Bài học của ngọn đồi Thịt Băm

Nước Mỹ thua cuộc đã nhắm mắt trước những kinh hoàng của cuộc chiến trong rừng rậm Việt Nam mười năm liền. 1,5 triệu người Việt, trên 55.000 người Mỹ đã chết. Ronald Reagan muốn tuyên bố thảm họa Việt Nam thành một chiến thắng về luân lý. Giới truyền thông Mỹ trình bày thêm một lần nữa những cảnh khủng khiếp của cuộc chiến.

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 16/1985:

http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13512807.html

Qua cái nhìn đầu tiên, ba bức tượng đồng màu xanh ôliu trông giống như quảng cáo tuyển quân của U.S. Army: những người đàn ông mang dáng vẻ chiến đấu trên một tượng đài tưởng niệm ngay giữa Washington. Nhưng rồi điệu bộ của họ có một tiếng nói rõ ràng – những người lính trên tượng đài thật sự là đã kiệt quệ. Họ không toát ra một niềm tin chiến thắng – ngược lại: tư thế của họ mang một vẻ mất mát nào đó.

Three Soldiers Washington DC

Mặc dù vậy, những người Mỹ yêu nước vẫn có thể sống với tượng đài kỷ niệm truyền thống này, những người mà hồi ức của họ về cuộc Chiến tranh Việt Nam, “ý định cao quý đó” (Reagan), được lát đá hoa cương như một đền thờ danh nhân: chiến bại của nước Mỹ không còn có ở trong đầu của họ nữa; lần cất cánh đầy nhục nhã của chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng trong đêm 29 rạng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 từ mái của một căn nhà ở Sài Gòn. Một cơn ác mộng – đã qua rồi.

Giờ đây, một tưởng nhớ chính xác hơn về khoảng thời gian này được gìn giữ cách đội ngũ tưởng niệm bằng đồng đó chỉ vài mét – trên một bức tường bằng đá hoa cương màu đen dài 150 bộ. Đó là bức tường truy điệu của Mỹ, “The Wall”.

58.022 tên họ được khắc vào đá hoa cương – những người Mỹ đã hy sinh và mất tích của cuộc chiến ở Đông Nam Á. Thêm vào đó là hai thời điểm: bắt đầu chiến tranh 1959, chấm dứt chiến tranh 1975. Một bức tường tương ứng như vậy cho 1,5 triệu người Việt nạn nhân của cuộc chiến sẽ dài nhiều kilômét.

Có những người tình nguyện đứng trước bức tường đơn giản đó với những quyển sách tra cứu dầy cộm. Khi hỏi, họ sẽ thông báo cho biết ngày tháng hy sinh, ngày tháng năm sinh, tiểu bang quê hương. Tròn 22.000 người đã hy sinh khi còn chưa tới 21 tuổi – Việt Nam là một cuộc chiến của lứa tuổi teen Mỹ, thường là con cái của gia đình công nhân chống lại những du kích quân giàu kinh nghiệm. Sinh viên được miễn quân dịch, nhiều người con của giới trung lưu đã trốn tránh.

Cha mẹ của người chết đến cạnh bức tường này, sờ vào những cái tên, hôn lên mặt đá. Có nhiều người khóc òa, không kiềm chế, ngay giữa đám đông – vào những ngày lễ có tới 12.000 người.

The Wall in Washington

Năm 1982, Reagan đã bỏ lỡ buổi lễ khai mạc đài kỷ niệm này – tượng đài, được một phụ nữ trẻ tuổi người Mỹ gốc Hoa phác thảo, không tương ứng với hình ảnh anh hùng sai lệch của ông về tấn bi kịch đó, tấn bi kịch mà nước Mỹ đã “đánh mất sự trong trắng ngoại giao của nó ở trong đó”, theo Henry Kissinger ngày nay [1985],

Hoa Kỳ, đất nước mà năm 1917 và 1941 sau một thời gian dài do dự đã bước vào các cuộc thế chiến để giải phóng châu Âu ra khỏi những mối phiền toái của sự điên rồ trong ngoại giao và những tội phạm của phát xít – họ bước vào cuộc Chiến tranh Việt Nam với sự chắc chắn sai lầm của những người mộng du. Năm 1954, khi nước Pháp đánh mất thuộc địa Đông Dương của nó trong trận Điện Biên Phủ về tay các du kích quân Việt Minh dưới quyền của Hồ Chí Minh, Washington đã chi trả 80 phần trăm chi phí chiến tranh. Kết quả của Hội nghị Đông Dương ở Geneve – một Việt Nam độc lập – không bao giờ được Hoa Kỳ công nhận; ở phía Nam của vĩ tuyến 17, một chính phủ tham nhũng, tư sản, hình thành với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.

Từ Diệm cho tới Thiệu: các nhà cầm quyền độc tài của Sài Gòn dựa vào các “cố vấn” Mỹ – lúc đầu là 500 (1958), rồi cuối cùng là 538.000 (1969) – tất cả họ đều dính líu vào trong một cuộc chiến chống Việt Cộng và người Bắc Việt, những người thành thạo các chiến thuật khác với các chiến thuật  được giảng dạy cho các sĩ quan Mỹ trong các học viện quân sự của họ.

Lính thủy quân lục chiến Mỹ, những người năm 1965 đánh chiếm một ngọn đồi mang tên “Thịt Băm” ở gần Khe Sanh, đã để lại một tấm bảng nhỏ sau khi rút quân: “Việt Nam – có đáng giá như thế không?”

Đồi Thịt Băm, một ngày sau trận chiến
Đồi Thịt Băm, một ngày sau trận chiến

Câu hỏi này vẫn còn được đặt ra:

