Chiến tranh Việt Nam và Phương Tây

Không một quốc gia nào khác của Trái Đất mà lại là thành viên của từng ấy liên minh quân sự và khối đồng minh, không một đất nước nào khác mà lại có nhiều bạn bè chính trị và đồng minh như Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Chính quyền Johnson vì vậy lại càng thất vọng nhiều hơn nữa trước những phản ứng của Phương Tây đối với cuộc chiến ở Việt Nam. Khi Washington từng bước tăng cường những hoạt động tham chiến của họ ở Việt Nam từ 1964 và quyết định Mỹ hóa cuộc chiến trong tháng Bảy 1965, chính phủ dự tính ít nhất là với sự hỗ trợ mang tính tượng trưng của người Tây Âu. Các dự kiến của Mỹ tập trung đặc biệt vào Liên hiệp Anh và Pháp. Cả hai quốc gia không chỉ là thành viên của NATO, mà cũng là thành viên thành lập tổ chức phòng vệ Đông Nam Á SEATO.

Một số lãnh tụ của các quốc gia SEATO trước tòa nhà Quốc Hội  Philippines, 24/10/1966
Một số lãnh tụ của các quốc gia SEATO trước tòa nhà Quốc Hội Philippines, 24/10/1966

Trong khi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara ủng hộ quân đội các nước khác tham gia thì Johnson và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Rusk đặc biệt yêu cầu một sự hỗ trợ vô điều kiện về chính trị. Nhưng Việt Nam cho thấy rõ, rằng những điểm chung chấm dứt ở nơi mà người Âu và người Mỹ theo đổi những mục đích khác nhau. Các quan hệ xuyên Đại Tây Dương, đã bị tổn thương ngay từ dưới thời Kennedy, đã bị thử thách nghiêm trọng qua cuộc Chiến tranh Việt Nam. Cuộc khủng hoảng của liên minh lên đến đỉnh cao của nó trong tháng Ba 1968, khi dòng chảy vàng từ Hoa Kỳ sang châu Âu đạt tới một quy mô nguy hiểm. Trong khi các nghị sĩ trong Quốc Hội Hoa Kỳ to tiếng bàn bạc về việc rút một phần lớn quân đội Mỹ ra khỏi châu Âu, Johnson dứt khoát yêu cầu các chính phủ châu Âu phải tham gia nhiều hơn nữa về tài chính vào trong các phí tổn cho nền an ninh chung. Người Mỹ tuyên bố rằng tự do là không thể chia cắt được, Tây Berlin, Paris và London cũng được bảo vệ ở Việt Nam. Người Âu ngược lại lo sợ rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam có thể sẽ dẫn tới việc rút quân đội Mỹ ra khỏi châu Âu. Trong khi Washington ủng hộ một góc nhìn toàn cầu thì người Âu theo đuổi những lợi ích chính trị an ninh khu vực.

Người Mỹ được hỗ trợ ở Việt Nam trước hết là từ người Hàn Quốc. Nhớ tới cuộc bảo vệ Nam Hàn của Mỹ từ 1950, ngay từ tháng Chín 1964, chính phủ Seoul đã gởi sang các đơn vị y tế đầu tiên. Hai năm sau đó, lực lượng Nam Hàn đạt tới con số 50.000 người. Dưới sự chỉ huy của người Mỹ, họ tiến hành những chiến dịch trên mặt đất và các biện pháp bình định. Bị người dân Nam Việt Nam luôn nhìn như là những kẻ xâm lược, các thành công về quân sự của người Nam Hàn bị hạn chế. Đối với chính Hàn Quốc, hoạt động tham chiến này có tác động giống như một chương trình kinh tế khổng lồ, vì Washington hào phóng đảm nhận mọi phí tổn. Khi Bắc Hàn bắt giữ chiếc tàu chiến “Pueblo” của Mỹ với 68 người trên tàu trong tháng Giêng 1968, và cuộc tấn công vào Khe Sanh bắt đầu vài ngày sau đó đã giữ không cho chính quyền Johnson phản ứng dứt khoát lại với lần sỉ nhục đó, Seoul triệu hồi một phần quân đội của họ về lại Nam Hàn. Vì căng thẳng kéo dài ở biên giới Nam Bắc Hàn, Washington có thể thông hiểu được việc đó, thế nhưng quyết định được đưa ra đúng vào đợt tổng tấn công Tết Mậu Thân đã vấp phải một sự không hài lòng đáng kể.

