tiến của cuộc Việt Nam hóa, quân đội tiếp nhận chỉ yếu là các nhiệm vụ phòng thủ. Từ Tướng Abrams cho tới người lính thường, người Mỹ ở Việt Nam cảm nhận họ như là những đại diện của một hậu đội mà lần rút quân toàn bộ chỉ còn là một câu hỏi về thời gian. Qua đó, các mục tiêu của cuộc chiến, những cái trước sau gì thì cũng thật trừu tượng, cũng không còn nữa. Tinh thần chiến đấu của quân đội giảm sút đáng kể. Việc tiêu thụ những loại thuốc gây nghiện “mềm” tiếp tục tăng lên vì thời gian phục vụ yên ổn. Việc dùng những loại thuốc gây nghiện “cứng”, mà giới tướng lãnh Nam Việt Nam tham gia buôn bán chúng, đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Theo các ước lượng, năm 1970 có tròn 40.000 người lính Mỹ ở Việt Nam nghiện bạch phiến. Bạo động mang tính phân biệt chủng tộc và bất tuân mệnh lệnh đạt tới những quy mô đáng ngại.

Việt Nam hóa và tinh thần phản chiến cũng có tác động đến những người trở về quê hương. Cho tới 1969, các cựu chiến binh chủ yếu phải đối phó với các vấn đề cá nhân. Những bất trắc trong chiến tranh và chăm sóc tâm lý thiếu thốn đã dẫn tới những cái được gọi là ‘chứng loạn thần kinh hậu chấn thương’, những cái mà nhiều thập niên sau đó vẫn còn không lành. Philip Caputo chẩn đoán các triệu chứng: “Thiếu tập trung, sợ bóng tối như trẻ con, mau mệt, ác mộng mãn tính, quá nhạy cảm trước những tiếng động to, những cơn trầm cảm và nổi giận xuất hiện bất thình lình.”[1] Thế nhưng với việc tiêu thụ ma túy nhiều hơn và với sự không quan tâm của người dân, việc tái tích hợp các cựu chiến binh càng gặp thêm nhiều khó khăn sau 1969. Cuối 1971 đã có nhiều người trở về thất nghiệp (330.000) hơn là lính ở Việt Nam, một năm sau đó, trong số hơn 2 triệu cựu chiến binh đã có 300.000 người ngồi tù. Trong những cuộc chiến trước đây, những người lính được chào mừng như là những người anh hùng, bây giờ thì người ta nhìn họ như là các công cụ của một chính sách đã thất bại, cảm nhận họ như là thể hiện sống của sự nhục nhã và như là những kẻ giết người tàn bạo. Chính quyền ít làm gì để giảm bớt các vấn đề to lớn về tâm lý, xã hội và kinh tế của các cựu chiến binh.

Cựu chiến binh Việt Nam
Cựu chiến binh Việt Nam

Tinh thần chiến đấu sút giảm và các khó khăn ngày càng tăng lên của quân lính, cũng như sự hoài nghi chung rất phổ biến về sự tham chiến của Mỹ còn được đẩy mạnh bởi khả năng của quân đội Nam Việt Nam. Không một chiến dịch nào mà khác có thể cho thấy rõ sức mạnh không đầy đủ của QLVNCH và sự thiếu thốn tính bền vững của cuộc Việt Nam hóa như lần xâm lược Lào trong tháng Hai và tháng Ba 1971. Chiến dịch Dewey II theo đuổi về cơ bản cùng những mục tiêu quân sự như lần xâm lược Campuchia trong năm trước đó: nó có nhiệm vụ phá hủy đường tiếp tế của địch thủ và tạo thời gian cho chương trình Việt Nam hóa. Thế nhưng chiến dịch này suýt nữa thì đã chấm dứt trong một thảm họa. MTDTGP đã có trước toàn bộ kế hoạch của chiến dịch, và khi QLVNCH vượt biên giới sang nước Lào nằm ở phía tây bác vào ngày 8 tháng Hai 1971 thì một đối thủ được trang bị thật tốt đang chờ họ. Giới tướng lãnh Nam Việt Nam đã chứng tỏ là không có khả năng để phản ứng lại tình hình bất ngờ. Chỉ nhờ vào cường độ hoạt động cao của không quân Mỹ mà người ta đã có thể ngăn chận được sự hoảng loạn. Tổn thất cao, và khó khăn lắm mới có thể gọi cuộc rút lui là có trật tự.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam


[1] Caputo, A Rumor of War, trang 4.

 

Advertisements

One thought on “Tình trạng khó khăn ở Mỹ và Việt Nam

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s