  • Trong cuộc chiến dài nhất của lịch sử họ, Hoa Kỳ đã tự loại bỏ yêu cầu mà họ đã tự đặt ra cho họ, dẫn đầu về đạo đức và chống đế quốc, và đã triển khai sức mạnh vật chất của họ một cách không kiềm chế. Việc dội bom thường dân Hà Nội được xem là “cố gắng chuyển hóa niềm tin một cách chiến lược”, việc sử dụng những loại vũ khí kinh dị mới như “Agent Orange”, một chất làm rụng lá có chứa dioxine, dường như là có thể chấp nhận được. Trên bảy triệu tấn bom và đạn pháo Mỹ đã rơi xuống đất nước này, hơn ba lần rưỡi con số mà Đồng Minh đã ném xuống nước Đức và châu Âu bị chiếm đóng trong Đệ nhị Thế chiến. Nhưng những vật nổ này cũng gây ra tác động không muốn có tại các đồng minh xa xôi – một làn sóng chống Mỹ lan tràn qua khắp Tây Âu. Thay vào vị trí của Kennedy bị ám sát năm 1963 (người ngay trước khi chết đã cân nhắc chấm dứt tham chiến ở Việt Nam) là những vị thánh khác của thế hệ trẻ – Hồ Chí Minh ở châu Á, Che Guevara ở Nam Mỹ.
  • Trong xung đột nội bộ gay gắt nhất của Mỹ từ cuộc nội chiến, quốc gia này đã chia ra thành hai phái thù địch nhau. Những người thủ cựu quanh Goldwater và Reagan thích nhất là bỏ bom nguyên tử Bắc Việt Nam (“let’s nuke ’em”); những người tự do quanh Robert Kennedy không nhìn thấy một ý nghĩa nào trong việc “tham gia một cuộc nội chiến của người Á châu”, một cuộc chiến mà theo từ ngữ của quốc vụ khanh Hoa Kỳ George Ball “phải được tiến hành trong một lãnh thổ đầy rừng rậm giữa những người dân từ chối không hợp tác với quân đội da trắng”.
  • Là cố vấn của John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson, giới tinh hoa ở bờ biển Đông dưới McGeorge Bundy, Rusk và Walt Rostow đã hao mòn vì cuộc chiến tranh ở nơi xa xôi. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert McNamara, một người sùng đạo Tin Lành, đã suy sụp vì trách nhiệm của mình, rút lui ra khỏi chính trường và cho tới vụ kiện bị xúc phạm của cựu tướng Westmoreland chống lại đài truyền hình CBS thì không hề nói một lời nào về Việt Nam – cả riêng tư lẫn công khai đều không. “Hồ sơ Lầu Năm Góc”, do tờ “New York Times” công bố, ghi nhận “sự ngạo mạn của quyền lực” (thượng nghị sĩ Fulbright).
  • Nền văn hóa chính trị Mỹ trở nên cực đoan: “Yippies” cánh tả [Youth International Party] suýt nữa thì đã làm tan vỡ đại hội của đảng Dân Chủ tại Chicago (1968); Vệ binh Quốc gia bắn vào các sinh viên biểu tình thuộc Kent State University (bốn người chết). Uy quyền của ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ đã giảm sút dưới sự phê phán của giới công khai. “Hey, hey, LBJ, how many kids did you kill today?”, đạo quân biểu tình của những người phải đi lính cất tiếng hát – và vị Tổng thống Johnson mất tinh thần đã từ bỏ không ra ứng cử lần thứ hai.
  • Người kế nhiệm Nixon, với việc ném bom Campuchia đi ngược lại hiến pháp và pháp luật quốc tế, đã mở đường cho tên cộng sản giết người hàng loạt Pol Pot với nhóm du kích quân Khmer Đỏ của hắn. Khủng bố bằng cách bỏ bom chiến lược từ những chiếc máy bay B-52, Nixon hy vọng sẽ thương lượng được những điều kiện rút quân thuận lợi hơn cho quân đội bại trận của Hoa Kỳ. Cố vấn Kissinger đã thuyết phục được Nixon: Nước Mỹ không thể chiến thắng được cuộc chiến. Không thể nghĩ tới việc có thể mang tính quyết định cho cuộc chiến là tiến quân vào Bắc Việt Nam bạn của Moscow.
  • Thất bại thật sự của Mỹ, các tướng lĩnh của ngày xưa khẳng định như vậy vào ngày nay, đã diễn ra trong các phòng khách của nước này. Trong tường thuật live hàng nhiều năm trời, truyền hình Hoa Kỳ đã biến các sự kiện ở Việt Nam thành một phim truyện phản chiến vô tận. Đài truyền hình và những người đọc tin của họ đã vươn lên trở thành các thể chế đạo đức mang tính chi phối: những gì mà họ đưa ra dường như là đáng tin hơn những lời hứa hên hòa bình bất tận của các chính trị gia.

Khi cuộc chiến cuối cùng rồi cũng chấm dứt, toàn bộ đất nước đã biến đổi; những năm 50, tinh thần cục bộ hạnh phúc của những năm dưới thời Eisenhower, tất cả những cái đó đã chìm xuống vĩnh viễn. Trên màn hình, trẻ em châu Á cháy trong ngọn lửa của napalm. Người Mỹ bị lột trần ra là những kẻ giết chết hàng loạt các bà mẹ và trẻ sơ sinh Việt Nam. Những người ở quê hương đã nhìn thấy các hình ảnh nhiều màu sắc của bạo lực từ chính họ, và họ đã buồn nôn.

Từ đó, nước Mỹ cố gắng quên Việt Nam như quên một cơn bệnh lây nhiễm đã qua khỏi.

“Không ai thật sự thích lục lọi trong những hồi ức không hay”, thượng nghị sĩ John Kerry, 41 tuổi, nói vào ngày nay. Ông đã từng tình nguyện phục vụ ở Việt Nam và đã bị thương ba lần. Vì đã tổ chức phản đối chiến tranh cho các cựu chiến binh sau khi ra khỏi quân đội và thêm vào đó là đã xin phép được xuất ngũ trước thời hạn “vì lương tâm”, nên các đối thủ chính trị trong lần tranh cử vào thượng nghị viện đã chế nhạo ông là một “người có cảm tình với cộng sản” và là “một kẻ phản bội”.

Ông John Kerry nói chuyện với những người tham gia và ủng hộ chiến dịch rút quân nhanh chóng khỏi Việt Nam (RAW – Rapid American Withdrawal) tại Valley Forge vào ngày 7 tháng 9 năm 1970. Hình: Reuters
Ông John Kerry nói chuyện với những người tham gia và ủng hộ chiến dịch rút quân nhanh chóng khỏi Việt Nam (RAW – Rapid American Withdrawal) tại Valley Forge vào ngày 7 tháng 9 năm 1970. Hình: Reuters

Nhưng cả những lời nói xấu như vậy rồi cũng tắt dần – chúng thiếu điểm tựa. Giới công khai đã nhanh chóng đẩy “Việt Nam” và tất cả những gì có liên quan tới đó đi mất tích, nhiều năm trời đã không còn muốn biết gì về nó nữa.