Đài Loan cũng gởi vài ngàn người sang, chủ yếu tiến hành những hoạt động bí mật ở Việt nam. Thái Lan và Philippines tham gia với số quân nhỏ, nhưng sự hiện diện của họ mang tính tượng trưng nhiều hơn. New Zealand và Australia, chính phủ của những nước này xuất hiện trong những năm sáu mươi như là những người theo thuyết Domino, cũng gửi sang nhiều đơn vị chiến đấu. Australia đóng 6000 quân, New Zealand một tiểu đoàn pháo binh. Với ít ra thì cũng là 71.000 người, tham gia của các đồng minh đạt tới đỉnh cao của nó trong mùa xuân 1969. Thế nhưng hai năm trước đó, Tướng Maxwell Taylor và đặc sứ Clark Clifford nhân một chuyến đi thăm châu Á đã phải có trải nghiệm đau đớn rằng các đồng minh không muốn gởi sang thêm quân nữa. Thân mật, nhưng dứt khoát, người ta nhắc tới những gì đã đạt được, chỉ ở Seoul là người Mỹ, với lời nói tới cuộc Chiến tranh Triều Tiên, mới có thể thuyết phục chính phủ gởi thêm nhiều quân lính sang. Ở New Zealand và Australia, một phong trào phản chiến to tiếng đã gây áp lực lớn lên chính phủ. Trong các quốc gia khác của khu vực, do có chính phủ ít nhiều thì cũng độc tài, dư luận vì tự do báo chí bị giới hạn nên đã không đóng vai trò quan trọng nào. Mãi tới mới đây, công chúng Nam Hàn với quan tâm nhiều hơn tới hoạt động tham chiến ở Việt Nam và với số phận của hàng chục ngàn cựu chiến binh.

Tổng thống Park Chung-hee duyệt binh lực lượng quân đội sắp được gửi sang Việt Nam
Tổng thống Park Chung-hee duyệt binh lực lượng quân đội sắp được gửi sang Việt Nam

Tổng thống Johnson thật sự thất vọng trước thái độ của Anh quốc. Tuy chính phủ London ủng hộ đường lối Việt Nam của ông. Nhưng ngoài những tán thành bằng lời nói, nhiều khác biệt ý kiến đáng kể đã bộc lộ ra từ sớm. Việc này bắt đầu từ năm 1950, khi Liên hiệp Anh công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về mặt ngoại giao. Trong khi Washington dứt khoát từ chối đối thoại với Bắc Kinh, London vì Hongkong mà đã sẵn sàng cộng tác có giới hạn với những người cộng sản Trung Quốc. Trước bối cảnh đó, thành viên SEATO Liên hiệp Anh cũng không sẵn sàng gởi quân lính sang Việt Nam. Với cái nhìn đến dư luận ở Tây Âu và trước hết là ở chính nước Mỹ, Johnson hy vọng có một hiệu ứng tín hiệu có giá trị từ một nhóm người Scotland chơi kèn túi ở khu vực phi quân sự. Nhưng thay cho một sự hiện diện mang tính tượng trưng, người Tổng thống lại phải nhìn thấy rằng Thủ tướng Harold Wilson, trong kết hợp với đồng nhiệm Xô viết của ông ấy, nổ lực đóng vai trò trung gian. Về phần mình, chính phủ Anh lại theo dõi với nỗi lo ngoại ngày một lớn việc sức mạnh của NATO bị ảnh hưởng bởi hoạt động tham chiến ở Việt Nam ra sao.

