Dư luận, truyền thông và phong trào phản chiến

Thời đó cũng như ngày nay, những người tán thành nước Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam vẫn quả quyết khẳng định rằng Hoa Kỳ không thua cuộc chiến tranh ở trong rừng rậm của Đông Nam Á, mà thua ở trận tuyến quê nhà – ở Mỹ. Họ đưa ra hai tổ chức làm kẻ thù chính: giới truyền thông và các trường đại học. Những người ủng hộ huyền thoại Mỹ về con dao đâm sau lưng này phê phán rằng truyền hình đã trình bày một hình ảnh méo mó về chiến sự ở Việt nam. Dần dần, nó đã đào rỗng ruột sự sẵn sàng người dân, ủng hộ cho quân đội của họ về mặt tinh thần chiến đấu, chính trị và kinh tế. Về phần mình, các sinh viên thì lại đầu độc bầu không khí đối nội và đã khiến cho chính phủ ngày càng không có khả năng hoạt động nhiều hơn. Có những nhà phê bình nào đó thậm chí còn đi xa hơn nữa: họ lên án rằng phong trào phản chiến đã kéo dài cuộc chiến và phải chịu trách nhiệm cho cái chết vô tội của vô số quân nhân. Lập luận này cay độc và cũng phi lý như lời khẳng định của các tướng lãnh Đức sau Đệ nhất Thế chiến, nhân dân Đức đã đâm dao vào sau lưng quân đội bất bại và gây ra chiến bại.

Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.
Biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam tại New York City ngày 27 tháng Tư 1968. Hình: AP Photo.

Cho tới đợt tấn công vào dịp Tết của năm 1968, một phần lớn báo giới cũng như phát thanh và truyền hình nói chung là ủng hộ cuộc chiến. Các tiếng nói phê phán cất lên nhiều lắm là từ một vài truyền thông in ấn, như New York Times, tờ Globe ở Boston hay Newsweek. Như New York Times, tờ báo dẫn đầu của nước Mỹ phe tự do, mãi sau hai năm chiến tranh trên mặt đất mới đặt ra câu hỏi về sự tham chiến của Mỹ ở Việt Nam: “Thật sự thì ngày càng đáng nghi hơn, rằng nói chung là có một người nào đó ở Washington biết đất nước đang nổ lực đạt tới những gì ở Việt Nam”.[1] Đứng nấp ở phía sau lời phê phán này là sự lo ngại và chán nản, nhưng nó không phải là lời kêu gọi rút quân.

Cuộc Chiến tranh Việt Nam là xung đột quân sự đầu tiên mà người Mỹ có thể theo dõi ở nhà trên màn hình. Nhưng qua cách thiết kế chương trình và lựa chọn hình ảnh mà trong những năm đầu tiên của cuộc chiến Mỹ, truyền hình đã không góp phần thúc đẩy bầu không khí phản chiến. Còn ngược lại: nó ủng hộ cho chính sách chiến tranh của chính phủ. Cả một thời gian dài, truyền hình phác họa những người chống chiến tranh như là những kẻ lẫn trốn lười biếng, đâm sau lưng những người lính, và như là những kẻ ăn không ngồi rồi nguy hiểm, để cho tuyên truyền cộng sản ru ngủ. Ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, chương trình tin tức nửa giờ vào buổi tối, bị ngắt đoạn bởi quảng cáo, không cho thấy những hình ảnh của các trận đánh ác liệt, của những người chết hay làng mạc bị phá hủy. Họ trình bày hình ảnh của người phát ngôn cho Lầu Năm Góc và các tướng lãnh, những người đưa ra các tiên đoán lạc quan, họ chiếu cảnh trực thăng và những người lính can đảm vừa được thả xuống, chạy vào nơi ẩn nấp. Để làm nhạc nền cho những ấn tượng thị giác đó, truyền hình phát đi tiếng rền vang hứa hẹn chiến thắng của pháo binh và của những chiếc máy bay cường kích. Tất nhiên là cách thức tường thuật kéo dài nhiều năm trời này đã góp phần đánh thức sự hoài nghi về ý nghĩa của cuộc chiến ở nhiều người Mỹ. Nhưng chủ yếu thì truyền hình đã chuyển tải ấn tượng của một cuộc chiến tranh sạch, đang có tiến bộ.

