Phản ứng của Mỹ sau Tết Mậu Thân

Người dân Mỹ chăm chú ngồi trước chiếc máy vô tuyến truyền hình vào ngày 31 tháng Giêng 1968. Những hình ảnh về tòa Đại Sứ quán bị hư hỏng và các xác chết nằm trên bãi cỏ trong trung tâm chính trị của quyền lực Mỹ ở Nam Việt Nam đã gây ra một cú sốc tập thể tại người Mỹ. Quân đội căng thẳng, những người lính bị thương, đường phố đầy xác chết – hầu như không một hình ảnh nào cho thấy tính dã man của cuộc chiến một cách không thương xót hơn là bức ảnh của Giám đốc Tổng nha Cảnh sát Nam Việt Nam, người ấn một khẩu súng lục vào thái dương một du kích quân đã bị trói lại và bóp cò (cái mà bức ảnh đi khắp thế giới này không cho thấy là việc du kích quân đã giết chết gia đình của người sếp cảnh sát). Với con mắt của 700 nhà báo, người Mỹ trong 50 triệu căn phòng khách sững sờ nhìn đất nước đó bị cháy rụi, bị tàn phá, bị ném bom như thế nào, đất nước mà những người lính của họ có nhiệm vụ bảo vệ nó. Người đọc tin tức của CBS, Walter Cronkite, tiếng nói đã được cá nhân hóa của “nước Mỹ thật sự, chân chính”, khoác lên cho sự kinh hoàng của cả một quốc gia những từ ngữ: “Đang xảy ra những gì ở đó thế này? Tôi nghĩ rằng chúng ta sắp sửa thắng cuộc chiến này kia mà!”[1]

Sài Gòn trong Tết Mậu Thân
Sài Gòn trong Tết Mậu Thân. Ảnh: The Vietnam Center and Archive

Giới lãnh đạo chính trị và quân sự ở Washington và ở Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ về đợt tổng tấn công Tết Mậu Thân. Westmoreland và Johnson hoài công cố gắng trấn an dư luận. Với lời giải thích, người ta kiểm soát được tình hình của Nam Việt Nam, và đợt tổng tấn công là lần trỗi dậy cuối cùng của những người cộng sản trước khi sụp đổ, Westmoreland đã đổ thêm dầu vào lửa. Lại là Cronkite, người vào cuối tháng Hai đã tường thuật lại cảm nhận chung từ Sài Gòn: “Đứng trước những sự việc này mà giải thích rằng ngày nay chúng ta tiến đến gần chiến thắng hơn thì có nghĩa là tin vào những người lạc quan đã từng sai lầm trong quá khứ.”[2] Johnson ngày càng ít được ưa thích hơn. Tồi tệ hơn nữa, đại đa số người Mỹ cho rằng ông không có tính chất quan trọng nhất mà một người tổng thống phải có – tính đáng tin cậy. Ba năm trời, người Tổng thống đã tô điểm thêm cho tình hình ở Nam Việt Nam, cố gắng thuyết phục người dân và chính bản thân mình tin rằng bước leo thang kế tiếp sẽ mang lại sự quyết định nghiên về cho nước Mỹ. Còn trong mùa thu 1967, ông đã để cho vị tướng của ông giải thích trước người dân, rằng các tiến bộ là không thể đảo ngược được và kẻ thù sắp sửa sụp đổ. Chỉ qua đêm, đợt tổng tấn công Tết mậu Thân đã vạch trần những lý lẽ đó ra là những ý muốn tưởng tượng. Tính đang tin của Johnson đã bị tiêu hủy.

Đối với Westmoreland ở Sài Gòn, tình hình quân sự tuy nghiêm trọng nhưng không phải là thảm kịch. QLVNCH và chính phủ Sài Gòn đã đứng vững, và với lực lượng hợp nhất, họ đã đánh trả thành công MTDTGP và kiểm soát được những vùng đất mà cả một thời gian dài không ai dám bước vào. Bây giờ là cơ hội để ép buộc kẻ địch đã suy yếu phải bỏ cuộc. Ngay từ trong mùa thu 1967, Westmoreland đã xin tăng viện. Nhưng Tổng thống Johnson chỉ chấp thuận cho ông một phần nhỏ số quân được yêu cầu. Nhưng vị tướng thì lại cần thêm một số quân đáng kể cho kế hoạch mà ông đã đánh điện về Washington vào ngày 9 tháng Hai: Westmoreland đề nghị một chiến dịch đổ bộ vào vùng phi quân sự thuộc Bắc Việt Nam cũng như những chiến dịch trên mặt đất chống các căn cứ ở đó. Ngoài ra, ông muốn được cho phép tấn công vào những vùng rút lui của Bắc Việt dọc theo Đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào và Campuchia, cũng như tăng cường không kích. Tuy vậy, Westmoreland không đưa ra thông tin về con số của lực lượng cần thêm cho các chiến dịch này.

