Trò chơi nước đôi

Giới lãnh đạo Hà Nội đã phản ứng tích cực lại bài diễn văn của Johnson vào ngày 31 tháng Ba 1968, khiến cho Washington ngạc nhiên. Dưới sự quan tâm thật lớn của giới báo chí và công chúng thế giới, những cuộc đàm phán hòa bình sơ bộ bắt đầu hai tháng sau đó ở Paris. Nhưng không bao lâu sau, người ta có thể thấy rõ rằng cả hai bên vẫn còn chưa quan tâm thật sự đến một giải pháp đàm phán. Người ta tranh cãi nhau không phải về những câu hỏi cơ bản, mà là về cách sắp xếp những cái bàn trong hội nghị. Dù là tròn, chữ nhật hay song song – ẩn ở sau đó là những ý kiến khác biệt về cách thức mà chính phủ Nam Việt Nam và MTDTGP sẽ tham dự vào trong những cuộc đàm phán. Cả Hoa Kỳ lẫn Bắc Việt Nam đều không cảm nhận áp lực thời gian, vì trước sau thì cả hai bên đều dựa trên một quyết định ở phía quân sự.

Việc ngưng ném bom ở phía bắc của vĩ tuyến 20 được giới lãnh đạo Hà Nội ghi nhận với một sự nhẹ nhỏm thật lớn. Về mặt tâm lý, lần nới lỏng vòng siết cổ của Mỹ đã được Hà Nội lợi dụng để tuyên truyền củng cố “mặt trận hậu phương” đóng một vai trò quan trọng. Vì tinh thần chiến đấu của nhiều người lính Bắc Việt và đảng viên sau thất bại quân sự của đợt tấn công Tết Mậu Thân đang xuống thấp. Do đó, đối với giới chóp bu ở Hà Nội, chiến lược mới chỉ có thể là: đàm phán và tiếp tục chiến đấu. Với một đạo quân 100.000 người còn nguyên vẹn ở miền Nam và sự hỗ trợ  mạnh mẽ của Xô Viết ở sau lưng, không thể nào nói đến bỏ cuộc được.

Tổng thống Nixon
Tổng thống Nixon

Đối với chính quyền Johnson, tình hình cũng tương tự. Họ không xem xét đến việc rút quân đội Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam, và lần chấm dứt không kích phía bắc vĩ tuyến 20 cũng hầu như không mang tầm quan trọng nào trong những tháng mà mùa mưa phủ một màn hơi nước và sương mù lên đất nước này. Johnson không muốn đi vào trong lịch sử của nước Mỹ như là người tổng thống đầu tiên thua một cuộc chiến. Vì vậy mà những chiếc ném bom tầm xa B-52 không còn bay ra phía bắc của vĩ tuyến 20 nữa, mà là vào miền Nam. Các phi vụ trên những vùng đất dưới sự kiểm soát của MTDTGP đã tăng lên gấp ba lần trong thời gian của năm 1968. Cả các chiến dịch trên mặt đất cũng tăng lên. Trong tháng Ba và tháng Tư 1968, trên 100.000 lính Mỹ tham gia vào trong các chiến dịch “tìm và diệt” trong vùng quanh Sài Gòn.

Chiến lược quân sự của Mỹ cũng thay đổi nhiều. Tướng Westmoreland luôn cố gắng lôi kéo đối thủ vào trong những trận đánh lớn thông thường, được tiến hành bởi những đơn vị tương đối lớn. Tết Mậu Thân đã chỉ rõ các giới hạn của chiến lược này. Cuối tháng Ba, Johnson rút ra những kết luận và đề bạt người lãnh đạo không may mắn này vào chức vụ danh giá nhưng vô hại của một Tổng tham mưu trưởng Lục quân. Tướng Creighton Abrams kế thừa di sản của ông. Từ đầu mùa hè 1968, Abrams tái tổ chức một phần lớn quân đội Mỹ thành những đơn vị tương đối nhỏ. Những đội cơ động và quen cận chiến lùng sục làng mạc và đồng lúa, những vùng rừng rậm và sình lầy. Trong khuôn khổ của “Chiến dịch Phượng Hoàng”, nhiều đơn vị Nam Việt được huấn luyện đặc biệt dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ bắt đầu hoạt động chống du kích quân địa phương. Cách hoạt động của họ hết sức tàn bạo và đẫm máu, nhưng thành công: Sau những tổn thất hết sức nặng nề của MTDTG trong đợt tổng tấn công Tết Mậu Thân, lực lượng du kích quân đã bị tiêu hao nặng bây giờ lại còn tiếp tục suy yếu đi.

