Cuộc chiến hai mặt trận của Nixon năm 1969

Để tạo tính linh hoạt trong chính trị thì cần phải có một sự bất cần được tính toán trước. Nixon giải thích dự định trong tương lai của mình trước cộng sự của ông, H. R. Haldeman: “Tôi gọi đó là Thuyết Người Điên (Madman Theory), Bob. Tôi muốn làm cho người Bắc Việt tin rằng tôi đã đi đến điểm là tôi sẽ làm tất cả để chấm dứt cuộc chiến. Chúng ta sẽ đưa cho họ những điều tương tự như ‘Trời đất ơi, anh phải biết rằng Nixon hết sức căm thù cộng sản. Nếu như ông ấy nổi giận thì không còn ai có thể giữ ông ấy lại được nữa – và tay ông ấy đang ở kế bên nút bấm hạt nhân đấy’. Trong vòng hai ngày, Hồ Chí Minh sẽ đích thân đến Paris và cầu xin hòa bình.”[1]

Tổng thống Nixon
Tổng thống Nixon

Nixon ngần ngừ không lâu trước khi thực hiện “Thuyết Người Điên” của ông. Ngay từ tháng Hai 1969, ông ra lệnh ném bom các vùng hậu cứ của Bắc Việt Nam ở Campuchia (Chiến dịch MENU) – việc đã được các thành viên của Hội đồng Tham mưu Trưởng yêu cầu từ lâu và đã luôn bị Johnson từ chối. Qua đó, dự định QDVNCH sẽ có được một khoảng thời gian dưỡng sức. Tiếp theo giai đoạn đầu của cuộc không kích (BREAKFAST) là những đợt tấn công khác: LUNCH, SNACKS và DINNER. Trong thời gian hơn mười bốn tháng, máy bay ném bom B-52 ném trên 100.000 tấn bom. Những nhóm “Daniel Boone” được đào tạo đặc biệt (được gọi theo tên người đặt bẫy săn thú nổi tiếng của Mỹ) thâm nhập vào những vùng đất ở biên giới và tìm kiếm người sống sót sau cuộc không kích. Đợt ném bom này đã được giữ kín trước công chúng; Nixon xếp nó vào mức bí mật cho tới mức ngay cả giới chỉ huy trong quân đội như tham mưu trưởng Không quân cũng không được thông báo cho biết. Người Bắc Việt cũng im lặng không nói đến những cuộc không kích này, và vua Campuchia, Hoàng tử Norodom Sihanouk, để cho Nixon tự do tiến hành, vì việc Hà Nội sử dụng lãnh thổ của ông giờ đây đã trở thành một cái gai trong mắt ông ấy. Con số người dân thường bị giết chết chưa từng được xác định. Việc chuyên chở quân lính và vật dụng chiến tranh từ Bắc Việt Nam vào miền Nam tạm thời suy giảm đi 10%. Thế nhưng những cuộc ném bom xuống các con đường mòn, mà vũ khí và vật liệu tiếp ứng cũng có thể được vận chuyển bằng đôi chân hay xe đạp ở trên đó, không có tác động lâu dài. Cuối cùng thì chiến dịch MENU đã tăng tốc cho một vòng xoáy của bạo lực ở Campuchia, vì người Bắc Việt càng lúc càng lẫn tránh sâu hơn vào trong nội địa.

Song song với chiến dịch không kích, Nixon và Kissinger mở ra những kênh bí mật tới Bắc Kinh và Moscow. Họ hứa hẹn cải thiện quan hệ, nếu Liên bang Xô viết và Trung Quốc tạo áp lực lên Hà Nội. Trong tháng Sáu 1969, họ đề nghị với Bắc Việt Nam, hãy luân phiên rút quân ra khỏi Nam Việt Nam, nhưng các câu hỏi về chính trị thì dành lại cho những cuộc trao đổi giữa Hà Nội và Sài Gòn. Qua đó, họ đã thể hiện sẵn sàng thỏa hiệp nhiều hơn là Johnson. Nhưng hoàn toàn phù hợp với “Thuyết Người Điên” của mình, Nixon đã gắn kết lời mời đàm phán của ông với một tối hậu thư: Nếu như Hà Nội không chấp nhận yêu cầu của ông cho tới ngày 1 tháng Mười Một, thì ông sẽ tiến hành những biện pháp có quy mô lớn. Thật sự thì trong mùa hè 1969, Nixon và Kissinger đã để cho một nhóm người phân tích các mức khác nhau của một cuộc leo thang. Chúng đi từ việc phá hủy cảng Hải Phòng và ném bom những con đê qua tấn công Bắc Việt Nam trên đất liền cho tới việc sử dụng “có kiểm soát” vũ khí hạt nhân. Khi giới lãnh đạo Bắc Việt Nam từ chối đàm phán về một cuộc rút quân của cả hai bên, người ta khó khăn lắm mới có thể ngăn Nixon đừng ra lệnh tiến hành không kích Hà Nội và phong tỏa đường thủy. Nhiều tháng trời, người Tổng thống đã tin rằng chiến dịch không kích ở Campuchia trong liên kết với những mưu mẹo ngoại giao là có thể chấm dứt cuộc chiến. Trong mùa thu 1969, niềm hy vọng này đã hiện ra ý muốn không thực tế: chưa nhìn thấy một kết cuộc nào của cuộc chiến.