Walter Cronkite (1985)
Walter Cronkite (1985)

Ở Washington, các tham mưu trưởng tuyên bố đồng ý với kế hoạch của Westmoreland. Họ muốn lấy đó làm cớ để bổ sung cho lực lượng dự bị chiến lược đã tan chảy từ năm 1967 của quân đội Mỹ. Qua đó, kế hoạch chỉ có thể thực hiện được khi Tổng thống Johnson tổng động viên lực lượng trừ bị và vì vậy đặt đất nước vào trong tình trạng chiến tranh. Cuối tháng Hai, Tướng Wheeler bay sang Sài Gòn để bàn thảo với Westmoreland. Hai người nhìn cuộc tổng tấn công Tết mậu Thân như là khả năng cuối cùng để thuyết phục người Tổng thống tin vào cách tiến hành chiến tranh của họ. Kết quả là hai tướng lãnh thống nhất tăng thêm 206.000 người lính. Nhưng Wheeler cũng đánh giá tình hình ở Nam Việt Nam với nhiều sự hoài nghi hơn là Westmoreland. Tuy vậy, Wheeler, người quan tâm đến Việt Nam và lực lượng dự bị chiến lược như nhau, từ những cân nhắc chiến thuật mà đã chọn những lời lẽ dè dặt hơn trong bản báo cáo gởi Tổng thống. Nhưng phân tích của ông về Tết Mậu Thân cũng tương ứng với tình hình quân sự. Vị Tổng Tham mưu trưởng nhìn thấy “nhiều khả năng nhưng cũng cả hiểm nguy” cho tương lai. Tuy là quân địch đã phải chịu nhiều tổn thất đáng kể, nhưng họ sẽ phục hồi nhanh chóng. Tinh thần chiến đấu vẫn không bị suy sụp, một đợt tổng tấn công mới là có thể. “Tóm lại, đó là một sự việc trong đường tơ kẻ tóc”.[3] Wheeler đã cố tình lựa chọn những từ ngữ của ông. Các tham mưu trưởng thường xuyên yêu cầu tiến hành chiến tranh một cách quyết tâm hơn và nhiều quân hơn. Họ đã yêu cầu không kích không khoan nhượng Hà Nội và Hải Phòng, cũng như đưa ra thảo luận về việc tấn công có chủ đích vào hệ thống đê của Bắc Việt Nam. Johnson đã thường xuyên bác bỏ các yêu cầu đó, dứt khoát từ chối triệu tập lực lượng trừ bị và mở rộng cuộc chiến. Bản báo cáo của Wheeler đã nổ tung như một quả bom trong Tòa Nhà Trắng đang chấn động vì khủng hoảng.

Clark Clifford
Clark Clifford

Clark M. Clifford, từ 1 tháng Ba 1968 là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã giúp Tổng thống Truman thót khỏi một tình huống dường như là không có lối thoát trước đây hai mươi năm. Lúc đó, người luật sư trẻ tuổi đã đưa ra cho người tổng thống không được ưa thích một phương án tranh cử dẫn thẳng đến chiến thắng. Nhưng nhà triệu phú và là người thân cận của giới tinh hoa quyền lực Washington chưa từng bao giờ nhận một chức vụ công khai. Không phải chịu đựng sự lo âu của chính quyền Johnson, ông có thể tập trung hết vào nhiệm vụ mà người tổng thống, với cái nhìn đến bản báo cáo của Wheeler và đến lần bầu cử tổng thống trong tháng Mười Một, đã giao cho ông: “Hãy đưa cho tôi cái ít tồi tệ hơn.”[4] Sau khi thiết lập một ban tham mưu chống khủng hoảng và xem xét các lựa chọn khác nhau, Clifford mời các tham mưu trưởng tham dự một cuộc trao đổi cởi mở: “Khi nào sẽ có thành công ở Việt Nam? Họ không biết. Họ cần thêm bao nhiêu quân lính? Họ không thể nói. 200.000 có đủ không? Họ không chắc chắn. Họ có cần nhiều hơn không? Vâng, có lẽ là họ cần thêm nhiều hơn. Quân địch có đuổi kịp không? Có thể. Rồi thì kế hoạch để chiến thắng sẽ như thế nào? Bây giờ thì kế hoạch duy nhất chỉ có mục đích làm hao mòn người cộng sản cho tới mức họ bỏ cuộc. Có những dấu hiệu nào cho thấy chúng ta đã đạt tới giai đoạn này chưa? Không, không có.”[5]