Sinh viên và các trường đại học có ảnh hưởng nào lên dư luận Mỹ? Tiềm năng của giới sinh viện thật sự là rất to lớn. Cuối cùng thì những năm giữa thập niên 60 là thời điểm mà con cái của thế hệ hậu chiến có nhiều con (baby boomers) bắt đầu chen nhau vào các trường đại học. Con số người Mỹ từ 18 tới 24 tuổi tăng thêm 50% từ 1960 tới 1970, lên đến 24,7 triệu. Một phần ba lứa tuổi này vào cuối thập niên đó học tại một trường đại học hay college. Sự phát triển nhân khẩu học này và sự bùng nổ của hệ thống đào tạo chịu trách nhiệm cho những khẩu hiệu như “xung đột thế hệ” và “văn hóa tuổi trẻ”. Cả hai yếu tố đó cùng nhau tác động đến một phát triển thứ ba mà đã bắt đầu lộ dạng trong những năm năm mươi và bây giờ trở nên rộng khắp: thay đổi trong tinh thần và một xác định mới cho hệ thống giá trị.

Những năm đầu thập niên 60 là thời gian của các phong trào giải phóng rộng lớn. Dựa trên sự phản đối của các tồ chức người Mỹ gốc Phi như “Hội nghị Lãnh đạo Cơ đốc miền Nam” (Southern Christian Leadership Conference – SCLC) do Martin Luther King thành lập, Ủy ban Điều phối Phi Bạo lực Sinh viên (Student Non-Violent Coordinating Committee – SNCC) đã tạo sự quan tâm tới việc phân biệt chủng tộc và kỳ thị ở miền nam qua những cuộc biểu tình ngồi và phong tỏa hòa hoãn. Trong năm thành lập SNCC, 1960, các “Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ” (Students for a Democratic Society – SDS) cũng được tổ chức. Cùng với Phong trào Dân Quyền (Civil Rights Movement), họ đấu tranh cho một xã hội công bằng không có kỳ thị chủng tộc và khác biệt kinh tế quá lớn. Chịu ảnh hưởng của các tư tưởng tân Mác-xít – đặc biệt The Power Elite của C. Wright Mills (1956) và The One-Dimensional Man của Herbert Marcuse (1964) – họ cũng hướng nhiều hơn tới các vấn đề trong Thế giới Thứ Ba đang thành hình. Chẳng lâu sau, họ lên án chính sách đối ngoại của Mỹ là “đế quốc” và trật tự xã hội là “tư bản”. Khác với “Cánh Trái Cũ” (Old Left) của thời gian giữa hai cuộc chiến tranh, họ không còn nhìn giai cấp công nhân là lực lượng thúc đẩy những thay đổi xã hội nữa. “Cánh Trái Mới” (New Left) tự hiểu họ, giới trẻ và giới sinh viên phê phán, như là động cơ của những đổi mới xã hội.

Nhiều tác phẩm mang tính định hướng đã có ảnh hưởng lâu dài tới tư tưởng của những năm sáu mươi. Ví dụ như Silent Spring của Rachel Carson nói về thuốc trừ sâu và ô nhiễm môi trường. Cũng trong năm 1962, The Other America của Michael Harrington đã khẩn thiết hướng sự chú ý đến cái nghèo rộng khắp ở nông thôn. Một năm sau đó, trong The Fire Next Time, nhà văn người Mỹ gốc Phi James Baldwin cảnh báo hậu quả của cái nghèo và kỳ thị chủng tộc, và tiên đoán những cuộc nổi dậy đầy bạo lực vì sắc tộc. Betty Friedan với quyển The Feminine Mystique đứng vào hàng sách bán chạy nhất trong năm 1963 đã đẩy phong trào phụ nữ vào trong ánh sáng sân khấu của dư luận. Trong cùng năm đó, Martin Luther King đã tổ chức ở Birmingham, Alabama, một cuộc biểu tình lớn chống kỳ thị sắc tộc. Tháng Tám ở Washington, trước 250.000 người biểu tình, ông đã đọc bài diễn văn nổi tiếng của ông “Tôi có một giấc mơ” (“I have a dream”).