Song song với đó, một “Chương trình Bình định Cấp tốc” (Accelerated Pacification Program) được khởi động để kiểm soát đất nước tốt hơn. Các chương trình bình định đã có trước đây trong nhiều gia đoạn khác nhau của cuộc Chiến tranh Việt Nam. “Khu trù mật” của Diệm năm 1959 cũng như “Chương trình Ấp Chiến lược” đầu những năm sáu mươi đã phục vụ cho việc tập trung và kiểm soát người dân nông thôn. Trong diễn tiến của năm 1966, giới quân sự Mỹ đã khởi động một chương trình mới, để mang những vùng đất nông thôn vào dưới ảnh hưởng lâu dài của Sài Gòn. “Chương trình Phát triển Cách mạng” (Revolutionary Development Program) cố gắng liên kết bằng lời nói và chiến thuật với các biện pháp của MTDTGP. Những đội ngũ gồm 59 người Việt đi vào một ngôi làng, sống chung với người dân, thiết lập những dịch vụ xã hội và cố gắng gây ảnh hưởng đến người dân theo hướng có lợi cho chính quyền. Giống như MTDTGP, những đội ngũ này hứa hẹn an ninh lâu dài – tiền đề cho phát triển kinh tế và thiện cảm về chính trị. Nhưng kết quả của chương trình này mâu thuẫn. Một bộ máy hành chánh tham nhũng và cứng nhắc ở Sài Gòn đã làm trì trệ những quyết định và ngăn chận các thỏa thuận cần thiết giữa người Mỹ và người Việt Nam. Các tân binh ban đầu được đào tạo thiếu thốn và thường bị xoay vòng thường xuyên. Họ không thể bảo đảm an ninh lâu dài, và họ đặc biệt là mục tiêu được ưu tiên của những cuộc tập kích của MTDTGP. Trong diễn tiến của năm 1967, chương trình hoạt động tốt hơn, nhưng cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân đã phá hủy mọi tiến bộ. Tuy vậy, từ đầu mùa hè 1968, “Chương trình Bình định Cấp tốc” và “Chương trình Phượng Hoàng” đã bù đắp được cho những thất bại đó. Cho tới giữa 1971, 28.000 du kích quân bị bắt, 20.000 người bị bắn chết và 17.000 người được “thuyết phục” để đổi bên. Rõ ràng là “Chương trình Phượng Hoàng” đã gây thiệt hại nặng cho hạ tầng cơ sở của MTDTGP ở nhiều vùng rộng lớn thuộc Nam Việt Nam. Nhưng trong số các nạn nhân cũng có vô số dân thường và những người đối lập chính trị đã dám nói chống lại Thiệu. Có đôi lúc, tính tàn nhẫn trong các hoạt động của các đội ngũ Nam Việt Nam và những người cố vấn Mỹ của họ đã làm lợi cho MTDTGP.

Bên cạnh tăng cường không kích các mục tiêu ở Nam Việt Nam và chiến dịch bình định, chính phủ Johnson đã bắt đầu “phi Mỹ hóa” cuộc chiến trong những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ họ. Quân số của QLVNCH được nâng từ 685.000 lên 800.000, chương trình đào tạo được cải thiện và vũ khí được hiện đại hóa. Tuy vậy, cùng với con số tân binh, con số đào ngũ cũng tăng lên, vượt qua mốc một trăm ngàn năm 1968. Lần đầu tiên, Abrams để cho tiến hành những chiến dịch Việt-Mỹ chung, để những người lính của QLVNCH làm quen với các hoạt động tấn công. Nhưng người Mỹ lại thất vọng, vì giới tướng lãnh Nam Việt Nam không quan tâm tới việc giao các nhiệm vụ mới, mang tính tấn công, cho những người lính của họ. Hơn thế, cuộc “phi Mỹ hóa” đã tạo ra nhiều nỗi lo sợ lớn. Chính trị ở Washington có những kinh nghiệm tương tự: Thiệu có động thái khước từ ngày càng mạnh hơn và cho thấy ông không quan tâm tới những cuộc đàm phán hòa bình ở Paris. Ngay cả đối với xã hội thành thị chia rẽ, “phi Mỹ hóa” có tác động giống như lần bắt đầu cho sự suy tàn của trật tự đang tồn tại. Ở khắp nơi, cảm giác bị người Mỹ bỏ rơi đã lan rộng ra.