  Trong khi các tham mưu trưởng bảo vệ kế hoạch của Westmoreland, những nhà phân tích dân sự trong Tòa Nhà Trắng ủng hộ một chiến lược hoàn toàn khác: ủng hộ “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Lính Mỹ có nhiệm vụ thành lập một lá chắn quanh các thành phố lớn và giao cuộc xung đột quân sự lại cho QLVNCH. Song song với việc tăng cường vũ trang cho quân đội Nam Việt Nam, người Mỹ có thể rút quân. Tức là về cốt lõi, họ yêu cầu trở về với “chiến lược ốc đảo” của mùa xuân 1965. Mục đích của chiến lược này là thiết lập một nền hòa bình qua đàm phán, cái tạo khả năng cho người Nam Việt tự chịu trách nhiệm giải quyết lấy việc của họ. Về phương cách thì đó là những yêu cầu mà Tổng thống Nixon sẽ tuyên bố một năm sau đó: Việt Nam hóa, một “hòa bình trong danh dự” và, như là hậu quả, “thời gian thích đáng” của Henry Kissinger giữa lần rút quân của Mỹ và sụp đổ của Nam Việt Nam.

Trước những quan điểm không thể hòa hợp, Clifford quyết định chọn một con đường trung dung, dường như giữ cho sự tồi tệ nhỏ như có thể, nhưng không giải quyết được tình trạng tiến thoái lưỡng nan chiến lược: người Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đề nghị tiến hành nhiều nghiên cứu sâu hơn cũng như gởi thêm 22.000 người lính. Ngoài ra, cần phải bắt đầu tiến hành cuộc “phi Mỹ hóa” ngay lập tức. Johnson chấp thuận các đề nghị đó và bổ sung thêm vào đó đề nghị của Rusk về một sáng kiến hòa bình mới. Nhưng nếu người Tổng thống đã hy vọng là có thể trì hoãn một quyết định cơ bản về tương lai của những hoạt động tham chiến của Mỹ ở Việt Nam, thì ông đã bị thất vọng. Nhiều sự kiện đã diễn ra dồn dập trên bình diện quốc gia và quốc tế.

Vào ngày 10 tháng Ba, một dòng tít của tờ New York Times đã làm cho cả nước sôi động: “Westmoreland yêu cầu thêm 206.000 quân. Kích động tranh cãi trong chính phủ”.[6] Lời yêu cầu đã được giữ bí mật cho tới lúc đó của vị tướng đã gây ra một cơn bão chống đối trong dư luận và trong Quốc Hội. Trong cả hai ngày tiếp theo sau đó, Ngoại trưởng Rusk đã bị lôi vào trong một cuộc thẩm vấn được truyền hình trực tiếp ở Thượng Viện, một cuộc thẩm vấn thiếu mọi sự tôn trọng chức vụ đó. Thành viên của Hạ Viện chuẩn bị một nghị quyết có 139 trong số 400 nghị sĩ tham gia và yêu cầu một đánh giá tổng thể về hoạt động tham chiến của Mỹ ở Việt Nam. Tại các cuộc bầu sơ bộ của đảng Dân chủ cho chức vụ tổng thống trong tháng Mười Một, thượng nghị sĩ Eugene McCarthy đã nhận được 42% số phiếu ở New Hampshire vào ngày 12 tháng Ba. Với thành công đáng chú ý này, người chống chiến tranh nổi tiếng chỉ qua đêm đã trở thành một nhà cạnh tranh không thể coi thường trong nội bộ đảng. Nhưng sự việc còn tồi tệ hơn nữa cho Johnson: vài ngày sau đó, đối thủ khiến ông sợ hãi, nghị sĩ được yêu thích Robert Kennedy, bước lên võ đài của những người tranh cử chức tổng thống thuộc đảng Dân Chủ. Cả ông ấy, sau cái chết của John F. Kennedy là người mang hy vọng của thế hệ trẻ, thời gian sau này cũng hoài nghi ý nghĩa của hoạt động tham chiến tại Việt Nam của Mỹ. Thêm vào đó, nhiều tác động xuất hiện, những cái có liên quan đến lợi ích thiết yếu của Hoa kỳ.