“Hầu như là chỉ qua đêm, Việt Nam đã biến mất ra khỏi nhận thức của quốc gia”, nhà xuất bản tân thủ cựu Norman Podhoretz ngạc nhiên. Không một tướng lĩnh, không một đô đốc nào từ chức sau chiến bại đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của Hoa Kỳ. “Mất trí nhớ tập thể”, tờ “New York Times” đã chẩn đoán thời đó. Nhưng sự bất hạnh đó quá lớn để mà có thể được chôn vùi mãi mãi: Việt Nam lại quay trở lại như một cơn ác mộng không để cho người ta xua nó đi. Trước đây [1985] vài tuần, trong một vụ thưa kiện do ông khởi tố chống đài truyền hình CBS, viên tư lệnh Việt Nam Westmoreland đã phải để cho người ta chứng nhận, rằng vì những lý do về chính trị mà đã xử lý một cách cẩu thả việc đánh giá kẻ địch qua thống kê. Trong lúc đó, Westmoreland khẳng định rằng không ai được phép hoài nghi lòng yêu nước của ông – một kẻ thua trận bi đát, người vẫn còn chưa biết tại sao ông không thể chiến thắng được.

“Liệu chúng ta có học hỏi được điều gì theo nghĩ luân lý hay không”, cố vấn cho Kennedy và cũng là sử gia Arthur Schlesinger hoài nghi trước những viên tướng lĩnh như vậy. Có thể là “nước Mỹ giờ đây cũng biết rằng lỗi lầm đó to lớn cho tới chừng nào, muốn đóng vai trò của Chúa Trời trong lịch sử của loài người”.

Thật sự là sẽ không ai thừa nhận lỗi lầm này. Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ Hoa Kỳ, ngoài ra thì bao giờ cũng cảm ơn mỗi một lần xuất hiện ăn ảnh trong các ủy ban điều tra của Quốc Hội, sau 1975 chưa từng bao giờ yêu cầu một tòa án Việt Nam duy nhất, mà lại tuyên truyền cho sự quên lãng.

Phung phí 150 tỉ dollar trong chiến tranh? Không một nghị sĩ nào còn hỏi về việc này. Bốn triệu người Việt chết và bị thương? Hãy quên đi! Một quân đội Mỹ, gồm cho tới 80% là những lãnh chúa cung ứng, vua ở hậu phương và hoàng đế sòng bạc, một quân đội mà trong đó chưa từng bao giờ có nhiều hơn 80.000 người lính đứng thật sự trong các lực lượng chiến đấu? Không đáng giá để nói tới!

Trong từ ngữ của nguyên trưởng phái đoàn đảng Dân Chủ trong Thượng Viện, Mike Mansfield: “Ngẫm nghĩ về những gì có thể hay cần phải trong quá khứ thì không giúp được gì cho ai cả.”

Tổng thống Jimmy Carter của đảng Dân Chủ tuyên bố năm 1977, chỉ vài giờ sau khi vào Tòa Nhà Trắng, rằng đã tới lúc “đi tới kết thúc với cuộc Chiến tranh Việt Nam”. 500.000 “người phản bội” đó, những người trốn ra nước ngoài để tránh không phải đi lính, nhất là sang Canada, nên trở về nhà. Ngay những người đào ngũ cũng có thể hy vọng được khoan hồng. Carter: “Tôi không cảm thấy muốn trừng phạt bất kỳ một ai cả.” Và: “Toàn bộ sự việc bây giờ đã qua rồi.”

Ba năm sau lời kêu gọi ân xá Việt Nam của Carter, Ronald Reagan bắt đầu một giọng nói mới trong một bài diễn văn trước “Veterans of Foreign Wars”: “Chúng ta đã sống quá lâu với hội chứng Việt Nam.” Đã tới lúc xét lại lịch sử, đã tới thời điểm của bước ngoặc bảo thủ: “Lòng yêu nước mới” (Reagan)  hóa ra là lòng yêu nước cũ.

Đối với tổng thống Mỹ, kẻ thù tiếp tục có tên là Việt Nam. Không có quan hệ n

goại giao giữa các đối thủ trong cuộc chiến. Cố vấn của Reagan nhắc tới hơn 2400 người Mỹ mất tích và tù binh mà trong đó có thể là Hà Nội đang giữ lại một số. Họ dẫn ra việc quân đội Việt Nam chiếm đóng Campuchia, họ nhắc tới những trại giam mà đối thủ chính trị của chính quyền Hà Nội bị giam giữ ở trong đó từ một thập niên nay.

Những người ủng hộ cho “thuyết Domino”, chỉ nhìn Nam Việt Nam như một quân cờ mà một khi nó đã ngã xuống thì sẽ giao trọn toàn khu vực về cho cộng sản, có đúng không?

Tháng 4, 1997, Vietnam Veterans Memorial tại Washington, DC. Hình: Joseph Sohm / Visions of America / Corbis.
Tháng 4, 1997, Vietnam Veterans Memorial tại Washington, DC. Hình: Joseph Sohm / Visions of America / Corbis.

Cựu tổng thống Richard Nixon quả quyết trong tác phẩm “No More Vietnams” của ông: “Ngày nay, sau khi chính quyền cộng sản đã giết chết trên nửa triệu người Việt và trên hai triệu người Campuchia, lời phán xét luân lý cuối cùng về những cố gắng của chúng ta để cứu thoát Campuchia và Việt Nam: Chúng ta chưa từng bao giờ chiến đấu cho một sự việc có nhiều đạo lý hơn thế.”

Thật sự rằng việc bỏ bom để “cứu nguy Campuchia” của Mỹ đã nâng những người đó lên, những người cần phải được “cứu thoát”; sự thật cũng là, những con người đen tối như các ông chủ Sài Gòn Tướng Kỳ, Tướng Khánh và cuối cùng là Tướng Thiệu là biểu tượng cho tất cả, chỉ là không cho đạo đức.

Thế nhưng không còn có thể ngăn chận sự thành hình của huyền thoại Việt Nam được nữa: nó là một hình thức đặc biệt của sự quên lãng – được nhặt ra từ ký ức tập thể chỉ là những gì phù hợp vào trong một hình ành của tấn thảm kịch Việt Nam vô tội.

Vết dơ trên bức tranh chiến trận được xóa đi: Thiếu úy William Calley, người đã giết chết ít nhất là 22 người dân thường tại làng Mỹ Lai ở Việt Nam trong tháng Ba 1968 và đã bị xử tù chung thân năm 1971 vì việc này, được tha tội. Người lính này phải chịu ba năm quản thúc tại gia.

Trung tướng W. R. Peers, người được Lầu Năm Góc giao nhiệm vụ làm sáng tỏ bối cảnh của vụ thảm sát, sau này đã bày tỏ sự phẫn nộ của mình trong một bản báo cáo do ông viết về “sự bất lực của hệ thống quân pháp, trừng phạt có hiệu quả những người hoặc là bị cáo buộc đã phạm tội ác chiến tranh hoặc là không báo cáo và điều tra những tội phạm như vậy”. Và: “Chúng ta rõ ràng là không đo chúng ta với cùng một thước đo mà chúng ta đo địch thủ.”