Giới công chúng ở Liên hiệp Anh lúc đầu bày tỏ một sự thông cảm lớn cho cuộc chiến của Mỹ, nhất là khi chính người ta – ngay cả khi trong quy mô nhỏ hơn – đã đập tan một phong trào nổi dậy của cộng sản ở nước láng giềng gần với Việt nam, ở Malaysia. Nhưng từ 1967, cuộc thảo luận trong công chúng về tính chính danh và ý nghĩa của hoạt động tham chiến của Mỹ đã tăng lên. Những cuộc biểu tình phản chiến kéo qua đường phố London ngày càng thường xuyên hơn. Cuối 1967, khi một đám đông người giận dữ muốn tràn vào tòa đại sứ Mỹ thì đã xảy ra những cuộc xung đột không đẹp và ác liệt khác thường với cảnh sát. Giống như ở Hoa Kỳ, Tết Mậu Thân cũng đánh dấu một điểm ngoặc. Ngay cả tờ Times thủ cựu, trung thành với Mỹ, bây giờ cũng giải thích rằng không còn có thể thắng cuộc chiến nữa. Chính phủ và công chúng đặt nhiều hy vọng lớn vào trong các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris. Chúng làm giảm bớt lực mạnh của những cuộc biểu tình nhưng đồng thời lại củng cố cho một bầu không khí phản chiến rộng khắp.

Trong khi công chúng và chính phủ Liên Hiệp Anh đứng đối diện với cuộc chiến của Mỹ một cách trung lập có thiện cảm một thời gian dài thì đại đa số người Pháp từ rất sớm đã đứng vào vị trí chống chính sách Việt Nam của Mỹ. Đối với Tổng thống Charles de Gaulle, địch thủ chính trị bí mật của Johnson trong phe Phương Tây, Chiến tranh Việt Nam thể hiện tất cả những gì mà trong mắt ông là sai lầm trong đường lối ngoại giao của Mỹ: tự mãn ngây thơ, khuynh hướng xô đẩy những quốc gia nhỏ hơn và can thiệp vào trong những sự việc không có liên quan gì đến người Mỹ. Pháp đã từng hoài công cố gắng làm dừng cái bánh xe lịch sử lại, và de Gaulle không hiểu tại sao người Mỹ không muốn học gì từ đó. Ông phê phán thái độ phi phân biệt của Mỹ đối với “chủ nghĩa cộng sản thế giới”, và ông lên án Washington đã phớt lờ các căng thẳng Trung Quốc – Liên Xô. Ông thường xuyên ủng hộ đàm phán và trung lập hóa Việt Nam. Trong tháng Chín 1966, de Gaulle tuyên bố chống chiến tranh công khai lần cuối cùng khi ông nói chuyện trước 100.000 người Campuchia ở Phnom Penh. Sau đó, ông tránh phát biểu công khai, vì phải nhận ra rằng ông không thể tạo ảnh hưởng lên diễn tiến của cuộc chiến. Ngoài ra, năm 1966, Pháp đã rời bỏ cấu trúc quân sự của NATO. De Gaulle không muốn tiếp tục làm xấu đi các quan hệ trước sau gì thì cũng đã căng thẳng. Người Mỹ rất bực tức khi ông liên lạc thân thiện qua thư từ với Hồ Chí Minh, nhưng ông Tổng thống e dè với sự giúp đỡ về kinh tế.

