Chiến lược toàn cầu của Nixon

Khi Richard Nixon bước vào Nhà Trắng trong tháng Giêng 1969, ông đã có thể nhìn lại một con đường sự nghiệp dài. Cuối những năm bốn mươi, người nghị sĩ trẻ tuổi của Hạ Viện đã nổi tiếng khắp nước qua tính chống cộng cực đoan của ông. Là Phó Tổng thống dưới Eisenhower, ông đã yêu cầu nước Mỹ ném bom Điện Biên Phủ và luôn luôn hoạt động yêu cầu ủng hộ Diệm vô điều kiện. Con người sinh ra ở California này cũng ủng hộ leo thang các hoạt động tham chiến của Mỹ ở Việt Nam sau 1965, nhưng lên án Johnson là xuất hiện không đủ hung hãn trước Bắc Việt Nam. Ngoài ra ông phê phán rằng, người tiền nhiệm của ông đã tự làm cho ông ấy trở thành một tù nhân của phong trào phản chiến. Khác với Johnson, Nixon hiểu rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam đã làm lung lay quyền bá chủ của Mỹ ở Phương Tây. Ông cũng nhận ra rằng Hoa Kỳ không còn đứng trước một mặt trận cộng sản thống nhất. Theo quan điểm của ông, một vài quốc gia của thế giới thứ Ba và trước hết là Trung Quốc đã trở thành những trung tâm quyền lực mà Washington không còn có thể phớt lờ lâu hơn được nữa. Nixon cảm nhận cuộc Chiến tranh Việt Nam như là một gánh nặng ngăn cản Hoa Kỳ tiếp tục đóng vai trò nổi bật trong hệ thống nhà nước quốc tế.

Nixon và Henry Kissinger 1972
Nixon và Henry Kissinger 1972

Về đối nội và đối ngoại, người Tổng thống mới muốn phô diễn “sự lãnh đạo”. Vì vậy mà ông tập trung vào Nhà Trắng và Hội đồng An ninh Quốc gia những quá trình tìm kiếm đưa ra quyết định. Ông chọn một người, ngược với ông, có các quan hệ cực tốt với “giới nắm quyền” đối ngoại làm cố vấn an ninh – Henry Kissinger. Kissinger, người lúc còn bé đã phải bỏ trốn khỏi ra nước Đức trước những người Quốc Xã, giảng dạy chính trị học ở Đại học Harvard và trong liên quan với một cố gắng làm trung gian đã có tiếp xúc nhiều với cuộc Chiến tranh Việt Nam ngay từ thời Johnson. Hai người có chung một nhận thức, rằng chỉ họ là những người thích hợp để bảo đảm cho vai trò dẫn đầu đầu của nước Mỹ với những sáng kiến táo bạo. Hai người khinh thường cỗ máy quan liêu phình to của chính phủ và lo ngại rằng các cơ quan bộ sẽ cản trở chính sách của họ nhiều hơn. Cộng thêm vào đó, họ hết sức nghi ngờ lòng trung thành của các nhân viên nhà nước và lo sợ rằng những thông tin được cố tình cung cấp cho báo chí có thể sẽ phá hỏng các dự định của họ. Vì vậy mà người bạn cũ của Nixon, William Rogers, đã trở thành Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, chính vì ông ít hiểu biết về ngoại giao và hài lòng với vai trò của một người nhận mệnh lệnh. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng William Laird cũng không thể phát triển một vai trò riêng, nhất là vì ông không được tham gia vào các quá trình quyết định. Qua đó, trong những năm sau 1969, hai người đàn ông hầu như đã quyết định một mình chính sách đối ngoại và đường lối Việt Nam của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Người Tổng thống mới chia sẻ niềm tin của người tiền nhiệm ông, rằng “tính đáng tin” của Hoa Kỳ đang bị đe dọa ở Việt Nam. Đối với những người theo Thuyết Domino thì điều đó rõ ràng là không còn nghi ngờ gì nữa, một cuộc rút quân của Mỹ ra khỏi Việt Nam sẽ đe dọa nền an ninh của Đông Nam Á và của Phương Tây nói chung. Tuy vậy, Nixon không còn tin vào một chiến thắng quân sự vô điều kiện nữa, nhất là khi không gian hoạt động đối nội của ông bị giới hạn đáng kể. Con số nạn nhân tử vong của Mỹ trong năm bầu cử là 14.600. Truyền thông và công luận hoài nghi tính khả dụng của chiến lược tiêu hao và ý nghĩa của hoạt động tham chiến của Mỹ ở Việt Nam. Phí tổn của cuộc chiến đã chạm mức 30 tỉ dollar. Trong năm tài chính 1969, cuộc chiến chiếm gần 40% của ngân sách quốc phòng. Quân đội phải được cấp tốc hiện đại hóa, thiếu hụt ngân sách phải được giảm bớt. Trong khi phe “diều hâu” yêu cầu một cuộc không chiến toàn diện, phe “bồ câu” ngược lại yêu cầu chấm dứt chiến tranh, thì cả hai phe đều có cùng yêu cầu rút 543.000 người lính Mỹ ra khỏi Việt Nam.