Cũng được tha thứ là hành động của viên sếp cảnh sát Sài Gòn, Nguyễn Ngọc Loan, người trong trận tổng tấn công dịp Tết 1968 đã ấn khẩu súng ngắn vào thái dương của một Việt Cộng bị bắt và bắn chết người này trước ống kính của một nhiếp ảnh gia AP. Người chụp bức ảnh đó được trao giải Pulitzer cho tấm hình đó, người sếp cảnh sát trong giờ phút cuối cùng đã có thể chạy thoát qua Mỹ với vợ con và sở hữu một quán ăn ở Burke, Virginia.

Ngược lại, các cựu chiến binh đã bị bỏ quên, những người rơi vào cảnh nghiện rượu hay ma túy ở Đông Nam Á, phát rồ vì những tưởng nhớ, ác mộng, tội lỗi đè nặng lên họ. “Đa số người dân của chúng ta”, nghị sĩ David Bonior thuộc đảng Dân Chủ quả quyết, “muốn nhất là chôn sâu tấn bi kịch Việt Nam và xóa sạch đi lịch sử”.

Tất nhiên, trong những tuần này Việt Nam lại quay trở lại một cách đầy đau đớn trong nhận thức của đất nước: mười năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, giới truyền thông tưởng nhớ lại cuộc chiến. Trong những ngày này, các báo có nhiều ảnh hưởng như “Washinton Post” hay “Wall Street Journal”, các tạp chí tin tức như “Time” và “Newsweek” đăng những bài tường thuật đặc biệt về Chiến tranh Việt Nam và hậu quả của nó. “The New York Times Magazine” chạy tít “Việt Nam ở Mỹ”. “Nỗi nhục nhã của chiến bại”, theo tờ này, “đã lui bước, cựu chiến binh Việt Nam biến thành anh hùng quốc gia.”

Tháng Tư 1975, người di tản lên tàu Mỹ Hancock
Tháng Tư 1975, người di tản lên tàu Mỹ Hancock

“Nỗi nhục nhã” đó bắt đầu vào cuối tháng Tư 1975 với bài ca Giáng Sinh hết sức không phù hợp “I am dreaming of a White Christmas”, do đài quân đội AFN ở Nam Việt Nam phát – và một xướng ngôn viên tuyển bố: “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 40 độ và sẽ còn tăng lên.”

Đó là ám hiệu công khai cho cuộc di tản của Mỹ ra khỏi Sài Gòn – một “cuộc di tản đau thương” theo Kissinger. Các lực lượng chiến đấu cuối cùng của Hoa Kỳ đã rút khỏi hai năm trước đó sau những cuộc thương lượng kéo dài giữa Kissinger và người đàm phán của Hà Nội Lê Đức Thọ.

Đạn pháo, tên lửa của những người cộng sản đang tiến quân năm 1975 đã phá vỡ dần dần các đường băng cất cánh và hạ cánh trên các phi trường của thủ đô Nam Việt Nam và vào lúc cuối cũng trúng tòa nhà của Đại sứ quán Hoa Kỳ. Cuối cùng, những chiếc trực thăng di tản của hạm đội Hoa Kỳ trước bờ biển chỉ còn có thể cất cánh từ nóc nhà của một ngôi nhà ở trong khuôn viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ.

Những người dân Nam Việt Nam tuyệt vọng đã xông qua cổng của tòa đại sứ Mỹ. Máy bay Mỹ đối với họ là phương tiện chạy trốn cuối cùng còn lại. Và cũng như cả cuộc chiến, lần rút lui của người Mỹ cũng diễn ra một cách hỗn loạn, vô phẩm cách, vô nhân đạo: Giống như đang lui quân trong một trận đánh trên mặt đất, những người lính thủy quân lục chiến trong đại sứ quán rút lui từng tầng một. Họ chận thang máy, đẩy tủ và ghế ra trước cửa, để ngăn chận không cho những người bị bỏ lại tràn lên mái nhà, và rồi biến mất trên bầu trời Sài Gòn.

Những hình ảnh bi thảm của cuộc di tản từ trên mái nhà đã “đánh động thật sâu trong tâm hồn” của quốc gia, thượng nghị sĩ Kerry nhớ lại. Nhưng sau đó thì Hoa Kỳ cuối cùng cũng đã có thể ngoảnh mặt với thảm họa xa xôi đó, rõ ràng là đã quá kiệt sức để mà có thể đặt ra câu hỏi lỗi của ai. Mười năm sau đó, nó có thể được đặt ra thêm một lần nữa: Các tấn bi kịch ở quê nhà sắp tới đây sẽ được ghi nhận lại trong một loạt phim truyền hình do đài truyền hình ABC thực hiện.

Tạp chí “Harpers” hiện đang tường thuật về các cựu chiến binh “trip wire”, những cựu quân nhân quẫn trí sống trong các tiểu bang Mỹ khó đi lại Oregon và Washington, ở đâu đó trong những căn nhà hay lều trên núi, được bảo vệ trước những kẻ phá rối bởi “trip wires”, những sợi dây kích hoạt báo động khi người ta vướng vào.

Tờ tuần báo “People” hiện đang đăng tải các bức ảnh đầy tính bi kịch về cuộc Chiến tranh Việt Nam, và yêu cầu người đọc hãy cho biết danh tính và cung cấp thông tin về những người có thể nhận ra được trong hình. Hồi ký về Việt Nam gia tăng.

Trong “Bloods” người da đen mô tả lại các hồi ức chiến tranh của họ, lính bộ binh Richard Ford tường thuật về một lần tham chiến ở Việt Nam: “Tôi lao qua cửa. Tôi đã bắn trúng cô bé. Cô bé nằm trên người đàn ông già, giống như muốn che chở cho ông ta vậy. Ông ấy hẳn độ 80 tuổi. Cô bé bảy tuổi. Cả hai đều đã chết. Tôi đã vô tình giết chết một người đàn ông già và một cô bé gái trong nhà. Một cảm giác kỳ lạ ập đến với tôi.” Sĩ quan thoát được những trải nghiệm của các “grunt” [“lính lác”]. Ngày nay họ có những nỗi lo khác – tại sao họ lại thua trận?