   Giới truyền thông Pháp phần lớn đóng dấu cuộc Chiến tranh Việt Nam như là một tội phạm. Những nhà gây dư luận từ tả sang hữu cay đắng viết rằng cỗ máy quân sự lớn nhất thế giới đã hủy diệt một thuộc địa nhỏ của Pháp trước đây. Ngay từ năm 1965, trên 70% người Pháp đã phản đối chính sách Việt Nam của Mỹ, trong khi chỉ 8% là ủng hộ cuộc chiến. Ở Paris, những cuộc biểu tình phản chiến đã tăng cường độ từ 1966 cho tới 1968. Khi Phó Tổng thống Hubert Humphrey bị ném trứng, màu và đá trong chuyến viếng thăm của ông năm 1967, thì đã xảy ra tai tiếng: Đại sứ quán Mỹ chính thức than phiền về thái độ của cảnh sát, được cho là đã không can thiệp. Tuần này sang tuần khác, nhiều người dân giận dữ đã đổ đầy những lá thư khiếu nại trước cơ quan đại diện ngoại giao. Trong tháng Năm 1967, giới trí thức dẫn đầu, trong đó có các triết gia Bertrand Russell và Jean-Paul Sartre, đã gặp nhau tại một tòa án tội phạm chiến tranh quốc tế ở Stockholm. Đứng trước máy quay, Sartre so sánh hành động của quân lính Mỹ đối với người Việt với cuộc hủy diện người Do Thái bởi những người Quốc Xã trong Đệ nhị Thế chiến.

Không ở một nước nào khác trong châu Âu mà có thể cảm nhận được tác động gây sốc của Chiến tranh Việt nam như ở Pháp năm 1968. Trong tháng Ba, khi cảnh sát cố gắng kiểm soát những cuộc biểu tình phản chiến, họ đã gây ra những cuộc phản đối lớn nhất của sinh viên và công nhân kể từ thời Công xã Paris 1871. Chiến tranh Việt Nam là tia lửa gây nổ một hỗn hợp nguy hiểm từ những lời ta thán về nhiều điều bất cập: một hệ thống đại học lỗi thời, quyền lực vạn năng của các giáo sư, những phòng học đầy ắp, tiền lương thấp, điều kiện làm việc không tốt v.v. Trong khi những đoàn người biểu tình kéo qua Paris và các thành phố lớn khác trong những tháng kế tiếp theo sau đó, các lãnh tụ sinh viên như Daniel Cohn-Bendit đã có thể gắn kết những cuộc biểu tình phản chiến và nhiều nguyên nhân gây chống đối khác với các đề tài cơ bản như với một chủ nghĩa chuyên chế xã hội được che dấu, hay với sự lạnh lùng của cuộc sống hiện đại. Mong muốn có thay đổi xuất phát từ đó đã đặt dấu ấn quyết định lên đời sống công cộng và hình ảnh bản thân của cả một thế hệ trong những năm bảy mươi và tám mươi.

Trong cả hai quốc gia Đức, Chiến tranh Việt Nam từ 1965 cũng là một đề tài thảo luận. Đối với giới lãnh đạo nước CHDC Đức thì Việt Nam là nạn nhân của “chủ nghĩa đế quốc” Mỹ. Họ diễn giải bất cứ một sự sẵn sàng đối thoại mơ hồ nào của những người đồng chí Việt Nam cũng là tình yêu hòa bình và ủng hộ vô điều kiện đường lối của Liên bang Xô viết, quốc gia luôn yêu cầu cả hai bên hãy tiến tới đàm phán. Nhưng vì lợi ích ngoại thương của nước CHDC Đức chủ yếu hướng tới Cận Đông và các quốc gia mới ở châu Phi nên sự hỗ trợ vật chất cho Bắc Việt Nam nằm trong khuôn khổ chật hẹp. Ngoài ra, Liên bang Xô viết xem cuộc xung đột ở Đông nam Á như là lĩnh vực của họ. Trong nhà nước đơn nguyên xã hội chủ nghĩa, giới báo chí tranh nhau công kích Mỹ. Nhưng về ngoại giao, các phản ứng không có trọng lượng, đặc biệt là vì nước CHDC Đức, dựa vào Liên bang Xô viết, về cơ bản là quan tâm tới những mối quan hệ đã được cải thiện với Hoa kỳ.