Tác động về kinh tế của cuộc chiến có thể được nhận biết qua thiếu hụt đang tăng vọt trong cán cân thanh toán. Dòng chảy của những số tiền dollar thật lớn sang Việt Nam và phí tổn cho việc đồn trú quân đội Mỹ ở khắp nơi trên thế giới ngày càng tạo áp lực lớn hơn lên tiền tệ Mỹ. Ngay từ năm 1967, các ngân hàng trung ương châu Âu, ngoại trừ của Pháp, đã hứa sẽ không đổi dollar lấy vàng của Mỹ (cái được gọi là bảo đảm đổi lấy vàng mà dựa trên đó, dollar đã trở thành tiền tệ dẫn đầu và tiền tệ dự trữ quốc tế từ 1944). Nhưng nhượng bộ này không bao gồm các giao dịch tư nhân, những cái đã đạt tới một đỉnh cao trong mùa xuân năm đó. Chỉ riêng vào ngày 14 tháng Ba 1968, các ngân hàng thương mại châu Âu đã bán trên 370 triệu dollar và đổi chúng lấy vàng. Đối diện với việc mất tin tưởng vào đồng tiền Mỹ này, Banque de France cũng đẩy đi những số tiền dollar khổng lồ. Được ngân khố báo động, Johnson cố gắng gây áp lực lên người Âu. Trong một lá thư gửi các sếp ngân hàng trung ương Âu châu, ông gợi lên bóng ma của lần sụp đổ hệ thống tiền tệ thế giới. Lời cảnh báo của ông về một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới có quy mô lớn của đầu những năm ba mươi đã không có tác động lâu dài. Vì vậy mà Johnson không có cách nào khác hơn là đình chỉ nhiệm vụ trao đổi tiền cho các ngân hàng kinh doanh. Quyết định mang tính lịch sử về chính sách tiền tệ và kinh tế thế giới này mang một lực biểu trưng vô cùng to lớn: nó giống như lời thừa nhận, rằng Hoa Kỳ không còn có khả năng thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế của mình. Nó báo hiệu lần chấm dứt tính áp đảo về kinh tế của Hoa Ky đối với Phương Tây. Và nó biểu hiện sự việc, rằng Chiến tranh Việt Nam “Great Society”, bơ đại bác đã vượt quá khả năng của nền kinh tế Mỹ.

Phần lớn người Mỹ đều không biết đến cuộc khủng hoảng vàng. Họ lo lắng về việc thâm hụt 20 tỉ dollar trong ngân sách do cuộc chiến gây ra và ý định tăng thuế gây tranh cãi của Tổng thống. Nhưng những nhà tiên tri của chính sách đối ngoại Mỹ, những người được gọi là “thông thái” (wise men) thì vẫn nhận biết được tầm quan trọng và quy mô của cuộc khủng hoảng vàng. Nhóm không chính thức của những người phục vụ cho quốc gia – trong đó có ba cựu chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng, nhà cố vấn an ninh trước đây McGeorge Bundy, George Ball và Dean Acheson – đã gặp nhau trong một hội nghị vào ngày 25 tháng Ba theo ý muốn của Johnson. Vẫn còn trong tháng Mười Một 1967, nhóm đó đã hỗ trợ cho Johnson và tuyên bố với đa số chống việc chấm dứt ném bom và ủng hộ tiến tục tiến hành chiến tranh. Bây giờ thì người Tổng thống bám vào niềm hy vọng, cuộc điều trần của các chuyên gia sẽ khiến cho các “wise men” ủng hộ đường lối của ông thêm một lần nữa. Nhưng so với năm trước đó thì tình hình trong tháng Ba đã khác đi, nhiều yếu tố quan trọng đã chống lại việc cứ tiếp tục tiến hành chiến tranh không thay đổi: đợt tấn công Tết Mậu Thân, áp lực của phong trào phản chiến, rạn nứt sâu trong đảng Dân Chủ, sự chống đối ngày càng tăng của Quốc Hội, sự ủng hộ chính phủ ngày một giảm dần trong công chúng và trước hết là nỗi lo lắng của nhiều nhóm có ảnh hưởng lớn của Wall Street về vị thế của nước Mỹ trong hệ thống kinh tế thế giới. Acheson, kiến trúc sư của Kế hoạch Marshall và Học thuyết Truman, nhà xây dựng quyền bá chủ của Mỹ trên Tây Âu và Nhật Bản, nhìn thấy sự nghiệp của thế hệ ông bị đe dọa. Gần hai mươi năm sau khi chính Acheson như là ngoại trưởng đã công nhận Hoàng đế Bảo Đại và qua đó bắt đầu cuộc tham chiến của Mỹ ở Việt Nam, ông bây giờ tuyên bố rằng thử nghiệm “xây dựng quốc gia” đã thất bại.