Vietnam War 1973 - Faces of Sorrow - Press Photo - (13/4/1973)
Vietnam War 1973 – Faces of Sorrow – Press Photo – (13/4/1973) Phía sau hàng rào xung quanh trụ sở UB Quốc tế Kiểm soát Ngừng bắn tại SG là khuôn mặt của hai quả phụ có chồng bị tử thương vì hỏa lực quân địch tại Tống Lê Chân. Trại BĐQ của khoảng 400 binh sĩ này đã bị các lực lượng cộng sản bao vây và bắn phá trong 7 tuần lễ. Phía Nam VN đã nhiều lần yêu cầu Ủy ban điều tra vụ việc ở đó, nhưng đã không được đáp ứng. Tống Lê Chân cách Sài Gòn khoảng 50 dặm về phía bắc. (AP)

“Chúng ta đã không chiến thắng”, Đô đốc U. S. G. Sharp trong một lần nhìn lại, “vì chúng ta không được phép tiến hành những cú đánh quyết định với sức mạnh hải quân và không quân to lớn của chúng ta.” Sharp, chỉ huy hải quân ở Thái Bình Dương từ 1964 cho tới 1968, kể cả Việt Nam: “Tôi muốn đánh trúng kẻ thù ở nơi gây đau cho họ: trong trái tim của miền Bắc Việt Nam.”

Ông ấy hẳn là vẫn chưa nhận ra: nước Mỹ không phải thất bại trước một đất nước có dân cư tập trung, công nghiệp hóa cao độ, có thể sẽ cúi mình khuất phục khi bị bỏ bom liên tục, mà là trước một đối thủ một phần chiến đấu trong những bộ pyjama màu đen, được trang bị vũ khí nhẹ và mãi cho tới giai đoạn cuối của cuộc chiến mới đến trong xe tăng. Ưu thế không quân của Mỹ. hàng ngàn chiếc trực thăng – tất cả những điều đó đều vô dụng trước những lực lượng địch quân vô hình trên xe đạp, trong các hệ thống đường hầm và trong rừng rậm. Ngay tới những loại vũ khí kỳ diệu như “máy ngửi hơi người” của Mỹ cũng không thể xác định được vị trí của kẻ địch. “Charlie”, người Việt Cộng trung  bình, khôn ngoan hơn là cỗ máy giết người của Lầu Năm Góc.

Đại tá Harry Summers, người giảng dạy tại “War College” thân cận với Washington, một học viện dành cho cấp chỉ huy của quân đội Mỹ, tin là đã có thể nhớ lại: “Quân đội của chúng ta chưa từng bao giờ bị bại trận trên chiến trường.” Vị sĩ quan này phân tích trong quyển sách “On Strategy” của mình: “Trong tất cả các trận đánh, các đơn vị của Việt Cộng và Bắc Việt đều bị đẩy lùi với tổn thất nặng.” Nhưng cuối cùng thì mặc cho tất cả những điều đó: “Người chiến thắng” là những người bị đánh thua, những người bị đẩy bật lại đã tiến tới. “Nếu như tất cả họ đều biết cách tiến hành cuộc chiến như vậy là sai lầm thì tại sao họ lại không đứng dậy và tuyên bố rằng: tôi không tham gia nữa, không thể thắng cuộc chiến này được?” nghị sĩ Quốc Hội John McCain phê phán các chiến hữu Lầu Năm Góc, những người ngày nay chỉnh sửa các chiến bại của họ ở bàn giấy. Phi công máy bay chiến đấu McCain bị bắn rơi trên Việt Nam và đã bị bắt giam năm năm rưỡi.

Vì vậy mà ông không biết rằng cuộc chiến xa xôi đó cũng đã dẫm lên tâm trạng của những người dân thường ở quê nhà như thế nào – với bạo lực và kinh hoàng của truyền hình trực tiếp từ lò mổ; chỉ là con người chết ở đó, không phải thú vật, đó là những người đồng hương, không phải là người lạ trong các chương trình truyền hình về Việt Nam mỗi tối. Cả đó cũng là một bài học: khi quân đội của Reagan đổ bộ lên hòn đảo Grenada ở vùng Caribbean, phóng viên không được phép đi cùng – một điều mới trong lịch sử quân sự Mỹ.

Phi công hải quân John McCain, phải, với thành viên của phi đội (khoảng 1965). Hình: AP Photo
Phi công hải quân John McCain, phải, với thành viên của phi đội (khoảng 1965). Hình: AP Photo

Ngược lại, từ 1965 cho tới 1975, các công ty truyền hình Hoa Kỳ đã phát tròn 4000 tư liệu về Việt Nam – hình ảnh những người lính Mỹ không toàn thân, những ngôi làng bị bỏ bom, những cánh rừng rụng lá. Việt Nam thống trị trên các tít báo và những trang ảnh: túi nhựa trên các bãi chiến trường để mang xác chết về, quan tài của những người đã ngã xuống trong những chiếc máy bay vận tải, tang lễ trên Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Một từ ngữ Việt Nam rơi vào trong vốn từ vựng thông dụng Mỹ như một quả đạn pháo: “Body Count”, “đếm xác chết”.

Cứ với mỗi một thống kê liệt sĩ mới, sự chống đối ở quê hương lại tăng lên thêm. Năm 1964 còn có 43 phần trăm cho rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam là một hoạt động chinh đáng của nước Mỹ; năm 1975 cuối cùng chỉ còn có 20 phần trăm. Trong số 7,5 triệu người lính Mỹ phục vụ trong quân đội Mỹ trong thập niên Việt Nam, có 550.000 đào ngũ, nhiều hơn toàn bộ lính của quân đội Đức 55.000 người.

Để bảo vệ tổng thống, xe buýt thành phố được tập trung lại quanh Tòa Nhà Trắng thành một thành trì bằng ô tô. Hàng chục ngàng, hàng trăm ngàn người biểu tình phản đối tại các Love-in và Sit-in ở Washington. “Chiến tranh Việt Nam và phản chiến ít nhất thì cũng đã là những chất xúc tác cho các biến động và thay đổi của xã hội trong cuối những năm 60 và đầu những năm 70”, nhà xã hội học John Wheeler phán xét trong quyển sách “Touched With Fire” của ông.

Các quy tắc cũ bị sử dụng hết trong Chiến tranh Việt Nam, và có thể nói là cuộc chiến đã đi vào trong nước – “quen thuộc với bạo lực”, những nhà tâm lý xã hội học đã gọi những gì diễn ra tiếp theo là như vậy: sau vụ ám sát Martin Luther King, người da đen đấu tranh cho quyền công dân, các khu  nhà ổ chuột của Mỹ đã bốc cháy trong năm 1967. Không còn gì như xưa nữa.

Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.
Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.