Tổng Thống Nixon thăm Sài Gòn năm 1969
Tổng Thống Nixon thăm Sài Gòn năm 1969

Trong khi cuộc chiến ở Việt Nam đạt tới đỉnh cao tàn nhẫn của nó và Tổng thống Johnson bí mật hy vọng có thể ghi nhận được một chiến thắng quân sự, bầu cử ở Mỹ bước vào giai đoạn nóng. Trong mùa hè, người đảng Dân Chủ đề cử phó Tổng thống Hubert Humphrey, người với chiến dịch “chính trị của niềm vui” không đúng chỗ  trong năm khủng hoảng 1968 rõ ràng là đã tự đưa mình ra ngoài vòng. Ông tuyên bố muốn tiếp tục chính sách Việt Nam của Johnson. Người đảng Cộng Hòa quyết định chọn Richard Nixon, con người nổi tiếng chống cộng sản của những năm năm mươi và là người ủng hộ cho một đường lối chiến tranh phi thỏa hiệp. Sự lựa chọn khác về chính trị duy nhất xuất hiện với thống đốc Alabama, George Wallace. Cùng với ứng cử viên cho chức vụ phó tổng thống của ông, Tướng Curtis LeMay, ông hứa hẹn sẽ “nghiền nát” Việt Nam. Tức là đối với người đi bầu thì họ không có quyền quyết định “ủng hộ” hay “chống” cuộc chiến. Nhưng chính vì có tới gần một nửa người Mỹ đã từ chối cuộc chiến vào thời gian đó nên Humphrey và Nixon phải có giọng nói hòa hoãn hơn. Nixon, được đối thủ và người ủng hộ gọi là “Tricky Dick”, khiến công chúng ngạc nhiên với lời tuyên bố của ông, ông có một “kế hoạch bí mật” để chấm dứt cuộc chiến. Được các nhà báo yêu cầu nêu ra chi tiết, Nixon nói rằng ông không thể. Không ai hỏi ông lý do. Humphrey thì lại tách ra khỏi đường lối của Johnson tương đối muộn và tiến hành một chuyến đi dây thực sự. Các thăm dò dư luận cho thấy ông chỉ có cơ hội khi các cuộc đàm phán hòa bình có tiến bộ.

Johnson muốn phục vụ một lần cuối cho đảng của ông và cho chính ông. Sau khi người Xô viết gây áp lực nhẹ lên người Bắc Việt Nam hàng tháng trời, những người này cho thấy họ sẵn sàng đàm phán nhiều hơn. Vào ngày 31 tháng Mười, Tổng thống bước ra tuyên bố trước báo giới, rằng trong vòng những ngày sắp tới đây, đàm phán hòa bình sẽ bắt đầu dưới sự tham gia của tất cả bốn bên. Ngoài ra, ông tuyên bố ngưng ném bom trên toàn Bắc Việt Nam. Humphrey, người hưởng lợi từ thông điệp hòa bình, vượt qua Nixon trong các cuộc thăm dò ý kiến. Người này tuyệt vọng tìm cách lật ngược tình thế. Qua trung gian, ông báo tin cho Tổng thống Nam Việt Nam, Thiệu, rằng đất nước của ông ấy sẽ nhận được sự đối xử tốt hơn là dưới những người của đảng Dân Chủ. Thiệu, người trước sau cũng đã từ chối các cuộc đàm phán hòa bình, vội vã tuyên bố, ông sẽ không gửi đại diện sang Paris. Qua đó, tính toán của Johnson đã bị phá hỏng, và việc chấm dứt không kích dường như chỉ là một biện pháp chiến thuật cho bầu cử. Nixon thắng với 43,3% số phiếu, trước Humphrey với 42,7% và Wallace với 13,5%. Đó là một chiến thắng chật vật. Các thủ thuật của Nixon đã quyết định. Vì ông không có một “kế hoạch bí mật”.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s