Vài ngày sau đó, vào ngày 31 tháng Ba 1968, Tổng thống đã hướng tới quốc gia trong một bài diễn văn truyền hình đầy tính bi kịch. Ông tuyên bố chấm dứt ném bom vùng phía Bắc của vĩ tuyến 20 và đề nghị với giới lãnh đạo hà Nội là sẽ chấm dứt vô điều kiện cuộc không kích nếu như những người này phản ứng tích cực lại với bài diễn văn của ông. Ngoài ra, ông tuyên bố sẵn sàng đàm phán hòa bình vô điều kiện. Ông Tổng thống còn giữ kín con số tối đa của quân đội Mỹ tại Việt Nam, nhưng trên thực tế thì ông đã chấm dứt cuộc leo thang từng bước. Tiếp theo sau đó,  phần cuối của bài diễn văn gây chấn động trong nước: với cái nhìn đến lầnbầu cử tổng thống trong tháng Mười Một, Johnson tuyên bố không ra tranh cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Về chính trị, điều đó tương ứng với một lần từ chức được tiến hành trước.

Bài diễn văn của Johnson vẫn còn được mọi người nói đến khi một cuộc chiến hoàn toàn khác đã lôi nước Mỹ vào trong vòng xoáy của bạo lực và phá hủy: Vào ngày 4 tháng Tư, Martin Luther King bị giết chết. Hơn một trăm thành phố đã trải qua những cuộc bạo động sắc tộc tồi tệ nhất của lịch sử Mỹ. Ngay ở Washington, khói từ những ngôi nhà và ô tô đang cháy cũng lơ lững trên khu phố chính phủ, và thủ đô đã biến thành một trại lính khổng lồ. Quốc gia vừa qua được cú sốc này, khi Robert Kennedy bị ám sát chết hai tháng sau đó. Lại có những cuộc tuần hành bày tỏ sự thương tiếc và những cuộc biểu tình trên đường phố của các thành phố lớn. Tại đại hội bầu cử của đảng Dân Chủ ở Chicago trong tháng Tám đã xảy ra những vụ xung đột náo loạn và nhiều trận đánh ác liệt trên đường phố, khi nhiều trăm cảnh sát bị kích động đã đánh đập những người biểu tình. Viễn cảnh của Johnson về một “Great Society” đã thất bại, nước Mỹ tự do bị chia cắt thật sâu. Đa phần người dân đã chán ngán – chán ngán chiến tranh và chán ngán những cuộc biểu tình, chán ngán những nghi vấn về chế độ và về nhà cầm quyền của những người sinh viên trẻ tuổi, chán ngán bạo lực và phá hoại.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam


[1] Trích dẫn theo Dan Oberdorfer, Tet! Garden City/NY 1971, trang 158

[2] Trích dẫn theo Daniel C. Hallin, The Uncensored War: The Media and Vietnam, New York 1986, trang 170.

[3] Wheeler gởi Johnson, 27/02/1968, trong Pentagon Papers (NYT), trang 615-621.

[4] Lyndon B. Johnson, The Vantage Point, New York 1971, trang 392 và tiếp theo.

[5] Trích dẫn theo Kernow, Vietnam, trang 568.

[6] New York Times, 10/03/1968.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s