Người xuất bản Theodore White cảm nhận sự giảm sút niềm tin vào các chính trị gia và chính phủ của họ như là “hệ quả tồi tệ nhất của xung đột Việt Nam”. Nước Mỹ, thường không mang tính chỉ trích cho tới thời Việt Nam, đã bước tới rìa của một lần suy sụp tâm thần. Thật không có gì để đáng ngạc nhiên – cuộc chiến cũng đến như là một cú sốc về văn hóa:

Gần ba triệu lính Mỹ, trung bình 19,2 tuổi, được cử sang Đông Nam Á, người da đen từ những khu ổ chuột, thanh niên từ những nông trại ở Iowa hay từ những nhà máy ô tô ở Detroit. Với một vài giờ máy bay, từ những quán gà nướng và rạp chiếu bóng drive-in trong môi trường quê hương, họ rơi vào trong một thế giới xa lạ. Rượu và những mũi kim ma túy đã giải phóng họ – tạm thời – khỏi nỗi lo sợ mìn, sợ lính bắn tỉa của Việt Cộng, sợ chuột, những con vật ăn mất khẩu phần trong hầm của họ.

Những người lính Mỹ này, theo cựu phóng viên “New York Times” Seymour Hersh, người đã phát hiện ra vụ thảm sát Mỹ Lai, “cuối cùng cũng là nạn nhân như những người mà họ có nhiệm vụ phải giết chết”. Khi họ trở về nhà từ những trận đánh, họ không nhận được một lời cảm ơn, không có bông giấy bay trên những cuộc diễu hành mừng chiến thắng như sau Đệ nhị Thế chiến. Người dân muốn quên đi cuộc Chiến tranh Việt Nam và trong lúc đó cũng quên đi các cựu chiến binh của họ. So với yêu cầu Mỹ, ở nước ngoài phải là một người anh hùng, thì họ đã thất bại.

Vì vậy mà các cựu chiến binh Việt Nam trước hết là tìm đến cộng đồng của những người cùng số phận, không giao thiệp với người khác. Họ đã liên kết lại trong các tổ chức như “Vietnam Veterans of America” hay “Cha mẹ của những đứa bé nhiểm chất độc màu da cam”. Không xa đài kỷ niệm Việt Nam ở Washington, sáu cựu chiến binh đã cắm một chiếc lều màu xanh nhạt từ Giáng Sinh 1982. Họ tự hiểu mình là “đội lính canh danh dự” để nhắc nhở tới hơn 4700 người lính mất tích.

Tên của họ tuy đã được khắc vào tảng đá hoa cương của đài kỷ niệm Việt Nam, nhưng chúng được đánh dấu chữ thập, một chữ thập của hy vọng. “Có thể”, người cựu chiến binh đang đứng canh tin như vậy, người cũng như các chiến hữu của ông tồn tại nhờ vào tiền quyên góp, “là có ai đó còn sống. Vâng, thật ra thì tôi chắc chắn là còn có người sống sót”, ông nói, giống như tự tạo can đảm cho chính mình.

Túp lều được bao quanh bởi nhiều vật kỷ niệm: giày lính cũ, áo chống đạn, mặt nạ phòng hơi độc, nón. Hai cái lồng bằng tre nhắc cho người ta nhớ rằng các phi công bị bắn rơi trên bầu trời Việt Nam đã bị kẻ địch giam giữ như thế nào. Trước quầy của các cựu chiến binh vẫn còn có lá cờ Nam Việt Nam – màu vàng với ba sọc đỏ. “Đó đã là đồng minh của chúng tôi”, người cựu chiến binh trung thành giải thích, “họ vẫn là đồng minh.” Nhưng như thế nào: viên tổng tham mưu trưởng cuối cùng của Việt Nam nhiều năm trời đã là trưởng bồi bàn trong một quán cá Hy Lạp ở Yorktown.

Tổng thống Reagan đặt vòng hoa tại quan tài của người chiến sĩ vô danh.
Tổng thống Reagan đặt vòng hoa tại quan tài của người chiến sĩ vô danh.

Người xét lại Ronald Reagan đã lôi các cựu chiến binh ra khỏi sự cô lập; trong tháng Năm năm ngoái, hài cốt không còn có thể xác định sanh tính được của một tử sĩ Việt Nam đã được chôn cất giữa các ngôi mộ của người lính vô danh từ Đệ nhị Thế chiến và Triều Tiên trong Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

Người tổng thống bước lại gần quan tài và tuyên bố với quốc gia, một người anh hùng Mỹ đã trở về nhà: “Anh hiện thân cho trái tim, tâm hồn, tinh thần của Mỹ.”

Nhưng chủ nghĩa anh hùng sáo mòn đó, cái mà người tổng thống muốn phủ lên cho cuộc chiến, sẽ không thể đứng vững đuộc trước tưởng nhớ lịch sử chính xác của những người lính đã sống sót qua Việt Nam, có thể lành lặn về thân xác, nhưng không lành lặn trong tâm hồn. Thượng nghị sĩ Kerry chẳng hạn, người đã từng chỉ huy các tàu tuần tra, nhớ lại lần trở về nước: “Lúc đó, tôi vừa mới ở trong rừng ra được một tuần và ngồi trong máy bay từ San Francisco tới  New York. Tôi thiếp ngủ và la hét bật tỉnh dậy. Có lẽ là một ác mộng. Những người hành khách khác tránh xa tôi ra.” Kerry vẫn còn cay đắng cho tới ngày hôm nay: “Đất nước này không hề quan tâm tới những người thanh niên trở về và cũng không quan tâm tới những gì họ đã trải qua. Thái độ là: tránh xa ra, đừng lây nhiễm Việt Nam cho chúng tôi.”

Thật sự là hàng trăm ngàn người (có những ước đoán y học đưa ra con số cho tới một triệu) đã mang bệnh – lâu dài: các cựu quân nhân mắc chứng “Post-traumatic Stress Disorder” (PTSD), chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý.

Các cựu chiến binh bị rồi loạn này có cảm giác sợ hãi và bị trầm cảm. Họ khó tập trung và chậm về tâm thần vận. Họ có cảm giác bị cô lập, vô dụng và vô giá trị, đôi lúc có cảm giác bị đe dọa. Có người không thể ngủ được nếu như không có vũ khí ở cạnh giường hay dưới gối. Thường họ không thể kiểm soát được những cơn giận dữ của họ.

Biểu tình chống chiến tranh ở Frankfurt, Đức, tháng Hai 1967
Biểu tình chống chiến tranh ở Frankfurt, Đức, tháng Hai 1967

Những người lính trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến cũng bị sốc đạn pháo, bị căng thẳng lúc chiến đấu và bị những căn bệnh về thần kinh tâmm lý. Nhưng Việt Nam thì khác. Ở đó, các bệnh stress của những người lính Mỹ không tăng lên với cường độ của các trận đánh (như trong những cuộc chiến trước đây). Có những người lính mà mãi nhiều tháng hay nhiều năm sau khi giải ngũ, hội chứng stress mới bộc lộ ở họ, giống như được khởi động bởi một kíp nổ chậm.