Máy bay B-52 trong chiến dịch MENU
Máy bay B-52 trong chiến dịch MENU

Về đối nội, đường lối của Nixon thành công đến mức đáng ngạc nhiên: cả một thời gian dài, dường như là ông đã có thể thành công trong việc chống lại phong trào phản chiến. Trong tháng Tư 1969, chỉ có 150.000 người là đã đi theo lời kêu gọi biểu tình trên khắp nước. Nixon nhận được rất nhiều sự đồng tình khi ông thông báo sẽ đưa 25.000 người lính ra khỏi Việt Nam. Ba tháng sau đó, ông tuyên bố rút thêm 60.000 người. Để lấy gió ra khỏi ngọn buồm của phong trào phản chiến, trong tháng Mười, ông Tổng thống ra lệnh hủy tất cả các lệnh gọi nhập ngũ. Ngoài ra, ông thay thế nghĩ vụ quân sự chung bằng cách sổ xố, việc mà đã lấy đàn ông trẻ tuổi ít hơn rất nhiều và chấm dứt tình trạng đặc quyền của các sinh viên. Những bước đi gây chấn động này đã gợi lên nhiều hy vọng và đã phát triển một sự năng động riêng mà đã không mang lại cho Nixon cả thời gian lẫn không gian hoạt động như đã hy vọng.

Trong tháng Chín 1969, một đạo luật được Quốc Hội thông qua, loại trừ việc đóng quân đội trên đất liền của Mỹ ở Thái Lan hay Lào. Một tháng sau đó, bốn triệu người Mỹ đã biểu tình trong 200 thành phố cho một cuộc rút quân nhanh chóng hơn của Hoa Kỳ ra khỏi Đông Nam Á. Các chương trình tin tức chính đã giành nhiều thời gian nói về các cuộc biểu tình, và thậm chí ba đài truyền hình quốc gia lớn còn tường thuật về những phút im lặng và tọa kháng tại trường đại học của Nixon, Whittier College ở California. Trong tháng Mười Một, những cuộc biểu tình phản đối lại tái diễn. Được kêu gọi qua tiếng chuông, hàng triệu công dân Mỹ đã đổ vào nhà thờ; nhiều người đã hát bài ca Give Peace a Chance của John Lennon. Ở Washington, những người biểu tình đặt danh sách bao gồm tên họ của tất cả các người Mỹ đã hy sinh xuống trước những bậc thang của Điện Capitol.

Nixon phản ứng lại trước bầu không khí phản chiến bằng một tính hung hăn càng lúc càng tăng lên cao. Trước giới báo chí, ông làm như hoàn toàn không quan tâm đến các cuộc biểu tình. Thế nhưng mệnh lệnh của ông nhân dịp một cuộc biểu tình phản đối ở Washington, phong tỏa Tòa Nhà Trắng với 300 người lính, cho thấy rõ rằng ông cũng không thể thoát khỏi áp lực của dư luận giống như người tiền nhiệm của ông. Trong một bài diễn văn trên truyền hình vào ngày 3 tháng Mười Một 1969, ông hướng tới “đa số im lặng” (silent majority). Ông cảnh báo những “biển máu” nếu như rút quân hoàn toàn ra khỏi Nam Việt Nam, và ông cáo buộc phong trào phản chiến đã phá hoại chính sách hòa bình của ông. Bài diễn văn của ông đạt đến đỉnh cao trong lời cảnh báo: “Bắc Việt Nam không thể hạ nhục Hoa Kỳ. Chỉ người Mỹ là có thể làm điều đó.”[2] Lời kêu gọi tình yêu nước của Nixon là một nước cờ chính trị xuất sắc, nhưng đồng thời cũng là một sự thao túng. Sự ủng hộ của công chúng nhảy vọt lên đến gần 70%. Chỉ qua một đêm, ông Tổng thống đã lôi được về phía ông một đối trọng với phong trào phản chiến và truyền thông. Tuy vậy, “đa số im lặng” này thì lại cảm thấy hết sức bất an. Sau năm khủng hoảng 1968 là những cuộc biểu tình trên khắp đất nước trong năm 1969, lời kêu gọi của ông, hãy tin tưởng vào sức mạnh đạo đức của Mỹ, đã thể hiện một nhu cầu thật sự của nhiều người dân. Nhưng từ đó không phát triển ra tính sẵn sàng thêm một lần nữa, mang cuộc chiến Việt Nam đi đến kết thúc qua chiến thắng trong mọi hoàn cảnh.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam


[1] Trích dẫn theo H. R. Haldeman, The Ends of Power, New York 1978, trang 82 và tiếp theo

[2] Address to the Nation on the War in Vietnam, 3/11/1969, trong: Public Papers of the Presidents, Richard M. Nixon, 1969, Washington 1971, trang 901-909

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s