Những cái mới và xa lạ đứng vào vị trí của thời kỳ yên ổn, hướng tới tiêu thụ, của những năm năm mươi. Trong tháng Giêng 1964, Dr. Strangelove của Stanley Kubrick đi vào rạp chiếu phim. Hàng triệu người đã xem con người quân phiệt Jack D. Ripper (do Sterling Hayden đóng), người muốn tiệt trừ “mưu đồ của cộng sản quốc tế”, và mang thế giới đến rìa của một thảm họa hạt nhân. Không phim nào khác mà lại lên án những thái quá của cuộc Chiến tranh Lạnh mạnh mẽ như Dr. Stranglove. Chỉ vài tuần sau đó, The Beatles chinh phục được nước Mỹ. Lần biểu diễn của họ trong “Ed Sullivan Show” vào ngày 11 tháng Hai 1964 đã được 67 triệu người Mỹ theo dõi qua truyền hình, có thể là một kỷ lục. Ngay một năm trước đó, nhạc sĩ Bob Dylan đã hát ca ngợi bầu không khí khởi hành của giới trẻ và đã sáng tạo ra bài “quốc ca” cho các phong trào phản đối trong The Times They Are A-Changing: “Comes mothers and fathers / Throughout the land / And don’t criticize / What you can’t understand / Your sons and daughters / Are beyond your command / There’s a battle outside / And it is ragin’ / It’ll soon shake your windows / And rattle your walls / For the times they are a-changin'”.[2]

Biểu tình chống Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Tây Berlin, tháng Năm 1972. Trên một của những biểu ngữ là "Vì công cuộc xây dựng Đệ tứ Quốc tế".
Biểu tình chống Mỹ tham chiến ở Việt Nam. Tây Berlin, tháng Năm 1972. Trên một của những biểu ngữ là “Vì công cuộc xây dựng Đệ tứ Quốc tế”.

Sinh ra trong một thế giới mang lại thịnh vượng thật nhiều cho giai cấp trung lưu ngày một rộng lớn, nhiều người trẻ tuổi đã bắt đầu nhìn cuộc Chiến Tranh Lạnh và xung đột tư tưởng hệ với Liên bang Xô viết bằng con mắt khác với cha mẹ của họ. Những người này đã trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế những năm ba mươi, lần trỗi dậy và suy tàn của Quốc Xã, Đệ nhị Thế chiến và sự mở rộng quyền lực của Chủ nghĩa Cộng sản Xô viết. Đối với thế hệ cha mẹ, “các bài học từ München” vẫn còn có giá trị của nó. Các sinh viên trẻ tuổi thì ngược lại xem câu hỏi về chiến tranh và hòa bình như là một vấn đề đạo đức. Họ kinh tởm một hệ thống mà đã khoan dung tình trạng phân biệt chủng tộc ở miền Nam của Hoa Kỳ lâu dài cho tới như vậy và cuối cùng còn lan ra tới Đông Nam Á. Theo quan điểm của họ, cuộc chiến ở Việt Nam hoàn toàn không có liên quan gì đến việc bảo vệ Phương Tây chống lại chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Đối với họ, đó là một cuộc nội chiến mà Hoa Kỳ đã can thiệp vào mà thật ra là không có quyền.

Tỷ lệ thuận với việc gởi sang ngày càng nhiều quân lính, phong trào phản chiến đã phát triển thành một yếu tố đặt dấu ấn lên cuộc thảo luận trong công chúng một cách sâu đậm, không thua gì chính cuộc chiến ở Việt Nam. Đó chính là phong trào phản chiến, cái mà qua những hoạt động của nó đã khiến cho Việt Nam trở thành đối tượng cho một cuộc xung đột đối nội mà cường độ của nó cũng đã đạt tới cường độ của cuộc tranh cãi gay gắt về nô lệ và giải phóng người Mỹ gốc Phi một trăm năm trước đó. Về cơ bản thì là hiểu lầm khi nói về một phong trào phản chiến. Phe đối lập với cuộc chiến có gốc rễ, chiến thuật và hình thức diễn đạt rất đa dạng. Nó là một hiện tượng văn háo và chính trị, một xu hướng xã hội, hợp nhất nhiều phoan trào.