Một giải thích của giới y học: Thời gian phục vụ ở Việt Nam của lính Mỹ được giới hạn mỗi lần mười hai tháng. Sau thời gian huấn luyện cơ bản, họ không – như trong Đệ nhị Thế chiến – ra chiến trường như một đơn vị mà tới một mình, như là một nhóm người được gom lại một cách ngẫu nhiên để bổ sung cho lực lượng này hay lực lượng khác, những người chỉ thật sự quen nhau trong các trận đánh.

Nhiều người lính, trong Đệ nhị Thế chiến có khi cùng nhau phục vụ ngoài chiến trường nhiều năm trời, ngược lại cùng sống với đơn vị của họ hàng tuần hay hàng tháng trên những con tàu chở họ tới vùng hành quân hay trở về nhà. Trong thời gian của những chuyến đi kéo dài đó, theo một nghiên cứu, “những người đàn ông này mang lại cho nhau sự giúp đỡ và che chở cần thiết về tình cảm, để vượt qua được những giai đoạn chấn thương tâm thần mà họ đã cùng nhau trải qua.”

Nhưng các chiến binh Việt Nam trở về New York, Chicago hay Miami từ đồng ruộng trên chiếc máy bay phản lực – một mình với những tưởng nhớ, những cơn ác mộng, những cảm giác tội lỗi, có thể còn nghiện ma túy, nghiện rượu, chắc chắn là thất nghiệp.

“Chính phủ đã huấn luyện một đội ngũ chó dữ thật tốt”, nhà tâm lý học Sheldon Zigelbaum ở Boston phân tích. “Nhưng họ không thể cứ đơn giản là thả chúng ra mà không lập trình lại trước đó.” Họ đã có thể.

Larry Webster, được tặng thưởng vì “dũng cảm trước địch quân” ở Việt Nam, đang chờ lần tử hình của mình trong nhà tù San Quentin. Rượu, ma túy, trộm cắp, không có nơi cư trú nhất định, không có việc làm, cuộc sống của anh đã phát triển như vậy sau khi đi lính ở Việt Nam. Cuối cùng là đâm dao tại một lần nhậu nhẹt. Một người chết, ra tòa vì cướp của giết người, bản án. “Nam đã mang tôi vào đây”, Webster nói, “lỗi tại Nam.”

Cựu phi công máy bay trực thăng Robert Mason, mà tưởng nhớ về Việt Nam “Chickenhawk” của ông đã được nhà xuất bản Viking Press ở New York bán hơn 350.000 ấn bản (“Khi chúng tôi có thời gian và yên tịnh, chúng tôi chuyên chở tử sĩ. Họ có ưu tiên thấp, vì họ không còn phải vội nữa”), đã bị tuyên án năm năm tù vì buôn lậu cần sa.

Một cựu chiến binh tại tượng đài kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam
Một cựu chiến binh tại tượng đài kỷ niệm Chiến tranh Việt Nam

Hàng ngàn cựu chiến binh phạm pháp như Mason không thể vứt bỏ được ký ức của họ, cũng giống như những người mà bệnh tật của họ không còn có thể chữa lành được nữa: 42.771 cựu chiến binh bị rối loạn thị giác từ khi đi lính ở Việt Nam. 2960 người lính đã mù hoàn toàn. 4662 chiến binh Việt Nam bị què cụt đôi, 20956 mất một tay một chân. 3266 chiến bịnh sống lây lất từ hơn một thập niên nay trong các bệnh viện tâm thần hay bệnh biện thông thường. Họ đã những trường hợp không còn có thể tự lực được nữa, cần phải được chăm sóc 24 giờ liền. Hai chục cựu quân nhân này tồn tại mà không có tay, không có chân, những trường hợp bị cắt cụt tói cực độ.

Hầu như ngày nào báo chí cũng tường thuật về những cuộc thương lượng giữa các cựu chiến binh Việt Nam và luật sư của nhiều tập đoàn hóa học đã sản xuất hóa chất “Agent Orange”, chất mà quân đội Mỹ đã phun trên 48 triệu lít để làm rụng lá rừng Việt Nam.

“Agent Orange” được cho là gây ung thư, hóa chất này phá hủy thần kinh và gan. Không chỉ lính Mỹ hoạt động trong những vùng bị phun thuốc mà cả con cái của họ ngày nay cũng bị ảnh hưởng. Hàng trăm người bị tật nguyền từ lúc mới sinh ra, một thập niên sau lần phục vụ ở Việt Nam của cha họ.

Các tập đoàn hóa học, chối bỏ mọi tội lỗi, đưa ra 190 triệu dollar cho các cựu chiến binh. Thân nhân của 3000 cựu chiến binh đã qua đời và 7000 người với nhnững tổn thương vĩnh viễn, ở mức độ cao nhận được tối đa là 25.000 dollar tiền mặt mỗi người. Số tiền còn lại có lẽ sẽ được đưa vào một quỹ từ thiện dành cho các bệnh nhân của “Agent Orange”.

Một trong số các bệnh nhân: Elmo Zumwalt III. Ông mắc bệnh ung thư bạch huyết tuyến. mặc dầu cả con trai là Russell cũng bị tật nguyền ngay từ lúc mới sinh, cựu chiến binh Zumwalt không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Cha ông, Elmo Zumwalt II “thời đó” là đô đốc. Ông ấy đã ủng hộ việc sử dụng hoát chất này trong vùng mà Zumwalt III đã phục vụ ở Việt Nam.

Người cựu đô đốc tin rằng: “Ngay cả khi có thể chứng minh được một mối liên quan giữa ‘Agent Orange’ và các căn bệnh đó thì tôi phải đi tới kết luận, rằng nhiều người đã thoát được “Agent Orange”, có thể là cả con trai tôi.” Thoát được, nhưng không được dung tha cho.

Nhưng có lẽ cũng cần tới lần chuyển sang tâm trạng anh hùng hóa này, lòng nhiệt tình muộn về Việt Nam của Ronald Reagan, để mà cả mặt tối của những trải nghiệm Việt Nam cũng được đưa ra:

Từ nhiều tuần nay, “Tracers”, đạn lửa, một vở kịch do cựu chiến binh Việt Nam viết, cựu lính Mỹ đóng, trong nhà hát “Susan Stein Shiva” ở New York, đã bán hết vé. Được ghi nhận lại trên sân khấu là sự biến đổi mà những người dân thường bị đẩy vào bộ quân phục đã trải qua ở Việt Nam.

Trong một cảnh diễn, nhiều lính Mỹ muốn thuyết phục một chiến hữu hút một “joint”. Người này chống đỡ: “Tôi chưa từng hút cần sa bao giờ.” Trả lời: “Trước Việt Nam thì mày cũng chưa từng bắn chết ai bao giờ.”