Nixon và Kissinger tin chắc rằng con đường đi đến chấm dứt Chiến tranh Việt Nam dẫn qua Bắc Kinh và Moscow. Họ nghĩ rằng Trung Quốc và Liên bang Xô viết xuất phát từ những quan tâm về quyền lực chính trị nhiều hơn là từ những cân nhắc về hệ tư tưởng. Một hệ thống những liên kết (linkage) của các vấn đề đối ngoại vì vậy có nhiệm vụ dẫn đến hòa bình. Khi hai cường quốc cộng sản ngưng viện trợ vũ khí cho Hà Nội thì điều đó không chỉ để cho đạt tới một thỏa thuận có thể chấp nhận được đối với Hoa Kỳ. Quan hệ được cải thiện với Liên bang Xô việt và đặc biệt là với Trung Quốc sẽ tạo khả năng lợi dụng các căng thẳng giữa hai cường quốc cộng sản cho lợi ích của Mỹ, chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang và đưa cho thế giới một trật tự ổn định và lâu dài. Với nền ngoại giao bí mật của Kissinger và chuyến đi thăm Trung Quốc của Nixon (tháng Hai 1972), hai chính trị gia đã mở ra một chương mới trong các quan hệ quốc tế giữa hai quốc gia sau hơn hai mươi năm thù địch gay gắt. Quan hệ với Liên bang Xô viết cũng được cải thiện thấy rõ trong thời kỳ giảm căng thẳng (Détente) và cũng tạo điều kiện dễ dàng để cho hai nhà nước Đức tiếp cận đến với nhau. Nhưng với tầm nhìn đến Việt Nam thì Nixon cũng như những người tiền nhiệm cũng ông đều sai lầm trong giả định, Hà Nội là một con rối của Bắc Kinh và Moscow. Cũng như Westmoreland và Johnson, Kissinger không chịu tin,  “rằng một thế lực hạng tư nhỏ bé như Bắc Việt mà không có điểm vỡ”.[1]

Ngược với những tuyên bố lúc tranh cử, Nixon không có một “kế hoạch bí mật” nào. Nhưng với tính lạc quan của những chính khách vừa mới bước vào nhậm chức, Nixon và Kissinger tin rằng có thể chấm dứt cuộc chiến trong vòng một năm. Không để cho đoán trước trên chiến trường và ở cạnh bàn đàm phán, leo thang và tuyên bố công khai gây chấn động, đó là những nguyên tố của một cuộc chơi bài tố quyền lực mà Nixon theo đuổi ba mục tiêu với nó: thứ nhất, công chúng phải được chẩn bị trước cho một kết thúc của cuộc chiến mà không còn tương đương với một chiến thắng quân sự nữa. Thứ nhì, dù trong bất cứ trường hợp nào thì ông cũng không sẵn sàng bỏ mặc Nam Việt Nam cho số phận của nó và chấm dứt cuộc tham chiến của Mỹ một cách đơn giản. Thứ ba, ông muốn chấm dứt cuộc chiến nhanh như có thể có “trong danh dự”. Nixon đưa ra nhiều khả năng chọn lựa như là biện pháp để thực hiện các mục tiêu của ông: tái khởi động cuộc chiến tranh trên không, phong tỏa đường biển Bắc Việt Nam, các chương trình bình định hữu hiệu và chương trình “Phi Mỹ hóa” cuộc chiến đã được bắt đầu dưới thời Johnson. Để công chúng Mỹ có thể làm quen dễ dàng hơn với cuộc rút quân, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Laird đưa ra khái niệm “Việt Nam hóa”. Qua đó, gánh nặng chủ yếu của cuộc xung đột quân sự này được chuyển sang cho quân đội Nam Việt Nam. Song song với việc rút quân từng giai đoạn của quân đội Mỹ, QLVNCH cần phải được tăng cường quân số thêm một lần nữa và cần phải được trang bị với kỹ thuật vũ khí hiện đại. Dưới tên gọi “Học thuyết Nixon” (tháng Bảy 1969), cuộc Việt Nam hóa nhận được một ý nghĩa vượt quá Đông Dương: bắt đầu từ bây giờ, người Tổng thống giải thích, tuy Hoa Kỳ vẫn tiếp tục hỗ trợ cho bạn bè và đồng minh của mình ở châu Á, nhưng chỉ tham gia vào trong các xung đột quân sự ở những trường hợp ngoại lệ.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam


[1] Trích dẫn theo Seymour Hersh, The Price of Power: Kissinger in the Nixon White House, New York 1983, trang 126.

 

Advertisements

One thought on “Chiến lược toàn cầu của Nixon

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s