Ngay từ những năm năm mươi đã có một phong trào hòa bình nhỏ phát triển. Những tổ chức hòa bình và quốc tế chủ nghĩa như “Ủy ban Quốc gia vì một Chính sách Hạt nhân Lành mạnh” (National Committee for a Sane Nuclear Policy – SANE) hay “Phụ nữ Đình công vì Hòa bình” (Women Strike for Peace) đấu tranh cho một đường lối xuống thang và chống thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Vào lúc cuộc xung đột ở Việt Nam ngày một đi vào nhận thức của dư luận mạnh hơn sau khi Kennedy bị ám sát chết, SDS cũng bắt đầu tích cực ủng hộ hòa bình và chống chiến tranh. Xuất phát từ Berkeley, từ mùa hè 1964, tổ chức này đã tổ chức những cái gọi là “teach-ins” và “sit-ins” tại nhiều trường đại học, để khiến cho thế hệ trẻ chú ý đến cuộc chiến ở Việt Nam. Cả cuộc biểu tình phản chiến lớn đầu tiên ở Washington trong tháng Tư 1965, có 25.000 người tham gia, cũng xuất phát từ một sáng kiến của SDS. Những người theo thuyết hòa bình cực đoan và những người không chịu nhập ngũ cũng có tư tưởng hệ tương tự như SDS. Họ không nhìn thấy sự khác biệt về đạo đức nào giữa hai nhà nước quyền lực Mỹ và Xô viết. Theo quan điểm của họ, cả hai siêu cường quốc đều lợi dụng Thế giới thứ Ba cho lợi ích của họ. Họ yêu cầu rút quân ra khỏi Việt Nam hay lập tức và vô điều kiện, và yêu cầu một xã hội mới công bằng và phi bạo lực. Những người dẫn đầu nổi tiếng như linh mục Công giáo Philip và Daniel Berrigan thuyết giáo yêu cầu bất tuân dân sự và kêu gọi đốt giấy gọi nhập ngũ. Vào đầu cuộc chiến trên mặt đất, những vụ đốt cháy như vậy hầu như không có, nhưng 1967 đã có vài trăm người làm theo lời kêu gọi đó và phải chịu phạt tiền hay phạt tù. Hàng trăm người khước từ không nhập ngũ còn quay lưng lại với đất nước của họ và lánh sang Canada hay Thụy Điển. Năm 1966, người theo chủ nghĩa hòa bình cực đoan A. J. Muste thành lập một liên minh rộng lớn gồm những nhóm phản chiến và những nhóm hoạt động dân sự. Những lời kêu gọi biểu tình đã mang gần 400.000 người xuống đường phố trong tháng Tư 1967 ở New York. Cho tới lúc đó, nó là cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử của thành phố. Với những hoạt động ngoạn mục giống như vậy, nhóm nhỏ của những người theo chủ nghĩa hòa bình cực đoan đã luôn thành công trong việc gây ra tiếng vang trong giới truyền thông trên khắp nước.

Những nhóm khác cũng tham gia với cường độ ngày một tăng vào phong trào phản chiến. Phong trào giải phóng phụ nữ xem sự tham chiến của Mỹ như là một biểu hiện của chính sách chiến tranh nam giới – xô vanh. Đại diện của nhiều tiểu văn hóa và phản văn hóa (counterculture) hiểu cuộc Chiến tranh Việt Nam như là hậu quả của một “hệ thống” đã phá sản về văn hóa và xã hội. Đối với phần lớn những người trưởng thành trẻ tuổi xuất phát từ giới trung lưu và có học, cuộc cách mạng văn hóa này không phải chỉ vì cuộc Chiến tranh Việt Nam: họ chống lại những cấu trúc quyền lực đang tồn tại, chống lại cuộc hợp lý hóa sản xuất đang diễn ra và khoa học hóa sự tồn tại của con người, chống quan liêu và quân đội, chống “văn hóa tiêu thụ” và áp lực thành tích. Sự chống đối của họ có nhiều hình thức thể hiện mà chỉ một phần nhỏ là có liên quan tới cuộc chiến: lễ hội âm nhạc, dùng các loại ma túy, văn hóa hippie, “tình yêu tự do”, hướng sang các tôn giáo và những sự sùng bái khác v.v.