Trong nước CHLB Đức, cuộc Chiến tranh Việt Nam từ 1965 đã gây ra một cuộc thảo luận được tiến hành tương đối dè dặt. Trong đó, lúc đầu là về câu hỏi người ta phải có thái độ nào đối với lời yêu cầu giúp đỡ về quân sự của Mỹ. Tuy vậy, không có những chỉ dẫn cụ thể nào để cho thấy rằng Hoa Kỳ quan tâm đến việc đó. Thế nào đi nữa thì nhân sự của chiếc tàu bệnh viện “Helgoland”, chiếc tàu mà chính phủ liên bang đã gởi sang Nam Việt Nam như là biểu tượng cho sự gắn bó của họ với Washington, cũng không được phép mặc quân phục. Một hoạt động “out of area” của quân đội Đức là việc không thể bàn đến. Tuy vậy, hai mươi năm trước cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, người ta đã tỏ ra hào phóng với ngân phiếu: nước Cộng hòa Liên bang [Đức] trong diễn tiến của cuộc chiến ở Nam Việt Nam đã trở thành một nước chi viện quan trọng nhất, không tham dự về quân sự và chuyển khoản hàng năm tính ra là 7,5 triệu dollar sang Sài Gòn.

Tàu bệnh viện Helgoland ở Sài Gòn. Hình của Siegfried Kogelfranz
Tàu bệnh viện Helgoland ở Sài Gòn. Hình của Siegfried Kogelfranz

Cho tới 1966, chính phủ cũng như phần lớn báo chí ủng hộ vô điều kiện hoạt động tham chiến của Mỹ ở Việt Nam. Nhiều người Tây Đức so sánh đất nước bị chia cắt của họ với Việt Nam, nước mà cũng bị chia cắt một cách nhân tạo ra thành một phần cộng sản và một phần không cộng sản. Ẩn ở phía sau đó là một thái độ mang nặng dấu ấn của quyền lợi riêng. Về một mặt, người ta xem hoạt động tham chiến của Mỹ như là việc thực hiện những cam kết đã đưa ra. Mặt khác, người ta lo rằng Hoa kỳ vì Việt nam mà có thể từng bước lui ra khỏi châu Âu. Vì vậy mà ví dụ như Willy Brandt và Fritz Erler nhân một chuyến đi Washington trong tháng Tư 1966 đã bảo đảm sự ủng hộ của họ cho Johnson. Thế nhưng trong diễn tiến của năm đó, quan điểm này đã thay đổi. Trong giới chính phủ Dân chủ Thiên Chúa giáo, nỗi bực tức về chính phủ Johnson đã tăng lên, chính phủ mà đã yêu cầu người Đức tham gia tài chính nhiều hơn nữa vào trong phí tổn trú đóng quân đội Mỹ ở Việt Nam. Cuộc tranh cãi giữa Bonn và Washington, bùng phát ra từ câu hỏi này, đã góp phần quyết định vào việc lật đổ Thủ tướng Ludwig Erhard và dẫn tới một liên minh lớn. Ở phía những người Dân chủ Xã hội, cuộc chiến ngày càng trở thành một vấn đề đạo đức. Lập luận, tự do ở Tây Berlin được bảo vệ ở Sài Gòn, không còn đứng vững được nữa trước thực tế của cuộc chiến. Các cuộc thăm dò ý kiến trong mùa hè 1966 cho thấy lần đầu tiên có một đa số phản đối chiến tranh trong người dân Tây Đức. Cuối cùng, cựu Thủ tướng Liên bang Konrad Adenauer thậm chí còn công khai yêu cầu Hoa Kỳ hãy rút lui ra khỏi Việt Nam.