Một cảnh trong kịch "Tracers"
Một cảnh trong kịch “Tracers”

Mãi cho tới những vở kịch như “Tracers”, phim như “Coming Home” mà trong đó sự khốn cùng của các phế binh trở về nhà được ghi lại, hay “Deer Hunter”, mà trong đó một người chết, người thứ hai bị tàn phế trong số ba người bạn được cử đi Việt Nam, thì thảm họa hậu chiến tranh thật mới được mang trở vào nhận thức.

“Dần dần và với khoảng cách đủ xa”, David Fuhrmann, lãnh đạo “khóa học Việt Nam” ở “Johns Hopkins University School of Advanced International Studies” tại Washington, tin như vậy, thì rồi “một đánh giá lịch sử chiến tranh mang ít xúc cảm hơn, khách quan hơn” cũng sẽ có thể.

Trước đây hai năm, chỉ có tròn hai chục trong số hàng ngàn đại học và trường college Mỹ mở khóa học về đề tài Việt Nam. Hiện nay thì là nhiều trăm. Như ở University of California tại Santa Barbara, 900 trong số 15.000 sinh viên trong học kỳ này đang theo học khóa “Việt Nam và tôn giáo Mỹ – ảnh hưởng của đất nước này lên cuộc sống xã hội, văn hóa và tín ngưỡng Mỹ”.

Một vài giáo sư làm việc trong giờ giảng dạy với loạt phim “Vietnam: A Television History” gồm 13 tập do “Public Broadcast” phát sóng năm 1983. Những người khác để cho người Việt tỵ nạn tường thuật về cuộc chiến hay để cho sĩ quan và những người phản chiến tranh luận về thảm kịch Việt Nam.

Thế nhưng phần lớn các học sinh sinh ra đời trong thập niên Chiến tranh Việt Nam lại trả lời những câu hỏi về Chiến tranh Việt Nam một cách hết sức ngây thơ: Mỹ Lai? “Chưa từng nghe.” Trận tấn công Tết [Mậu Thân]? “Chống ai?” Hồ Chí Minh? “Món cơm ăn à?” Hiểu biết của họ bị giới hạn ở những điều hết sức tầm thường: “Ở Việt Nam, chúng ta đã chiến đấu chống lại cộng sản. Người cộng sản là cái xấu. Tức cuộc chiến là đúng lý.”

Với một mức hiểu biết như thế, sử gia Schlesinger lo ngại, “thế giới quan của Ronald Reagan tất nhiên sẽ ập vào nhiều người Mỹ trẻ tuổi”. Trông có vẻ gần như thế rồi: Trong Chiến tranh Việt Nam, hầu như không một sĩ quan tuyển mộ nào của quân đội có thể bước vào – mà không bị nguy hiểm – khuôn viên của một trường đại học trong bộ quân phục. Điều đó đã thay đổi. Trong giới trẻ, quân đội lại được ưa chuộng trở lại.

Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Westminster, California. Hình: Wikipedia
Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam ở Westminster, California. Hình: Wikipedia

Trước đây một thập niên, lính mới của học viện quân đội West Point trong bang New York hầu như không dám đi chơi tới vùng đất đẹp như tranh vẽ của Hudson River. Năm 1968, những người được tuyển mộ không đủ cho tất cả các lớp học nữa. Ngày nay, West Point ghi nhận hàng năm 14000 người xin học. Trong số đó, 1400 người được nhận.

Tuy vậy, một quan điểm West Point thống nhất về lần tham chiến ở Đông Nam Á không tồn tại trong ngôi trường danh tiếng này. Đại úy William Betson, một trong số những người thầy “Việt Nam”: “có 55 sĩ quan dạy về lịch sử ở đây, và người nào cũng có ý kiến riêng của người đó.”

Những người giảng dạy, đa số là đại úy và thiếu tá, đã không phục vụ ở Việt Nam. Chỉ huy của họ, ví dụ như đại tá John Yeagley, người đã ở Việt Nam một năm, tin chắc rằng: “Những người mới được tuyển lựa quan tâm tới Đệ nhị Thế chiến nhiều hơn là tới Việt Nam.”

Trong khi đó thì thế hệ trẻ của quân đội có đủ mọi lý do để rút ra những bài học từ thảm bại Việt Nam. Vì thêm một lần nữa, nhiều trăm cố vấn Mỹ lại đứng trong rừng rậm. Thay vì Việt Nam thì lần này là Trung Mỹ.

Thêm một lần nữa, nhân viên CIA lại tiến lên với dollar và vũ khí, để theo mệnh lệnh của tổng thống mà”giúp đỡ” một dân tộc xa lạ, những người theo quan điểm của tổng thống là “bị áp đặt một chế độ độc tài cộng sản bằng bạo lực, lừa dối và gian lận”.

Thuộc phần của CIA ở Việt Nam là chiến dịch “Phượng Hoàng” một chiến dịch giết người với hơn 10000 nạn nhân. Nhưng có lẽ chính hồi ức về những trang đen tốt nhất này của Chiến tranh Việt Nam đã khiến cho 70 phần trăm người Mỹ từ chối tham gia vào một cố gắng đảo chính ở Nicaragua.

Từ nhiều tuần nay, Quốc Hội đã chống lại việc tiếp tục giúp đỡ tài chính cho “Contras”, những người được chính phủ Reagan giao phó cho nhiệm vụ đại diện cho lính Mỹ chiến đấu chống lại chính quyền Managua. Khoảng 20 trong số 435 nghị sĩ là cựu chiến binh Việt Nam, 3 trong số 100 thượng nghị Sĩ đã chiến đấu ở Đông Nam Á. Thượng nghị sĩ Kerry: “Quốc Hội đã trở nên hết sức nhạy cảm đối với những cuộc phiêu lưu tiếp theo sau đó.”

“Chúng tôi, như là quốc gia, đã học được một điều gì đó ở Việt Nam”, tác giả Seymour Hersh nói: “Chúng tôi không còn nhanh chóng đặt ngón tay vào cò súng nữa. Dường như chúng tôi đã nhận ra rằng không thể chiến thắng được chiến tranh chỉ với xe tăng và pháo binh.”

Cuộc chiến ở Việt Nam đã thất bại ngay từ đầu. Đó là điều mà cho tới ngày nay người ta vẫn còn chưa chấp nhận. Nước Mỹ vẫn còn đi tìm ý nghĩa: Có điều gì đó đã không thành, có điều gì đó không đúng, có điều gì đó còn thiếu cho tới ngày hôm nay, để trả lời mãi mãi cho câu hỏi đó từ ngọn đồi thịt băm: “Việt Nam – có đáng giá như thế không?”

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 16/1985:

http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13512807.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Bài học của ngọn đồi Thịt Băm

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s