Từ cuối 1965, nhiều người Mỹ gốc Phi cũng chống lại cuộc Chiến tranh Việt Nam. Những tổ chức như SNCC lập luận, rằng nước Mỹ không buộc phải tìm kiếm gì ở một đất nước nghèo và kém phát triển của Thế giới thứ Ba. Người da trắng lại sắp sửa dùng bạo lực để đàn áp ý muốn giải phóng của những người có màu da khác. Ngoài ra, cuộc chiến cũng làm sao lãng khỏi những nhiệm vụ thật sự: cuộc đấu tranh chống cái nghèo và đàn áp tại quê hương. Cả Martin Luther King, người lãnh tụ của phong trào dân quyền có nhiều ảnh hưởng trong những năm đó, cũng đã phản đối việc tham chiến của Mỹ ở Việt Nam ngay từ sớm. Một thời gian dài, ông hy vọng Tổng thống Johnson sẽ dẫn đến hòa bình qua đàm phán. Nhưng rồi ngày càng nhiều người lính được cử sang Việt Nam và những lời lên án vang to, rằng đặc biệt có nhiều người lính Mỹ gốc Phi là nạn nhân của cuộc chiến, thì ông cũng ủng hộ việc Hoa Kỳ rút quân. Khi nhà nhận Giải Nobel Hòa bình này dẫn đầu một cuộc “đi bộ về Washington” trong tháng Mười 1967, và yêu cầu chấm dứt chiến tranh trước 100.000 người biểu tình, thì nhiều người trên khắp thế giới nhìn ông như là một nhân vật đứng đầu phong trào phản chiến. Với uy quyền về mặt đạo đức của mình, King đã giúp cho phong trào được hoan nghênh ở một mức chưa từng có.

Dân Hippie ở gần Lễ hội Woodstock, tháng Tám 1969
Dân Hippie ở gần Lễ hội Woodstock, tháng Tám 1969

Bên cạnh nhiều phần đáng kể của giới sinh viên, phong trào phụ nữ và phong trào dân quyền, người có nhiều ảnh hưởng từ các “cơ sở” cũng bước ra chống chiến tranh. Nhà báo và là người dẫn đầu giới tinh hoa theo phái tự do ở bờ biển Đông, Walter Lippmann, kêu gọi đàm phán hòa bình trong các bài bình luận trên báo New York Times. Thượng nghị sĩ J. William Fullbright, người mà trong tháng Tám năm 1964 đã yêu cầu Quốc Hội thông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc bộ”, chẳng bao lâu sau đó đã cảm thấy bị Johnson lừa dối và phản bội. Là chủ tịch Ủy ban Đối ngoại trong Thượng Viện, trong năm 1966 ông đã tiến hành nhiều cuộc điều trần được truyền hình phát sóng đi khắp nước. Ông mời George F. Kennan, người cha tinh thần của “Chiến lược Ngăn chặn” ra trước ủy ban, để cho xác nhận rằng Việt Nam không có tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ. Fulbrigth mổ xẻ không thương tiếc các lập luận của chính phủ và lên án họ đã tiếp nhận di sản của thực dân và đế quốc. Hoạt động của Fulbright lên đến đỉnh cao trong lời cảnh báo gởi tới đất nước ông, hãy từ bỏ “sự ngạo mạn của quyền lực”.[3] Lippmann, Fulbright và Kennan chắc chắn không phải là những người theo chủ nghĩa hòa bình. Họ tự hiểu họ là những nhà đối ngoại thực tế. Là những người như vậy, họ cho rằng lập luận của Johnson, tính đáng tin cậy trên khắp thế giới của Hoa Kỳ đang lâm nguy, là điều vô lý. Theo họ, chỉ có châu Âu và Nhật Bản là mang tầm quan trọng cơ bản cho nền an ninh quốc gia. Vì vậy mà họ ủng hộ một phiên bản mới của Hội nghị Genève và trung lập hóa Đông Dương.