Trong năm 1967, sự chống đối cuộc Chiến tranh Việt Nam cũng tăng cao trong nước Cộng hòa Liên bang [Đức]. Nó mở rộng một cuộc tranh cãi dẫu sao đi nữa thì cũng đã được tiến hành một cách gay gắt trong giới nhà báo, nhà văn, chính khách và đặc biệt là trong giới sinh viên. Đối với họ, vấn đề không phải là cuộc chiến ở Việt Nam, mà là về tội lỗi lịch sử của người Đức trong Đế chế thứ ba, về cấu trúc xơ cứng ở các trường đại học và trong xã hội. “Phe Đối lập ngoài Quốc Hội” (“Außerparlamentarische Opposition” – APO) của sinh sinh và trí thức tiếp nhận những biểu tượng, hình thức diễn đạt và chiến thuật của phong trào hòa bình Mỹ: “sit-ins”, “teach-in”, nhạc Rock và nhiều thứ khác. Giống như các đại diện Mỹ của phong trào phản chiến, sự phê phán của APO hướng tới “hệ thống” nói chung, đến một chính sách chà đạp lên quyền tự quyết của các dân tộc dưới vỏ bọc của tự do và đã tự đồi trụy hóa chính nó. Hình ảnh nước Mỹ, cho tới lúc đó là tốt đẹp, không chỉ đen tối đi ở những người sinh viên nổi loạn. Lần đầu tiên kể từ thời chiếm đóng trước đây, những hình ảnh bài Mỹ lại xuất hiện và bùng phát ra trong những cuộc bạo loạn chống các cơ quan tổ chức của Mỹ như chi nhánh American Express, các tổng lãnh sự Mỹ và nhà Mỹ.

Người Đức trẻ tuổi cho tới lúc đó đã lớn lên với một hình ảnh Mỹ hầu hết là tốt đẹp. Giấc mơ về hạnh phúc cá nhân trong tự do và thịnh vượng (cái mà cho tới 1970 đã khiến cho ít nhất là ba phần tư triệu người Đức cân nhắc việc di cư sang Hoa Kỳ), việc sẵn sàng đi theo văn hóa số đông của Mỹ – Coca Cola, James Dean, Elvis Presley, nếu muốn kể ba từ mang tính khẩu hiệu –, lòng ngưỡng mộ nền dân chủ Mỹ, những người giải phóng khỏi chế độ Quốc Xã và cứu thoát khỏi Hồng Quân – tất cả những điều đó bây giờ đã nhường chỗ cho một hình ảnh ma quỷ của Chủ nghĩa Đế quốc Mỹ hung hăn. Bây giờ thống trị là hình ảnh của những người lính Mỹ ăn no đủ phá hủy làng mạc của nông dân Việt Nam bất lực. Cuộc Chiến tranh Việt Nam đã tạo nên một hình tượng mới về nước Mỹ cho nhiều người, chủ yếu là cho giới trẻ cánh tả. Cuộc chiến đã trở thành hình ảnh tượng trưng cho một trật tự tư bản chủ nghĩa  khinh thường con người. Vì vậy mà nó có một tầm quan trọng rất lớn cho cuộc đấu tranh của APO với “giới nắm quyền lực”.

Cuộc Chiến tranh Việt Nam đã đặt dấu ấn lên hình ảnh nước Mỹ của giới cánh tả Tây Đức một cách rất đơn phương. Ngược lại, nhiều người trẻ tuổi đang nổi loạn ở Pháp, Bắc Âu và Hà Lan thì lại đoàn kết với những người cùng chí hướng ở Mỹ, phân biệt giữa “giới nắm quyền lực” và phong trào chống đối. Trong những năm bảy mươi và tám mươi, họ phát triển một sự thông hiểu phê phán, sẵn sàng xung đột nhưng cũng tích cực về nước Mỹ. Điều nghịch lý là cuộc Chiến tranh Việt Nam đã hướng tầm nhìn của nhiều người Âu của thế hệ trẻ hơn – và muộn hơn sau đó cũng cả ở giới cánh tả Đức – đến những điểm chung về xã hội, văn hóa và tri thức giữa châu Âu và Mỹ, và đã góp phần cho một sự thông hiểu có phân biệt về xã hội đa nguyên Mỹ và về những giá trị chung xuyên đại dương.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Chiến tranh Việt Nam và Phương Tây

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s