Cuối cùng, sau 1965, một tinh thần phản chiến đáng kể đã phát triển trong người dân. Nó lớn trên theo tỷ lệ nghịch với dự kiến chung được ấp ủ vào lúc ban đầu, cuộc chiến sẽ sớm kết thúc. Tinh thần phản chiến này không được thố lộ trong những bài diễn văn và hành động công khai, trong các hoạt động hay những cuộc biểu tình, mà là trong những cuộc thăm dò ý kiến. Lúc nào cũng có khoảng một phần ba người Mỹ phản đối cuộc chiến, và còn có nhiều người ủng hộ đàm phán hòa bình nhiều hơn nữa. Qua đó, họ chia sẻ yêu cầu cơ bản của phong trào phản chiến. Trong những cuộc thăm dò ý kiến của tháng Mười 1967, chỉ còn có 58% tất cả người Mỹ là ủng hộ cuộc chiến. Tuy vậy, trong tháng Mười Một vẫn còn có 55% mong muốn chính phủ có đường lối cứng rắn hơn. Quan điểm này thể hiện sự thất vọng về cách tiến hành chiến tranh của Johnson, và nó bám sâu vào trong nhận thức của dư luận. Tinh thần phản chiến, mong muốn có những cuộc đàm phán hào bình và yêu cầu leo thang cho thấy rõ một điều: một đa số khước từ đường lối của Johnson. Trong tháng Mười 1967, chỉ còn 39% người dân là còn tin tưởng vào con đường trung dung “đúng chính xác” của ông.

Trong khi phong trào phản chiến về cơ bản được tiến hành bởi sinh viên và nhóm tinh hoa đang thăng tiếng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, tinh thần phản chiến im lặng lan truyền nhiều hơn trong số những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc chiến. Nó tương đối mạnh nhất không phải là ở trong giới trung lưu, mà là ở tầng lớp dưới, trong số công nhân và người nghèo. Ở đó, phụ nữ và người Mỹ gốc Phi phản đối cuộc chiến nhiều hơn mức trung bình. Lý do có thể thấy rõ, vì cuộc chiến ở Việt Nam phần lớn được tiến hành bởi những người thuộc tầng lớp dưới. Cựu chiến binh Steve Harper từ Akton, Ohio, nhớ lại: “Các nhà phê phán hành hạ chúng tôi, chỉ vì chúng tôi phải chiến đấu cho cuộc chiến này. Những người con trai của họ ở đâu? Ở tại những trường đại học đắt giá? Thế nào đi chăng nữa thì cũng không ở trong trung đội của tôi. Người ở chỗ chúng tôi là công nhân và những người như vậy. Nếu cuộc chiến quan trọng tới như vậy, thì tại sao các lãnh đạo của chúng ta không gởi con trai của tất cả mọi người đi tới đó, tại sao chỉ chúng tôi thôi?”[4] Vì vậy mà chỉ có một điều mà những người như Harper còn chống lại nhiều hơn là chính cuộc chiến: phong trào phản chiến. Quan điểm này giải thích tại sao cho tới 1968, phong trào không bao giờ có thể có nhiều hơn là ba tới bốn triệu thành viên tích cực.

Phong trào phản chiến và tinh thần phản chiến có ảnh hưởng đáng kể đến đường lối ở Washington. Các sáng kiến hòa bình nửa vời của chính phủ luôn diễn ra với cái nhìn đến những cuộc thăm dò ý kiến và biểu tình. Chỉ riêng sự việc, rằng một phần đáng kể của giới sinh viên, tức là giới tinh hoa tương lai, tuyên bố chống chiến tranh, là đã khiến cho Johnson và các cố vấn của ông khó hiểu. Người Tổng thống, có định hướng đồng thuận và phụ thuộc vào sự chấp thuận một cách gần như là bệnh hoạn, cảm thấy cá nhân ông bị sỉ nhục vì con cái của những “người giỏi giang nhất và thông minh nhất” đã quay lưng lại với ông. Ông hoài công cố gắng bôi nhọ những nhà hoạt động của phong trào phản chiến và những người biểu tình hòa hoãn như là công cụ của chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Với sự giúp đỡ của cảnh sát liên bang (Federal Bureau of Investigation – FBI), ông để cho theo dõi hàng ngàn công dân Mỹ. Trong diễn tiến của cái được gọi là “Chiến dịch CHAOS” này, nhân viên FBI có nhiệm vụ kích động gây bất đồng ý kiến về tư tưởng hệ và chính trị giữa các tổ chức phản chiến khác nhau và gây chia rẻ phong trào. Ông cũng lôi cả CIA vào việc này. Lâu trước khi Nixon vướng vào trong những hoạt động bất hợp pháp, Johnson đã vi phạm luật lệ hiện hành và sử dụng tình báo hải ngoại cho các hoạt động trong nước. Sự nghi ngờ của ông về lòng trung thành ngay cả từ những nhân viên thân cận nhất, , được dấy lên bởi phong trào phản chiến, cuối cùng đã là nguyên nhân để Johnson cho lắp đặt micrô bí mật trong Tòa Nhà Trắng.

Cuộc Chiến tranh Việt Nam là đề tài thống lĩnh tất cả trong truyền thông và thảo luận công chúng. Cuộc chiến nào cũng có chống đối và đối lập. Nhưng lần đầu tiên trong lịch sử của nước Mỹ, một cuộc chiến ở nước ngoài đã chia cắt xã hội và xói mòn uy quyền của giới lãnh đạo. Vì vậy mà người Tổng thống bị bao vây đã gọi Tướng Westmoreland về Washington trong tháng Mười Một 1967. Với một bài diễn văn quốc gia, được đọc trước cả hai viện của Quốc Hội, ông có nhiệm vụ tạo can đảm cho người Mỹ và chỉ ra cho họ nhữung viễn cảnh đầy hy vọng. Trong ánh đèn chụp ảnh của các phóng viên, vị tướng tuyên bố rằng sau hơn hai năm chiến tranh, người cộng sản chẳng bao lâu nữa sẽ bị đánh bại. Ưu thế về vật chất của quân đội Mỹ mang tính đè bẹp, trước những tổn thất đó, đối phương không còn có thể chịu đựng được lâu nữa. Ông nhìn thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm”. Và ông thêm vào: “Tôi hy vọng là họ cố gắng làm một điều gì đó, vì chúng ta muốn có một trận đánh”.[5] Hà Nội sẽ thỏa mãn ý muốn của Westmoreland, ngay cả khi theo một cách khác với cách mà giới quân đội Mỹ đã hy vọng.

Marc Frey

Phan Ba dịch

Đọc những bài khác ở trang Lịch sử Chiến tranh Việt Nam

————————————————————-

[1] New York Times, 6/8/1967

[2] In trong America’s History. Documents Collection, do Douglas Bukowski, Stephen J. Kneeshaw và Louis S. Gertis phát hành, 2 tập, New York 1997, tập 2, trang 383.

[3] J. William Fulbright, The Arrogance of Power, New York 1966.

[4] Trích dẫn theo Christian C. Appy, Working-Class War. American Combat Soldiers and Vietnam, Chapel Hill/NC và London 1993, trang 299.

[5] Trích dẫn theo Lloyd C. Gardner, Pay Any Price. Lyndon Johnson and the Wars for Vietnam, Chicago 1995, trang 406.

Advertisements

One thought on “Dư luận, truyền thông và phong trào phản chiến

  1. Bài viết dài nhưng ko DÁM kêu tên “ai, thế lực” nào đạo diễn phong trào phản chiến thì bài này đáng bị gán nhãn “báo chí truyền thông dòng chính”.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s